GS. Nguyễn Văn Tuấn: Chân tu và Trí thức – Tưởng nhớ Hòa thượng Thích Quảng Độ (1928 – 2020)

img 9020 grande
0
(0)

Tưởng nhớ Hòa thượng Thích Quảng Độ, một bậc chân tu và trí thức lỗi lạc, bài viết này hé mở cuộc đời và sự nghiệp đầy cống hiến của Người, từ những năm tháng học thuật uyên bác trước 1975 đến tinh thần đấu tranh bất bạo động cho sự độc lập của Phật giáo sau này. Khám phá những đóng góp to lớn và những trăn trở cho tương lai Phật giáo Việt Nam tại Chiasedaophat.

Nhân dịp tưởng nhớ một bậc chân tu và trí thức lỗi lạc, Hòa thượng Thích Quảng Độ, chúng ta hãy cùng nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp đầy cống hiến của Người. Hòa thượng viên tịch tại chùa Từ Hiếu (Sài Gòn) vào ngày 22 tháng 2 năm 2020, hưởng thọ 93 tuổi. Sự ra đi của Người là một mất mát lớn cho thế hệ vàng của Phật giáo Việt Nam, một thế hệ đã đóng góp thầm lặng và bền bỉ cho đạo pháp.

Cuộc đời của Hòa thượng Thích Quảng Độ có thể gói gọn trong hai chữ: cống hiến và đấu tranh. Người không chỉ là một bậc chân tu mẫu mực mà còn là một trí thức dấn thân, luôn kiên định bảo vệ sự độc lập của Phật giáo. Điều đáng chú ý là sự khác biệt trong cách đưa tin về sự viên tịch của Người so với các bậc cao tăng khác, điều này càng làm nổi bật lên con đường riêng mà Người đã chọn.

Đóng góp cho sự nghiệp Phật học

Trước năm 1975, Hòa thượng Thích Quảng Độ đã nổi tiếng là một học giả uyên bác. Người giữ chức Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất và là giảng viên môn Triết học Đông Phương, Tư tưởng Phật giáo tại Đại học Vạn Hạnh. Đây là một giai đoạn rực rỡ của Phật giáo miền Nam, quy tụ nhiều học giả tên tuổi, trong đó có cả Thích Nhất Hạnh, Thích Minh Châu, Lê Mạnh Thát (Thích Trí Siêu). Đại học Vạn Hạnh, dù chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử văn hóa – giáo dục miền Nam với nhiều công trình biên dịch quan trọng về Phật giáo.

Hòa thượng Thích Quảng Độ thuộc về thế hệ các học giả Phật giáo tài năng như Thích Minh Châu, Thích Huyền Quang, Thích Trí Siêu, Thích Tuệ Sỹ. Họ là những người có kiến thức uyên bác, thực học, thực tài, đã để lại cho hậu thế những công trình giá trị. Một trong những tác phẩm đồ sộ nhất của Người là bộ “Phật Quang Đại Từ điển” gồm 9 tập, xuất bản năm 2014.

img 9020 grandeCuốn ‘Đại thừa Phật Giáo tư tưởng luận’ do Hòa thượng Quảng Độ biên dịch, bản ảnh ấn do thư viện Huệ Quang thực hiện

Điều đặc biệt là bộ “Phật Quang Đại Từ điển” được biên soạn trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt tại nhà tù Ba Sao (miền Bắc). Dù chỉ được phát giấy trắng và bút, Hòa thượng vẫn miệt mài làm việc. Sau khi được trả tự do năm 1998, dù ban quản giáo giữ lại bản thảo, Người đã dành thêm hai năm nữa để hoàn thiện bộ từ điển quý giá này mà không cần xin phép ai.

Tổng cộng, Hòa thượng Thích Quảng Độ đã biên dịch 13 bộ sách về Phật giáo, cùng với 2 tập thơ được viết trong thời gian tù đày và lưu vong. Khả năng làm việc phi thường và trí tuệ siêu việt của Người là điều đáng kinh ngạc.

1498724955phat quan tu dien viet namBộ sách “Phật Quang Đại Từ điển” do Hòa thượng Quảng Độ biên dịch.

Đấu tranh cho sự độc lập của Phật giáo

Sau năm 1975, nhiều học giả và tu sĩ Phật giáo nổi tiếng đã phải đối mặt với thử thách tù đày vì đấu tranh cho một hệ thống Phật giáo độc lập với sự quản lý của nhà nước. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), với uy tín và những hoạt động tích cực, đã không chấp nhận việc sáp nhập vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam dưới sự kiểm soát của nhà nước. Sự phản kháng này đã dẫn đến những bản án tù đày cho nhiều vị cao tăng.

Hòa thượng Thích Quảng Độ cũng không ngoại lệ. Người đã trải qua nhiều năm tù đày vì kiên định bảo vệ quyền tự chủ của Phật giáo. Năm 1977, Người bị bắt giam vì không chấp nhận sự can thiệp của nhà nước vào giáo sự Phật giáo. Sau đó, Người và mẹ bị đày về Thái Bình. Đến năm 1995, Người tiếp tục bị bắt và tuyên án tù, nhưng được đặc xá vào năm 1998. Theo thông tin từ RFA, một trong những điều kiện để được đặc xá là Người phải rời Việt Nam, nhưng Người đã kiên quyết từ chối.

Cuộc đời của Hòa thượng Thích Quảng Độ sau năm 1975 là minh chứng cho tinh thần đấu tranh bất bạo động, kiên cường vì sự độc lập và tự do của Phật giáo Việt Nam. Người đã dành trọn đời mình để bảo vệ đạo pháp, ngay cả khi đối mặt với nghịch cảnh.

HT Thich Quang Do 10(Ảnh tư liệu) Hòa thượng dịch Kinh sách.

Thế hệ vàng của Phật giáo và những trăn trở cho hiện tại

Hòa thượng Thích Quảng Độ thuộc về thế hệ vàng của Phật giáo Việt Nam, những người đã góp phần định hình nền văn hóa Phật giáo và dấn thân vì đạo pháp. Thế hệ này ngày càng ít đi, và việc tìm kiếm những người kế thừa xứng đáng trở nên khó khăn. Ngày nay, ranh giới giữa tu sĩ và cán bộ, giữa sự tôn kính Phật pháp và việc thần tượng hóa cá nhân đôi khi trở nên mờ nhạt.

Sự ra đi của Hòa thượng Thích Quảng Độ là lời nhắc nhở các Phật tử chân chính về tương lai của Phật giáo Việt Nam. Dù bề ngoài có vẻ phát triển với những ngôi chùa nguy nga và các lễ hội lớn, nhưng ẩn sâu bên trong là những thách thức về đạo đức, sự tha hóa và quên lãng sứ mệnh giác ngộ, diệt khổ. Trong bối cảnh đồng tiền và quyền lực chi phối, nhiều tu sĩ đã đánh mất đi lý tưởng, chạy theo danh lợi và quên đi lời Phật dạy.

Phật giáo Việt Nam từng trải qua giai đoạn suy thoái, đặc biệt là sau những biến động lịch sử. Ngày nay, mô hình tổ chức Phật giáo đôi khi giống như một hệ thống doanh nghiệp hoặc một đảng phái, với sự nhập nhằng giữa thế quyền và Phật pháp. Những hành xử thiếu chuẩn mực của một số tu sĩ khiến nhiều Phật tử cảm thấy ngao ngán và đặt câu hỏi về thời đại mạt pháp.

Chúng ta cần một thế hệ những người như Hòa thượng Thích Quảng Độ, những bậc chân tu và trí thức dấn thân, để có thể khôi phục lại những giá trị cốt lõi của Phật giáo Việt Nam. Sự cống hiến và tinh thần đấu tranh của Người cho đạo pháp và dân tộc là bài học quý báu cho các thế hệ mai sau.

[1] Theo tiểu sử, Hòa thượng Thích Quảng Độ sinh ngày 27/11/1928 tại xã Nam Thanh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Tên khai sanh là Đặng Phúc Tuệ. Sự nghiệp Phật pháp của Người gắn liền với miền Nam.

[2] Xin chia sẻ một bài thơ của Hòa thượng Thích Quảng Độ viết trong thời gian lưu đày:

CHIỀU ĐÔNG

Nghe lòng xa vắng những chiều đông
Nhìn nước mênh mông khắp mặt đồng
Bát ngát núi xa mờ bóng cọp
Thăm thẳm trời cao bặt cánh hồng
Bao độ cà tan cà nở nụ
Mấy mùa lúa rụng lúa đơm bông
Năm tháng mỏi mòn đầu đã bạc
Còn chút lòng son gởi núi sông.

Nguồn: nguyenvantuan.info

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang