Như Lý Tác Ý: Bí Quyết Cho Cuộc Sống An Nhiên

0
(0)

Cuộc sống an nhiên không chỉ là mơ ước mà còn là một nghệ thuật, đòi hỏi sự rèn luyện tâm trí mỗi ngày. Hiểu rõ cách thức ý thức vận hành và phân biệt giữa suy nghĩ đúng đắn và sai lầm sẽ giúp chúng ta kiến tạo nên sự bình an nội tại. Khám phá bí quyết dẫn dắt tâm trí đi đúng hướng tại Chiasedaophat để mở ra cánh cửa đến một cuộc sống tràn đầy chánh niệm và hạnh phúc.

Theo quan niệm Phật giáo, ý thức phát sinh và hoạt động khi các giác quan tiếp xúc với đối tượng tương ứng. Quá trình này được gọi là tác ý hoặc tâm sinh. Tác ý thường biểu hiện theo hai hướng: thiện hoặc bất thiện, tùy thuộc vào nghiệp thức và tập khí cá nhân.

Đối với những người chưa được học sâu giáo pháp Phật hoặc có khuynh hướng nặng về tham, sân, si, ý thức có thể phát sinh theo hướng tà kiến, dẫn đến sự tăng trưởng của các pháp bất thiện. Hiện tượng này được gọi là phi như lý tác ý (ayoniso manasikàra), hay tâm đặt sai hướng.

Ngược lại, những người học tập và thực hành sâu giáo pháp Phật, hoặc có tâm thức ít bị chi phối bởi tham, sân, si, sẽ có ý thức sinh khởi theo hướng chính kiến, thúc đẩy sự phát triển của các thiện pháp. Đây là như lý tác ý (yoniso manasikàra), hay tâm đặt đúng hướng. Như lý tác ý được xem là sự tác ý đúng pháp, đúng tinh thần lời Phật dạy, có khả năng đoạn trừ các lậu hoặc và chấm dứt khổ đau. Sự khác biệt trong cách tác ý này là lý do Phật giáo chủ trương thực hành như lý tác ý.

Như lý tác ý 1
  Ảnh minh họa

Bản chất của Như lý tác ý

Như lý tác ý là việc nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng đúng với bản chất của chúng: duyên sinh, vô thường, khổ và vô ngã. Mọi thứ đều sinh khởi do duyên, luôn biến đổi, mang bản chất khổ đau và không ai có thể làm chủ tuyệt đối. Khi nhận thức sự vật, hiện tượng theo cách này, đó chính là yoniso mansikàra.

Cách tác ý này dẫn đến sự vận hành của chánh tư duy, dòng tư tưởng đúng đắn và hiền thiện, bao gồm:

  • Ly dục tư duy: Dòng tư tưởng trong sáng, không bị chi phối bởi tham dục hay ham muốn vị kỷ.
  • Vô sân tư duy: Dòng tư tưởng không bị ám ảnh bởi sự bất mãn, giận dữ hay phiền muộn.
  • Bất hại tư duy: Dòng tư tưởng chân chính, trong sáng, không rơi vào tà kiến, không gây hại cho bản thân và người khác.

Nói cách khác, đây là dòng tư duy không bị tham, sân, si ám ảnh, nhờ thực hành như lý tác ý và nhìn nhận các pháp đúng như bản chất duyên sinh, vô thường, khổ, vô ngã của chúng.

Phân biệt phản ứng tâm thức và cách nhìn đúng pháp

Thông thường, khi các giác quan tiếp xúc với đối tượng, tâm thức có hai phản ứng chính: hân hoan thích thú (thuận ứng) hoặc giận dữ bực phiền (nghịch ứng). Những phản ứng này, do si mê mà có, được xem là nhân tố trói buộc dẫn đến khổ đau. Thuận ứng liên quan đến tham, nuôi lớn tâm tham dục; nghịch ứng liên quan đến sân, nuôi dưỡng tâm sân hận.

Ví dụ, khi mắt thấy một cảnh vật khả ái, người bình thường chưa thực hành lời Phật dạy có thể sinh tâm thích thú hoặc bực bội nếu cảnh vật không như ý. Nguyên nhân là do họ chưa thực hành như lý tác ý, chưa nhận diện cảnh vật là vô thường, khổ, vô ngã. Do đó, tâm họ bị tham hoặc sân chi phối, dẫn đến suy nghĩ và hành động sai lầm, gây hại cho mình và người.

Ngược lại, người đã hành trì lời Phật dạy, quen với cách nhìn sự vật, hiện tượng đúng như lời chỉ dạy của bậc Đạo sư (vô thường, khổ, vô ngã), sẽ không bị dao động tâm thức dù đối diện với cảnh vật khả ái hay không khả ái. Họ không rơi vào tham ái hay bực phiền, không có những suy nghĩ hay hành động sai lầm. Cách sống này được gọi là không thiên vị, không tham ái, không chấp trước, dẫn đến tự do và giải thoát.

Kinh điển mô tả: “Này Thiên chủ, nếu Tỳ-kheo được nghe như sau: ‘Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp’, vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tính vô thường, sống quán tính ly tham, sống quán tính đoạn diệt, sống quán tính xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tính vô thường, sống quán tính ly tham, sống quán tính đoạn diệt, sống quán tính xả ly trong các cảm thọ ấy, nên không chấp trước một vật gì ở đời; do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết bàn. Vị ấy tuệ tri: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa.’”

Lợi ích và phương pháp thực hành Như lý tác ý

Nhờ như lý tác ý, tức là quán sát đúng đắn mọi hiện tượng tâm lý và vật lý, tâm thức con người dần trở nên trong sáng, hiền thiện, tỉnh táo và sáng suốt. Tâm không còn rơi vào các cực đoan, không bị ảnh hưởng bởi các cấu uế bất thiện như dục, sân, hại, tham, sân, si.

Nói cách khác, bằng cách nhìn nhận các pháp đúng như lời Phật dạy – chúng đều do duyên sinh, vô thường, khổ, vô ngã – tâm thức trở nên định tĩnh, quân bình, không dao động, không thiên vị, không ái luyến, không chấp trước. Điều này dẫn đến sự thanh thản, tự do và giải thoát.

Về phương pháp thực hành, kinh Sabbàsava Trung Bộ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thân cận các bậc Thánh nhân để học tập Phật pháp thuần thục. Nhờ thường xuyên học tập, vị Thánh đệ tử biết rõ những gì cần tác ý và những gì không nên tác ý. Vị ấy không để tâm duyên theo vọng tưởng về tự ngã, quá khứ, vị lai hay hiện tại, tránh rơi vào tà kiến hay ngã chấp.

Thay vào đó, vị ấy tập trung tác ý vào thực tại khổ đau của ngũ uẩn, xem xét nguyên nhân của khổ đau, lý do đoạn diệt và con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ đau. Bằng cách hành trì đúng pháp, khéo tác ý về khổ, khổ tập, khổ diệt và con đường đưa đến khổ diệt, vị Thánh đệ tử diệt trừ được các kiết sử như thân kiến, nghi, giới cấm thủ – những trói buộc phát sinh do chấp ngã, nghi ngờ và chấp trước vào các pháp tu sai lầm.

Kinh ghi lại: “Này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, được thấy các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh; được thấy các bậc chân nhân, thuần thục pháp các bậc chân nhân, tu tập pháp các bậc chân nhân, tuệ tri các pháp cần phải tác ý, tuệ tri các pháp không cần phải tác ý. Vị này, nhờ tuệ tri các pháp cần phải tác ý, nhờ tuệ tri các pháp không cần phải tác ý, nên không tác ý các pháp không cần phải tác ý và tác ý các pháp cần phải tác ý. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp không cần phải tác ý và vị này không tác ý? Này các Tỳ-kheo, những pháp nào do tác ý mà dục lậu chưa sanh được sinh khởi, hay dục lậu đã sinh được tăng trưởng; hay hữu lậu… Hay vô minh lậu chưa sinh được khởi, hay vô minh lậu đã sinh được tăng trưởng. Đó là những pháp không nên tác ý và vị ấy không tác ý. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý? Này các Tỷ-kheo, những pháp nào do tác ý mà dục lậu chưa sinh không sinh khởi, hay dục lậu đã sinh được trừ diệt, hay hữu lậu… Hay vô minh lậu chưa sinh không sinh khởi, hay vô minh lậu đã sinh được trừ diệt, đó là những pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý. Nhờ vị ấy không tác ý các pháp không cần phải tác ý, tác ý các pháp cần phải tác ý nên các lậu hoặc chưa sinh không sinh khởi và các lậu hoặc đã sinh được trừ diệt. Vị ấy như lý tác ý: ‘Đây là khổ,’ như lý tác ý: ‘Đây là khổ tập,’ như lý tác ý: ‘Đây là khổ diệt,’ như lý tác ý: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt.’ Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ.”

Nhìn chung, như lý tác ý là một pháp môn tu tập quan trọng, giúp tâm thức tiến triển. Pháp môn này giúp tâm tránh rơi vào vọng tưởng, tà kiến, chỉ chuyên chú vào thực tại khổ đau của ngũ uẩn để tu tập, từng bước thoát khỏi khổ đau. Đồng thời, nó giúp tâm thức vận hành đúng đắn, nhận rõ các pháp là duyên sinh, vô thường, khổ, vô ngã, từ đó rời bỏ tham ái, chấp thủ và thực nghiệm tâm giải thoát.

Việc thường xuyên thực hành như lý tác ý giúp tâm thức trở nên chuyên nhất, định tĩnh, giảm vọng động, tán loạn, trở nên tỉnh giác, sáng suốt. Tâm có khả năng thấy rõ sự thật duyên sinh, vô thường, khổ, vô ngã của vạn vật, dẫn đến tâm giải thoát theo trình tự “nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn” như đã mô tả trong các kinh điển Pàli.

Chú thích:

Kinh Nên hành trì, không nên hành trì, Trung Bộ.
Kinh Song tầm, Trung Bộ.
Kinh Tất cả lậu hoặc, Trung Bộ.
Kinh Tâm đặt sai hướng, Tăng Chi Bộ.
Kinh Tất cả lậu hoặc, Trung Bộ.
Kinh Tâm đặt sai hướng, Tăng Chi Bộ.
Tiểu kinh Đoạn tận ái, Trung Bộ.
Kinh Tất cả lậu hoặc, Trung Bộ.

Kim Nguyên
Nguồn: http://hoavouu.com/p23a40294/3/nhu-ly-tac-y#plist

Để hiểu sâu hơn về con đường dẫn đến sự an nhiên và giải thoát, hãy khám phá thêm những kiến thức quý báu trong chuyên mục Đạo phật.

Xem thêm: Dấu Ấn Niết Bàn: Nơi Ngài Rời Xa Trần Thế, Để Lại Di Sản Vô Giá

Tìm hiểu thêm: Khám phá phép màu chuyển hóa: Sức mạnh diệu kỳ từ hành động thiện lành

Khám phá: Giải Thoát Vô Lượng Khổ Đau: Kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni Vô Giá

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang