Hành trình thời gian trong Phật giáo hé mở về những bậc giác ngộ đã xuất hiện từ vô lượng kiếp trước. Khám phá câu chuyện về bảy vị Phật thuộc Trang Nghiêm kiếp để hiểu sâu hơn về dòng chảy lịch sử tâm linh và tìm thấy sự hướng dẫn tại chiasedaophat.com.
Lịch sử về chư Phật trong quá khứ được ghi chép trong nhiều kinh điển Phật giáo như Tạp A-hàm, Trường A-hàm, Đại Bản, Tăng Nhất A-hàm, Hiền Kiếp, Thất Phật Phụ Mẫu Tự Tính Tự, Thất Phật, Phật Bản Hạnh Kinh Tập, Hữu Bộ Tì-nại-da Phá Tăng Sự, Du Hành Bản Khởi. Những kinh điển này cung cấp thông tin chi tiết về thân thế, sự ra đời, dòng dõi, cha mẹ, vợ con, các vị đệ tử, thị giả, nơi ở, đạo tràng và những buổi thuyết pháp đầu tiên của các Ngài.
Khái niệm về “quá khứ” trong Phật giáo được giải thích sâu sắc trong Tạp Dị Môn Túc Luận, nhấn mạnh rằng đó là những sự vật, hiện tượng đã khởi lên, đã sinh, đã chuyển, đã nhóm họp, đã xuất hiện, rồi diệt hết và biến đổi, thuộc về một thời đại đã qua.
Các vị Phật trong quá khứ thuộc về các kiếp khác nhau. Vũ trụ được chia thành ba loại kiếp: Đại kiếp, Trung kiếp và Tiểu kiếp. Đại kiếp hiện tại là Hiền kiếp, Đại kiếp quá khứ là Trang Nghiêm kiếp, và Đại kiếp vị lai là Tinh Tú kiếp. Mỗi đại kiếp có 1.000 vị Phật giáng thế. Bảy vị Phật được đề cập dưới đây đều thuộc về Trang Nghiêm kiếp, xuất hiện lần lượt từ đầu kiếp thứ 91 trở đi, khi tuổi thọ con người giảm dần từ 80.000 tuổi, 70.000 tuổi, cho đến khoảng thế kỷ 4-5 trước Công nguyên với sự ra đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Vào giai đoạn đầu khi chư Phật xuất hiện, các đệ tử thường có tâm thanh tịnh. Lời dạy của chư Phật lúc bấy giờ thường cô đọng trong một bài kệ ngắn, giúp đệ tử nhanh chóng tu hành và chứng quả. Nội dung cốt lõi của những lời dạy này là luôn hướng con người đoạn trừ ác nghiệp, thực hành các điều thiện qua thân, khẩu, ý trong mọi hoàn cảnh đối nhân xử thế.
Kinh Tăng Nhất A-hàm (Phẩm Tự) giải thích ý nghĩa này một cách súc tích: “Nghĩa của Tứ-hàm thì trong một bài kệ đều có đầy đủ giáo pháp của chư Phật và giáo pháp của Bích-chi-phật, Thanh văn. Sở dĩ như vậy là vì các điều ác đừng làm thì cấm giới đầy đủ, đạo hạnh thanh bạch; Còn tuân thủ làm các điều thiện thì tâm ý thanh tịnh, tự lòng mình trong sáng, đoạn trừ tà kiến điên đảo, đó là lời chư Phật dạy, trừ bỏ ngu hoặc”.
Bảy Vị Phật Trong Quá Khứ (Nguyên Thủy Thất Phật)
Dưới đây là thông tin chi tiết về bảy vị Phật trong quá khứ, thường được gọi là Nguyên Thủy Thất Phật:
1. Tỳ Bà Thi Phật
Ngài nhập Niết Bàn cách đây chín mươi mốt kiếp, thọ tám vạn tuổi. Tỳ Bà Thi Phật còn có tên là Duy Vệ, trị vì đất nước Sát-mạt-đề. Vị thị giả của Ngài là A-thâu-ca. Trong ba hội thuyết pháp, Ngài đã độ cho 62.000, 100.000 và 70.000 vị Tỳ-kheo chứng quả A-la-hán.
Giới Kệ:
Nhẫn nhục vi đệ nhất
Phật thuyết vô vi tối
Bất dĩ thế tu phát
Hại tha vi sa-môn
Tạm dịch:
Nhẫn nhục là điều quan trọng nhất,
Niết Bàn là cảnh giới tối thượng.
Xuất gia mà làm hại người khác,
Không xứng đáng là bậc Sa-môn.

Tỳ Bà Thi Phật
2. Thi Khí Phật
Ngài nhập Niết Bàn cách đây ba mươi mốt kiếp, thọ bảy vạn tuổi. Thi Khí Phật còn được gọi là Phật Thức, trị vì đất nước A Lâu Na Hòa Đề. Vị thị giả của Ngài là Sát-ma-ca-rô. Trong ba hội thuyết pháp, Ngài đã độ cho 100.000, 80 ức và 70.000 vị Tỳ-kheo chứng quả.
Giới kệ:
Nhược nhãn kiến phi tà
Tọa sàng diệc phục nhiên
Chấp chí vi chuyên nhất
Thị tắc chư Phật giáo
Dịch nghĩa:
Nếu mắt thấy điều sai quấy,
Chỗ nằm, chỗ ngồi cũng như vậy.
Giữ vững tâm ý chuyên nhất,
Đó là lời dạy của chư Phật.

Thi Khí Phật
3. Tỳ Xá Phù Phật
Ngài nhập Niết Bàn cách đây ba mươi mốt kiếp, thọ sáu vạn tuổi. Tỳ Xá Phù Phật còn có tên là Tùy Diệp, trị vì đất nước A-nâu-ưu-ma. Vị thị giả của Ngài là Ô-ba-phiến-đổ. Trong ba hội thuyết pháp, Ngài đã độ cho 80.000, 70.000 và 60.000 vị Tỳ-kheo chứng quả.
Giới kệ:
Bất hại diệc bất phi
Phụng hành ư đại giới
Ư thực tri chỉ túc
Tọa sang diệc phục nhiên
Chấp chí vi chuyên nhất
Thị tắc chư Phật giáo
Tạm dịch:
Không làm hại, không làm sai trái,
Luôn tuân giữ các giới luật lớn.
Trong ăn uống biết dừng lại đúng mức,
Chỗ nằm ngồi cũng vậy.
Giữ vững tâm ý chuyên nhất,
Đó là lời dạy của chư Phật.

Tỳ Xá Phù Phật
4. Câu Lưu Tôn Phật
Ngài xuất hiện trong kiếp Hiền, thọ bốn vạn tuổi. Câu Lưu Tôn Phật còn có tên là Câu Lâu Tần, trị vì đất nước Luân-ha-lợi-đề-na. Vị thị giả của Ngài là Một-đề-du. Trong một hội thuyết pháp, Ngài đã độ cho bốn vạn vị Tỳ-kheo chứng quả A-la-hán.
Giới kệ:
Thí như phong thái hoa
Kỳ sắc thậm hương khiết
Dĩ vị huệ thí tha
Đạo sĩ du tụ lạc
Bất phỉ báng ư nhân
Diệc bất quán thị phi
Đản tự quán thân hành
Đế quán chánh bất chánh
Tạm dịch:
Như ong hút mật hoa,
Hương sắc hoa càng thêm phần tinh khiết.
Đem vị ngọt ban cho người khác.
Tỳ kheo vào làng xóm,
Không phỉ báng một ai,
Cũng không để ý đến thị phi.
Chỉ tự mình quan sát hành vi thân thể,
Suy xét kỹ lưỡng xem có chính đáng hay không.

5. Câu Na Hàm Mâu Ni Phật
Ngài xuất hiện trong kiếp thứ bảy, thọ ba vạn tuổi. Ngài trị vì đất nước Sai-ma-việt-đề. Vị thị giả của Ngài là To-rô-đế-lý-dã. Trong một hội thuyết pháp, Ngài đã độ cho ba vạn vị Tỳ-kheo chứng quả A-la-hán.
Giới kệ:
Chấp chí mạc khinh hý
Đương học tôn tịch đạo
Hiền giả vô sầu ưu
Đương diệt chí sở niệm
Tạm dịch:
Giữ vững tâm ý, chớ xem thường hay đùa cợt,
Cần học theo đạo tịch diệt tôn quý.
Người hiền trí không sầu lo,
Quyết tâm diệt trừ những gì tâm niệm.

6. Ca Diếp Phật
Ngài xuất hiện trong kiếp thứ tám, thọ hai vạn tuổi. Ngài trị vì đất nước Ba-la-tư. Vị thị giả của Ngài là Tát-lý-phược mật-đát-la. Trong một hội thuyết pháp, Ngài đã độ cho hai vạn vị Tỳ-kheo chứng quả A-la-hán.
Giới kệ:
Nhất thiết ác mạc tác
Đương phụng hành kỳ thiện
Tự tịnh kỳ chí ý
Thị tắc chư Phật giáo
Tạm dịch:
Không làm bất kỳ điều ác nào,
Hãy vâng theo và thực hành các điều thiện.
Tự mình thanh tịnh hóa tâm ý,
Đó là lời dạy của chư Phật.

7. Thích Ca Mâu Ni Phật
Ngài xuất hiện trong kiếp thứ chín, thọ trên dưới 100 tuổi (theo kinh điển, Ngài nhập Niết Bàn ở tuổi 80). Ngài trị vì đất nước Ca-duy-la-vệ. Vị thị giả của Ngài là A-nan-đà. Trong một hội thuyết pháp, Ngài đã độ cho một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo chứng quả A-la-hán. Nếu tính thêm vị Phật tương lai là Di Lặc, chúng ta có tổng cộng tám vị Phật đã và sẽ thị hiện ở cõi Ta bà này.
Giới kệ:
Hộ khẩu ý thanh tịnh
Thân hành diệc thanh tịnh
Tịnh thử tam hành tích
Tu hành tiên nhân đạo
Tạm dịch:
Giữ gìn lời nói, ý nghiệp thanh tịnh,
Hành động thân cũng thanh tịnh.
Ba nghiệp thanh tịnh như vậy,
Là con đường tu hành của bậc Thánh nhân.

Giới Bồ Tát cũng được hình thành từ bảy bài kệ trên, thể hiện rõ tinh thần Tam Tụ Tịnh Giới: Nhiếp luật nghi giới (không làm điều ác), Nhiếp thiện pháp giới (làm tất cả điều thiện), và Nhiêu ích hữu tình giới (làm lợi ích cho chúng sinh). Như vậy, bảy bài kệ giới của chư Phật quá khứ là nền tảng giới luật căn bản của Phật giáo, áp dụng cho cả người xuất gia và tại gia.
Để kết lại, xin trích dẫn bài kệ từ Luật Tỳ-kheo thuộc Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, được xem là Giới Kinh mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đúc kết sau khi Thành đạo:
Tỳ-bát, Thí-thức Khí,
Tỳ-xá, Câu-lưu-tôn,
Yết-nặc-ca Mâu-ni,
Ca-diếp, Thích-ca Tôn.
Như vậy, các bậc Vô Thượng Điều Ngự,
Bảy vị Phật đều uy mãnh,
Có khả năng cứu hộ thế gian.
Với đại danh xưng đầy đủ,
Đều nói lên Giới kinh này.
Chư Phật và các đệ tử,
Đều cùng tôn kính giới luật.
Do cung kính Giới kinh này,
Chứng đắc quả Vô Thượng.
Mọi người nên cầu xuất ly,
Siêng năng tu tập trong Phật giáo.
Hàng phục quân tham ái, sân hận, si mê,
Như voi phá nhà cỏ.
Trong pháp luật này,
Thường xuyên tu tập không phóng dật,
Làm khô cạn biển phiền não,
Sẽ vượt qua mọi khổ đau.
Như Giới kinh đã nói,
Hòa hợp để tăng trưởng sự thanh tịnh,
Phải cùng nhau tôn kính giới luật,
Như trâu quý tiếc chiếc đuôi của mình.
Tôi đã nói Giới kinh này,
Cầu mong Tăng chúng tăng trưởng sự thanh tịnh.
Phước lợi cho tất cả chúng sinh,
Đều trọn thành Phật Đạo.

Hình tượng 7 vị Phật tại Quần thể hang động Ajanta, Ấn Độ.
Trong ba kiếp quá khứ, hiện tại và vị lai, mỗi kiếp đều có hàng ngàn vị Phật giáng thế. Tuy nhiên, đại diện thường được nhắc đến cho các vị Phật quá khứ là Nhiên Đăng Cổ Phật, cho các vị Phật hiện tại là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, và cho các vị Phật vị lai là Đức Di Lặc Tôn Phật.
Số lượng chư Phật được mô tả trong kinh điển là vô số, như cát sông Hằng. Do đó, việc tìm hiểu khởi nguyên của chư Phật là điều vượt quá khả năng nhận thức của chúng sinh. Khi được hỏi về vấn đề này, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã im lặng, bởi lẽ nó không thực sự cần thiết cho con đường tu tập và đạt giác ngộ.
Tìm hiểu sâu hơn về những giáo lý tinh túy và cuộc đời của chư Phật quá khứ và hiện tại, bạn có thể khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.
