Trước thềm năm mới, những lời kệ xuân của các bậc cao tăng thời Lý vang vọng, mang theo những chiêm nghiệm sâu sắc về lẽ sinh tử thay vì chỉ ca ngợi cảnh sắc. Thiền sư Chân Không đã khởi xướng dòng kệ này, đặt ra câu hỏi muôn thuở về kiếp người và sự hiện hữu, khơi gợi hành trình tìm kiếm câu trả lời tại chiasedaophat.com.
Lời Kệ Xuân của Thiền Sư Chân Không
Trong văn học Việt Nam, những bài thơ xuân đầu tiên còn lưu giữ đến ngày nay lại là những bài kệ xuân của ba vị Thiền sư thời nhà Lý (1009-1225): Chân Không, Mãn Giác và Giác Hải. Tuy mang tên gọi “kệ xuân”, chúng không miêu tả cảnh sắc, ý vị hay ảnh hưởng của mùa xuân đối với thiên nhiên và con người như các tác phẩm sau này. Thay vào đó, chúng là những bài kệ được sáng tác để trả lời một câu hỏi hoặc vào thời điểm tác giả sắp viên tịch. Các Thiền sư mượn cảnh xuân hoặc ý niệm về xuân để diễn tả các giáo lý Phật giáo, đặc biệt là vấn đề sinh tử.
Bài kệ xuân đầu tiên thuộc về Thiền sư Chân Không (946-1001). Con người thường mang trong mình nhiều thắc mắc, và sự băn khoăn về sinh tử là một trong những vấn đề lớn lao, chi phối nhiều tâm trí nhất. Từ thuở xa xưa, con người đã tự hỏi về nguồn gốc và đích đến sau khi chết, cũng như mục đích tồn tại trên cõi đời khi ai rồi cũng sẽ phải đối mặt với cái chết. Chính vì lẽ đó mà con người luôn mang tâm lý tham sống sợ chết, tìm mọi cách để kéo dài sự sống. Những nỗ lực tìm thuốc trường sinh bất tử của Tần Thủy Hoàng hay việc Hán Vũ Đế luyện kim đan đều là những minh chứng điển hình cho khát vọng này.
Ngay cả những người tu hành, vốn được cho là đã vượt thoát những chấp niệm thế tục, đôi khi cũng không tránh khỏi những băn khoăn về sinh tử. Một vị tăng đã từng đến hỏi Thiền sư Chân Không về số phận của thân xác sau khi hoại diệt. Thiền sư đã đáp lại bằng hai câu kệ:
Xuân lai xuân khứ nghi xuân tận,
Hoa lạc hoa khai chỉ thị xuân.
Hai câu kệ này đã được dịch sang tiếng Việt theo nhiều cách. Cố giáo sư Nguyễn Đăng Thục dịch là:
Xuân qua xuân lại ngờ xuân tận,
Hoa nở hoa tàn vẫn là xuân.
Thiền sư Thích Thanh-từ dịch tương tự:
Xuân đến, xuân đi ngỡ xuân hết,
Hoa nở hoa tàn chỉ là xuân.
Trong khi đó, Phạm Tú Châu lại chuyển ngữ theo thể lục bát:
Xuân qua lại, ngỡ xuân tận,
Hoa dù rụng nở, vẫn hoàn tiết xuân
Thiền sư Chân Không sử dụng hình ảnh mùa xuân đến rồi đi, hoa nở rồi tàn để truyền đạt một sự thật hiển nhiên: không nên cho rằng xuân đã chấm dứt khi nó qua đi, cũng như không nên nghĩ rằng xuân đã hết khi hoa tàn. Mùa xuân chỉ là một chu kỳ tuần hoàn, đến rồi đi, rồi lại đến, lặp lại từ thuở sơ khai đến tương lai vô tận. Xuân là một trạng thái tự nhiên bất biến, còn sự biến đổi của nó chỉ là quy luật tuần hoàn.
Tương tự, con người, dù bề ngoài có vẻ sinh ra, lớn lên và chết đi, nhưng đó chỉ là sự thay đổi của thân xác hữu hình, phù du. Đó là cái nhìn của phàm tục. Khi suy ngẫm sâu sắc hơn, thân xác chỉ là tổng hợp của các yếu tố vật chất như máu, thịt, xương, tủy, gân – những thứ không bền vững và dễ dàng hủy hoại. Đó không phải là bản chất thật của con người. Giống như mùa xuân luôn bất biến dù có đến và đi, con người thật, hay linh hồn, cũng tồn tại bất biến dù thân xác trải qua sinh lão bệnh tử và tiêu tan.
Vậy tại sao con người lại phải bận tâm đến sự mất còn, sự hoại diệt của thân xác? Chúng ta không nên bám chấp vào cái nhìn hạn hẹp để đánh giá thế gian. Thay vào đó, cần thanh lọc tâm mình để hòa nhập vào vũ trụ thiên nhiên. Như lời giáo sư Nguyễn Đăng Thục đã chỉ ra: “thực tại nguồn sống thường nhiên tiềm tàng linh động đằng sau hiện tượng thiên hình vạn trạng, hiện tượng hủy diệt biến đổi, ẩn hiện, mà cái nguồn sống đại đồng sinh sinh tự nhiên luôn luôn tồn tại, không có sống chết bất di bất dịch.”
Cần lưu ý rằng, câu thứ hai trong bài kệ của Thiền sư Chân Không, “Hoa lạc hoa khai chỉ thị xuân,” nếu dịch sát nghĩa đen sẽ là “Hoa rụng hoa nở chỉ là xuân.” Tuy nhiên, các bản dịch của giáo sư Nguyễn Đăng Thục (“Hoa nở hoa tàn vẫn là xuân”) và Phạm Tú Châu (“Hoa dù rụng nở, vẫn hoàn tiết xuân”) đã diễn tả ý niệm sâu sắc hơn. Từ “vẫn” trong các bản dịch này thể hiện rõ sự bất biến của mùa xuân, một trạng thái không thay đổi dù có những biến chuyển bên ngoài. Ngược lại, từ “chỉ” trong bản dịch của Thiền sư Thích Thanh-từ lại mang sắc thái ít khẳng định hơn, không lột tả hết ý niệm về sự vĩnh cửu của mùa xuân.

Xuân là một trạng thái thiên nhiên bất biến; còn sự đến và đi của xuân, cũng như sự nở và tàn của hoa, chỉ là một sự tuần hoàn thôi.
Lời Kệ Xuân của Thiền Sư Mãn Giác
Khi xuân sang, những người trẻ tuổi thường vui mừng đón nhận, kỳ vọng vào những điều mới mẻ, tốt đẹp mà năm cũ chưa có. Tuy nhiên, đối với nhiều người, đặc biệt là người lớn tuổi, mùa xuân lại mang đến cảm giác bi quan và yếm thế. Họ nhận thấy mỗi mùa xuân đến là thêm một tuổi, và xuân đến quá nhanh, khiến họ không kịp trở tay. Như lời Nguyễn Gia Thiều mô tả trong “Cung Oán Ngâm Khúc”, con người vừa mới chào đời đã phải đối mặt với quy luật khắc nghiệt của thời gian, và Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu lại cho rằng “cái già sồng sộc nó thì theo sau”.
Mỗi mùa xuân đến mang theo những biến đổi không ngừng của vũ trụ và cuộc sống. Con người, với sự nhỏ bé của mình, không thể nào ngăn chặn hay níu kéo những thay đổi ấy. Họ cảm thấy mình bị giam hãm trong một trái đất hữu hạn và một cuộc đời ngắn ngủi, trong khi thiên nhiên lại vô hạn vô biên, vô thủy vô chung. Điều này gợi nhớ đến lời than thở của Khổng Tử khi đứng bên dòng sông: “Trôi mãi như thế kia, ngày đêm không thôi!”, hay nỗi lòng của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”: “Trải qua một cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”
Đối diện với tâm trạng này, Thiền sư Mãn Giác (1051-1096) khuyên rằng mọi sự vật trong vũ trụ đều không vĩnh cửu. Sự bi quan này xuất phát từ việc con người tự đặt mình vào vị trí đối chiếu với vũ trụ, so sánh sự sống ngắn ngủi của mình với cái trường tồn, và đứng bên ngoài để quan sát thay vì hòa nhập vào vũ trụ thiên nhiên.

Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Bài kệ này đã được nhiều dịch giả chuyển ngữ sang tiếng Việt. Ngô Tất Tố dịch theo thể thơ tự do:
Xuân trỗi trăm hoa rụng
Xuân tới, trăm hoa cười.
Trước mắt, việc đi mãi,
Trên đầu, già đến rồi!
Đừng tưỏng xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua, sân trước, một cành mai.
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu dịch theo thể lục bát:
Xuân đi muôn vạn hoa tàn
Xuân về thắm lại ngập tràn những hoa
Việc đời thế sự đi qua
Trên đầu tuyết điểm một vài cọng sương
Chờ cho xuân hết hoa tàn
Đêm qua sân trước nở vàng cành mai
Thiền sư Thích Thanh Từ dịch:
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu, già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua – sân trước – một cành mai.
Lê Mạnh Thát dịch:
Xuân đi trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa cười.
Việc đời qua trước mắt,
Già đến trên đầu rồi !
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Ngoài sân đêm trước một cành mai.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Trong quan niệm của Thiền sư Mãn Giác, chúng ta không nên quá bi quan trước sự tuần hoàn của vũ trụ. Đừng quá bận tâm đến việc xuân đến hoa nở, xuân đi hoa tàn, hay sự đời trôi qua và cái già ập đến. Bởi lẽ, ngay cả khi xuân tàn, không phải tất cả hoa đều rụng hết. Đêm qua, trước sân đã có một cành mai nở rộ. Cành mai này tượng trưng cho sự bất sinh bất diệt của vũ trụ, một trạng thái mà con người có thể đạt tới thông qua tu luyện, vượt thoát vòng tuần hoàn của tự nhiên để hòa nhập vào cái vĩnh cửu.
Chúng ta không nên có thái độ như nhân vật trong bài thơ “Đăng U-châu Đài Ca” của Trần Tử Ngang:
Tiền bất kiến cổ nhân, Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du, Độc thương nhiên nhi thế hạ.
Bài thơ này đã được Trần Trọng San dịch sang tiếng Việt:
Ngoảnh lại trước: người xưa vắng vẻ;
Trông về sau: quạnh quẽ người sau.
Ngẫm hay trời đất dài lâu,
Mình ta rơi hạt lệ sầu chứa chan.
Nói cách khác, con người cần gạt bỏ sự phân biệt giữa nội tâm và thế giới bên ngoài, giữa bản thân và vũ trụ. Cần biết cảm thông, hòa nhập cái hữu hạn của đời mình vào cái vô hạn của vũ trụ, cái tạm bợ vào cái vĩnh cửu. Khi đạt được sự hòa hợp này, con người sẽ không còn bận tâm đến sinh tử, quá khứ hay tương lai, không còn lo âu về sự già nua, xuân tàn hay hoa rụng, bởi vì ngay trong sự tàn lụi đó đã có mầm sống mới hé nở.
Do đó, chúng ta chỉ nên tập trung vào sự hiện hữu vĩnh cửu, thường hằng của vũ trụ. Khi đó, mọi thứ trên thế gian này chỉ là huyễn ảo, không đáng để chúng ta phải quyến luyến.
Lời Kệ Xuân của Thiền Sư Giác Hải
Quan niệm về cuộc đời là huyễn ảo tiếp tục được nhấn mạnh trong bài kệ của Thiền sư Giác Hải (sống khoảng cuối thế kỷ 11, đầu thế kỷ 12):
Xuân lai hoa điệp thiện tri thì, Hoa điệp ứng tu cộng ứng kỳ.
Hoa điệp bản lai giai thị huyễn, Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.
Ngô Tất Tố đã dịch bài kệ này sang tiếng Việt:
Xuân sang hoa bướm khéo quen thì, Bướm lượn hoa cười vẫn đúng kỳ.
Nên biết bướm hoa đều huyền ảo, Thấy hoa mặc bướm, để lòng chi.
Lê Mạnh Thát dịch:
Xuân đến bướm hoa khéo biết thì, Cần nhau hoa bướm biết nhau khi.
Bướm hoa vốn thảy đều hư huyễn, Chớ đem hoa bướm giữ lòng chi.

Sự sống chết của con người đối với vũ trụ không khác gì hoa và bướm đối với mùa xuân. Hoa cũng như bướm vốn quen biết thời gian nên khi mùa xuân tới hoa sẽ nở và bướm sẽ lượn bay đúng kỳ hạn.
Sự sống và cái chết của con người trong vũ trụ cũng tương tự như hoa và bướm trong mùa xuân. Hoa và bướm tuân theo quy luật thời gian, nở rộ và bay lượn đúng dịp xuân về. Tuy nhiên, bản chất của hoa và bướm chỉ là huyễn ảo, không phải là thực thể vĩnh cửu. Do đó, con người không nên bận tâm đến chúng.
Tương tự, sự sống chết của con người cũng chỉ là một biểu hiện của nghiệp duyên. Khi nghiệp duyên còn, con người còn sống; khi nghiệp duyên hết, con người sẽ chết. Sự sống chết này cũng chỉ là cảnh huyễn ảo, không phải là bản chất thực của vũ trụ. Vì vậy, chúng ta không cần quá lo lắng hay bận tâm về sự sống hay cái chết của mình.
Tóm lại, ba bài kệ xuân của Thiền sư Chân Không, Mãn Giác và Giác Hải đều mượn cảnh xuân để chỉ dẫn con người con đường tự giải thoát khỏi khổ đau. Khổ đau này sinh ra từ sự lầm tưởng giữa cảnh và thực, sự tách biệt bản thân khỏi vũ trụ. Con đường giải thoát là nhận thức mọi sự vật xung quanh, kể cả thân xác mình, là huyễn ảo. Từ đó, ta không còn bận tâm đến sinh tử, sự hủy hoại thân xác hay bản chất phù du của cuộc đời. Thay vì cảm thấy cô đơn, bé nhỏ và bi quan, ta cần biết tham dự vào vòng tuần hoàn của vũ trụ, hòa nhập vào sự vĩnh cửu của tự nhiên.
Chú Thích:
(1) Nguyễn-Đăng-Thục, Thiền Học Việt Nam, Lá Bối, Sài-gòn, 1967, Xuân Thu, Los Alamitos, California, in lại (không ghi năm in lại), tr. 325.
Khám phá sâu hơn về triết lý sâu sắc đằng sau những tuyệt tác kệ xuân này và hành trình tìm về bản ngã trong Đạo phật.
