Hòa thượng Thích Mật Nguyện: Cuộc đời và Di sản

ht mat nguyen
0
(0)

Hòa thượng Thích Mật Nguyện, một bậc chân tu với cuộc đời cống hiến cho đạo pháp, đã để lại một di sản sâu sắc cho Phật giáo Việt Nam. Bài viết này tái hiện hành trình tu tập và hoằng pháp của Ngài, nhấn mạnh những đóng góp quan trọng trong việc phát triển các cơ sở Phật giáo và hướng dẫn Phật tử, qua đó tôn vinh tinh thần cao cả và sự cống hiến không ngừng nghỉ của Ngài. Khám phá thêm về cuộc đời Ngài tại chiasedaophat.com.

ht mat nguyen

Hòa thượng Thích Mật Nguyện, thế danh Trần Quốc Lộc, pháp danh Tâm Như, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 43, sinh ngày 19 tháng 8 năm 1911 (nhằm ngày 25 tháng 6 nhuận năm Tân Hợi) tại làng Phú Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Ngài là trưởng nam trong gia đình có năm anh em, song thân là cụ ông Trần Quốc Lễ và cụ bà Nguyễn Thị Hoàng.

Thời niên thiếu, Ngài theo học tân học và nổi bật với bản tính hiền hòa, vui vẻ. Lớn lên trong một gia đình kính tin Tam Bảo, Ngài sớm nhận thức được sự vô thường của cuộc đời. Năm 15 tuổi (1926), Ngài phát tâm xuất gia, được Hòa thượng Giác Tiên tại chùa Trúc Lâm – Thừa Thiên truyền giới. Với sự chuyên tâm và kiên trì tu tập, đến năm 18 tuổi (1929), Ngài chính thức thọ Sa Di giới và được ban pháp danh là Tâm Như.

Sau thời gian nỗ lực tu học tại trường Sơn môn Phật học Tây Thiên, Ngài đã hoàn thành chương trình Trung học Phật giáo. Năm 1937, Ngài được Bổn sư cho phép vào Bình Định để thọ Tỳ Kheo giới tại Đại giới đàn Tịnh Lâm. Tại đây, Ngài tiếp tục theo học chương trình Đại học Phật giáo dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Phước Huệ tại chùa Thập Tháp.

Trong thời gian tu học tại Huế, vào năm 1932, khi Hội An Nam Phật Học được thành lập tại chùa Trúc Lâm, Ngài đã được cử giữ vai trò giảng sư. Năm 1935, với đạo nghiệp ngày càng tấn bộ, Ngài đã được Bổn sư truyền pháp và trao cho bài kệ:

Tâm như Pháp giới như
Vô sanh hạnh đẳng từ
Nhược năng như thị giải
Niệm niệm chứng vô dư.

Năm 1946, Ngài khai sơn chùa Bảo Tràng Huệ Giác tại Hòa Tân, Bình Định. Tuy nhiên, ngôi chùa này sau đó đã bị chiến tranh tàn phá. Trở về Thừa Thiên, Ngài được cung thỉnh trụ trì chùa Linh Quang vào ngày 10 tháng 4 năm 1946 (lúc 35 tuổi). Đầu năm 1951, Ngài đảm nhận chức vụ Chánh Trị sự Sơn môn Tăng già Thừa Thiên và cuối năm đó, Ngài được mời làm giảng sư tại Phật học đường Báo Quốc. Đến năm 1954, Ngài tiếp tục được cử giữ chức Trị sự trưởng Sơn môn Tăng Già Trung Việt trong nhiều nhiệm kỳ.

Với mong muốn phát triển cơ sở Phật giáo và hướng dẫn Phật tử, năm 1957, Ngài đã khai sáng chùa Từ Hàng Quan Âm tại quận Nam Hòa, tỉnh Thừa Thiên. Ngôi chùa này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Vào ngày 10 tháng 9 năm 1959, tại Đại hội Giáo hội Tăng già toàn quốc kỳ II tổ chức ở chùa Ấn Quang, Sài Gòn, Ngài được công cử giữ chức vụ Trị sự phó Giáo hội kiêm Trưởng Ban Nghi Lễ.

Nhận thấy chùa Linh Quang ngày càng trở nên chật hẹp trước nhu cầu Phật sự và số lượng Phật tử lui tới ngày càng đông, năm 1960, Ngài đã khởi xướng công cuộc trùng tu ngôi chùa, và công việc này đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp.

Năm 1963, Ngài đã dẫn dắt Phật giáo đồ Thừa Thiên – Huế trong cuộc đấu tranh đòi thực thi năm nguyện vọng chính đáng của Phật giáo Việt Nam. Trong đêm 20 tháng 8 năm 1963, khi chính quyền Ngô Đình Diệm tấn công các chùa và đàn áp Tăng Ni, Phật tử, Ngài đã bị bắt và đưa về Sài Gòn cùng với nhiều vị Tôn đức lãnh đạo khác.

Năm 1964, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập, Ngài được mời giữ chức Phó Đại diện miền Vạn Hạnh kiêm Tỉnh Giáo hội Thừa Thiên. Năm 1965, Ngài đảm nhận vai trò đàn chủ trong Đại giới đàn Vạn Hạnh tại chùa Từ Hiếu – Huế, truyền giới cho hơn 100 vị giới tử xuất gia và 1.200 vị tại gia. Cùng năm đó, Ngài được mời tham gia Ban giảng huấn Viện Cao Đẳng Phật Học Sài Gòn. Với tâm nguyện đào tạo Tăng tài, năm 1967, Ngài đã tổ chức lớp chuyên khoa nội điển Liễu Quán tại chùa Linh Quang và giữ chức Giám đốc kiêm chủ giảng trong suốt 4 năm.

Vào mùa xuân năm 1968, Ngài được Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bổ nhiệm vào chức vụ Chánh Đại Diện miền Vạn Hạnh kiêm Chánh Đại Diện tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế. Năm 1970, Ngài khuyến khích mở lớp chuyên khoa nội điển tại Phật Học Ni Viện Diệu Đức – Huế và nhận lời cố vấn cho Đại giới đàn Vĩnh Gia tại Đà Nẵng.

Dù gánh vác trách nhiệm nặng nề của Giáo hội ở miền Vạn Hạnh và tỉnh Thừa Thiên – Huế, chiếm nhiều thời gian và sức lực cho công tác đối nội, đối ngoại, Ngài vẫn không quên các hoạt động xã hội, từ thiện. Ngài đã xây dựng cô nhi viện, dưỡng lão đường, bệnh xá để hỗ trợ những người gặp hoàn cảnh khó khăn, đau khổ. Ngài cũng khuyến khích xây dựng các Niệm Phật Đường tại bệnh viện, trại lao, trại tàn tật, các đơn vị quân đội, tạo điều kiện cho Phật tử có nơi tu tập. Đặc biệt, Ngài còn quan tâm đến việc cứu trợ đồng bào bị chiến nạn và thiên tai. Bên cạnh đó, Ngài còn động viên các nhà hảo tâm thực hiện các hoạt động như tạc tượng, đúc chuông, ấn tống kinh sách và tổ chức các buổi thuyết giảng giáo lý lưu động tại các vùng xa xôi.

Ngoài ra, Ngài còn đóng góp các bài viết trên các nguyệt san, tạp chí Phật giáo tại Huế như Viên Âm, Giác Ngộ, Liên Hoa, nhằm phổ biến giáo lý, hướng dẫn mọi người quay về với chánh pháp, góp phần phục hưng và phát triển nền đạo giáo của dân tộc. Ngài cũng đã thực hiện việc dịch các bộ kinh điển quan trọng như kinh Giải Thâm Mật, kinh Vô Lượng Thọ, và Tân Duy Thức Luận của Thái Hư.

Do lao tâm, lao lực vì Phật sự, vào cuối đời Ngài lâm bệnh và phải vào Sài Gòn điều trị. Tuy nhiên, với tâm nguyện luôn nghĩ đến Giáo hội và Phật tử, Ngài đã gác lại việc chữa bệnh, trở về cố đô để tiếp tục phụng sự. Vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 18 tháng 8 năm 1972 (nhằm ngày mồng 10 tháng 7 năm Nhâm Tý, Phật lịch 2516), Ngài đã viên tịch, hưởng thọ 62 tuổi đời với 40 tuổi hạ.

Hòa thượng Thích Mật Nguyện là một nhân vật quan trọng, một trụ cột của Phật pháp và là người hộ pháp đắc lực cho Giáo hội Phật Giáo Việt Nam trong giai đoạn phục hưng. Với tinh thần hy sinh cao cả, Ngài đã vượt qua mọi khó khăn để gánh vác những Phật sự lớn lao. Nhờ ý chí kiên định, tâm hồn hỷ xả, vị tha, Ngài đã khéo léo dung hòa mọi ý kiến, gắn kết với mọi tầng lớp Tăng chúng cũng như cư sĩ, hoàn thành sứ mạng cao cả của một bậc Như Lai sứ giả: “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang