Hòa thượng Giới Nghiêm: Cuộc đời và Di sản của một bậc Tôn túc

ht gioi nghiem 1506 1
0
(0)

Từ một gia đình danh giá với truyền thống tâm linh sâu dày, hành trình giác ngộ của bậc tôn túc Giới Nghiêm đã đưa ngài vượt qua những biến động lịch sử và tìm về cội nguồn Chánh pháp Nguyên thủy. Với sự dẫn dắt của Website Chia sẻ Đạo Phật, chúng ta sẽ cùng khám phá con đường tu học đầy ý chí, từ giới Sa-di đến việc thụ giới Tỳ-kheo tại Campuchia và Thái Lan, hé mở về một di sản tâm linh vĩ đại.

Tiểu sử Hòa thượng Giới Nghiêm

Hòa thượng Thích Giới Nghiêm (Thitasìlamahathera), thế danh Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921 tại làng Giạ Lê Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Ngài xuất thân trong một gia đình có truyền thống đạo đức lâu đời, nơi sản sinh nhiều tu sĩ và cao tăng thuộc cả hai truyền thừa Nam Bắc Tông. Cha ngài, Hòa thượng Thích Quang Diệu (Nguyễn Đình Tải), sau khi lập gia đình với bà Huỳnh Thị Thành, cũng đã xuất gia.

Tôn dung Hòa thượng Giới Nghiêm

Tôn dung HT Giới Nghiêm.

Hành trình tu học ban đầu

Năm chín tuổi, Ngài tìm đến một ngôi chùa hẻo lánh thuộc làng Bãng Lãng để tu học và thọ giới Sa-di. Năm 1940, do chiến tranh loạn lạc tại quê nhà, Ngài vào Đà Nẵng, xin cư trú tại chùa Phổ Đà. Tại đây, Ngài thọ Đại Giới đàn Tỳ kheo theo hệ phái Bắc truyền.

Tìm về Chánh pháp Nguyên thủy

Khi Phật giáo Nam Tông (Theravàda) bắt đầu du nhập vào Việt Nam, Ngài có cơ hội nghiên cứu giáo lý Nguyên thủy. Với tâm cơ linh mẫn và túc duyên sâu dày, Ngài nhận định đây chính là Chánh pháp chân truyền, không pha tạp.

Du học và thụ giới tại Campuchia, Thái Lan, Miến Điện

Năm 1944, Ngài được thiện hữu tri thức giúp đỡ sang du học tại Phnôm-pênh, Campuchia. Năm 1947, Ngài được Hòa thượng Niếp-Tích truyền giới Tỳ-kheo (Bhikkhu) theo truyền thống Nam Tông. Ngài còn có duyên học đạo với Trưởng lão Hòa thượng Chuon-Natch, Đức Vua Sãi Campuchia.

Với lòng hiếu học và tu tập, Ngài tiếp tục sang Thái Lan và Miến Điện để tầm sư học đạo. Tại Miến Điện, Ngài được học Thiền Tứ Niệm Xứ với Hòa thượng Thiền sư Mahasì Sayàdaw.

Sau hơn mười năm bôn ba nơi xứ người tầm cầu Chánh pháp, Ngài hồi hương với chí nguyện hoằng truyền giáo lý Nguyên thủy sâu rộng tại Việt Nam.

Khám phá: Thái Cực Của Cuộc Sống: Khi "Quá" Trở Thành Gánh Nặng

Sự nghiệp hoằng pháp và phụng sự Giáo hội

Thành lập Giáo hội Tăng Già Phật giáo Nguyên thủy (Theravàda) Việt Nam

Năm 1957, tại Sài Gòn – Gia Định, Ngài cùng các vị trưởng lão cao tăng khác như Hòa thượng Hộ Tông, Hòa thượng Bửu Chơn, Hòa thượng Thiện Luật, Hòa thượng Tối Thắng, Hòa thượng Giác Quang, Hòa thượng Kim Quang, và Pháp sư Thông-Kham đã vận động thành lập Giáo hội Tăng Già Phật giáo Nguyên thủy (Theravàda) Việt Nam.

Vai trò lãnh đạo và các hoạt động Phật sự

  • Năm 1963, trong phong trào đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô triều, Ngài bị bắt tại Sơn Trà – Đà Nẵng.
  • Sau khi chế độ Ngô sụp đổ, Ngài được bầu làm Tăng thống Giáo hội Tăng Già Nguyên thủy Việt Nam liên tiếp bốn nhiệm kỳ (1964-1974).
  • Năm 1966, Ngài phát động phong trào chống chế độ lao tù tại các nhà giam Mỹ Thị (Đà Nẵng) và Gành Ráng (Quy Nhơn).
  • Năm 1975, Ngài tham gia Ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh, giữ chức vụ Phó Chủ tịch.
  • Năm 1979, Ngài tái đắc cử Tăng thống Giáo hội Tăng Già Nguyên thủy Việt Nam. Cùng năm, Ngài tham gia phái đoàn lãnh đạo Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam sang Campuchia để hỗ trợ phục hồi Phật giáo nước này sau thời kỳ Pôn-Pốt.
  • Năm 1980, Ngài tham gia Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam với tư cách Phó Trưởng ban.
  • Năm 1981, khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, Ngài được thỉnh vào Hội đồng Chứng minh và đề cử làm Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự.
  • Ngài còn tham dự nhiều Hội nghị Quốc tế về Phật giáo, đặc biệt là Hội nghị Kết tập Tam Tạng lần thứ sáu tại Rangoon, Miến Điện.

Sự nghiệp giáo dục và hoằng pháp

Thành lập các cơ sở đào tạo và thiền viện

  • Ngài mở Phật học viện Sơ cấp tại chùa Tam Bảo, Đà Nẵng.
  • Tại chùa Tháp, Ngài tổ chức nhiều khóa thiền hướng dẫn Tăng, Ni và Phật tử.
  • Tại Núi Lớn, Vũng Tàu, Ngài khai sơn một “rừng thiền” giữa thiên nhiên, dành cho hành giả chuyên tu Tứ Niệm Xứ. Nơi đây có hàng trăm cốc liêu và là địa điểm hành giả thập phương vân tập về an cư và tham gia các khóa thiền dài hạn.
  • Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ngài mở Phật học viện Trung cấp tại chùa Phật Bảo, đào tạo nhiều Tăng tài cho Hệ phái Nam Tông.

Sau năm 1975, Ngài tiếp tục mở nhiều khóa thiền tại chùa Phật Bảo và thường xuyên lui tới các chùa để sách tấn Tứ chúng tinh tấn tu niệm.

Sự nghiệp kiến thiết tự viện

Trong sứ mạng hoằng truyền Chánh pháp, Ngài đã đóng góp xây dựng hoặc chủ trì xây dựng mười sáu ngôi chùa tại nhiều tỉnh thành:

  • Huế: Định Quang Tự (Giạ Lê), Tăng Quang Tự (Gia Hội).
  • Đà Nẵng: Tam Bảo Tự (Tổ đình Phật giáo Nam tông miền Trung).
  • Hội An: Nam Quang Tự.
  • Quảng Ngãi: Tăng Bảo Tự.
  • Quy Nhơn: Huệ Quang Tự (Quy Nhơn), Phước Quang Tự (Bình Định).
  • Nha Trang: Như Ý Tự.
  • Phan Thiết: Bình Long Tự.
  • Đà Lạt: Bửu Sơn Tự, Pháp Quân Tự.
  • Mỹ Tho: Pháp Bảo Tự.
  • Biên Hòa: Phước Sơn Tự.
  • Bà Rịa – Vũng Tàu: Tam Bảo Thiền Viện.
  • Thành phố Hồ Chí Minh: Phật Bảo Tự, Diệu Quang Tự (dành cho Tu nữ).

Sự nghiệp phiên dịch và trước tác

Các tác phẩm đã xuất bản

  • Hạnh Phúc Kinh
  • Tiểu Sử Phật Thích Ca
  • Giải về Kiếp
  • Thiền Tứ Niệm Xứ
  • Giải về Bạn
  • Mi Tiên Vấn Đáp (Quyển I, II, III)
  • Pháp Đoàn Kết
  • Giải Thoát Giáo
  • Giải về Cõi Trời
  • Phật Bổn Sanh
  • Giải về Lửa
  • Dạ Xoa Hỏi Phật
  • Nhà của Tâm
  • Vô Ấn Tượng Pháp
  • Kinh Ổ Mối
  • Vi Diệu Pháp Vấn Đáp
  • Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Bồ-đề
  • Pháp Số Giảng Giải
  • Vi Diệu Pháp Vắn Tắt
  • Tam Tạng (Quyển 1, 2, 3, 4)
  • Tam Tạng (Quyển 40, 41)

Đệ tử và di sản

Hòa thượng có số lượng đệ tử xuất gia đông đảo nhất trong Phật giáo Nam Tông. Nhiều đệ tử của Ngài đã thành danh và đang hoằng pháp ở nước ngoài như Mỹ, Pháp (ví dụ: Hòa thượng Tiến sĩ Pháp Nhẫn, Thượng tọa Tịnh Đức, Thượng tọa Chơn Trí, Thượng tọa Đức Minh). Tại Việt Nam, nhiều đệ tử của Ngài đã trở thành những bậc trưởng lão uyên thâm, đạo cao đức trọng (ví dụ: Hòa thượng Hộ Nhẫn, cố Hòa thượng Pháp Tri, HT Viên Minh, Thượng tọa Tâm Hỷ, Thượng tọa Hộ Chơn).

Viên tịch

Năm 1984, sau một thời gian lâm trọng bệnh, mặc dù đã được các y bác sĩ và sự quan tâm của Giáo hội, chính quyền tận tình cứu chữa, Ngài đã an nhiên thị tịch vào lúc 10:30 ngày 13 tháng 7 năm Giáp Tý (tức ngày 9 tháng 8 năm 1984) tại chùa Phật Bảo, hưởng thọ 63 tuổi.

Để tưởng nhớ công đức và thể hiện lòng tri ân, các đệ tử đã đóng góp xây dựng ngôi Bảo tháp tại chùa Phật Bảo để tôn trí di cốt của Ngài. Hàng năm, vào dịp Vu Lan Báo Hiếu, Tăng tín đồ Phật giáo Nam Tông và Giáo hội Phật giáo Việt Nam đều tổ chức lễ tưởng niệm Ngài, một vị trưởng lão sáng lập Hệ phái Tăng Già Nguyên thủy Việt Nam, một thiền sư đạo hạnh, một bậc thầy từ hòa, một cao tăng nhiệt thành trong hàng Giáo phẩm Tôn túc.

Xem thêm: Kỷ Tỵ 1989: Tháng 12 Âm 2024 – Vận May Sự Nghiệp, Tài Lộc Bứt Phá?

Dù Ngài đã viên tịch, nhưng những đóng góp to lớn của Ngài cho Chánh pháp, cho xã hội và cho môn đồ vẫn còn mãi, là bóng mát che chở cho các ngôi già lam mà Ngài đã dày công kiến tạo và giáo huấn.

Nguyện cầu cho công hạnh ba-la-mật của Ngài sớm được viên mãn.

Tìm hiểu thêm: 1994: Tuổi vàng kết duyên, nhà sang đón vận may

Cẩn bút,
Đệ tử, Tỳ-khưu Chánh Niệm (Nguyễn Đình Pháp)
Trụ trì chùa Phật Bảo.

Những đóng góp to lớn của Hòa thượng Giới Nghiêm cho Phật giáo và xã hội vẫn còn vang vọng, mời bạn khám phá sâu hơn về Đạo phật qua những câu chuyện ý nghĩa.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang