Hòa thượng Thích Thiện Hạnh: Cuộc đời và Di sản của một bậc chân tu

ht thich thien hanh 10
0
(0)

Cuộc đời và những đóng góp của Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Hạnh cho đạo pháp được tái hiện qua bài viết này, khắc họa một bậc chân tu với tinh thần phụng sự cao cả. Khám phá hành trình tâm linh đầy ý nghĩa của Ngài qua trang Chia sẻ Đạo Phật.

ht thich thien hanh 10

TIỂU SỬ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN HẠNH

Thượng Lệ Hạ Chân hiệu Thiện Hạnh

Thượng Thủ Hội đồng Chứng minh Tăng đoàn GHPGVNTN,
Trú trì Chùa Kim Quang.
(1931 – 2021)

Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Hạnh, thế danh Nguyễn Thanh Bình, sinh ngày 14 tháng 3 năm 1931 (nhằm ngày 26 tháng Giêng năm Tân Mùi) tại thôn Mỹ Duyệt hạ, xã Thanh Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Thân phụ là cụ ông Nguyễn Như Hưng và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Huấn. Ngài là con thứ hai trong gia đình có bốn người con, gồm hai trai và hai gái.

Năm 11 tuổi (1942), Ngài được thân phụ đưa đến chùa Đặng Lộc, Quảng Bình, xin xuất gia với Hòa thượng Thích Định Tuệ. Bổn sư ban cho pháp danh Lệ Chân, pháp tự Thiện Hạnh, thuộc đời thứ 42 dòng Thiền Lâm Tế Chánh tông và đời thứ 12 dòng Thiền Đạo Mẫn Mộc Trần.

Năm 1943, Ngài theo Bổn sư vào hành đạo tại Quảng Nam. Sau đó, Ngài ở lại Huế và nhập chúng tại chùa Báo Quốc để tiếp tục con đường tu học.

Năm 1956, Ngài thọ Tam đàn Cụ túc tại giới đàn chùa Báo Quốc.

Năm 1957, Ngài theo học tại Phật học viện Trung Phần Hải Đức, Nha Trang. Đến năm 1960, Ngài tốt nghiệp chương trình Cao đẳng Phật học. Sau đó, Giáo hội Tăng già Thừa Thiên ủy cử Ngài làm Hiệu trưởng Trường Trung học Bồ Đề Hàm Long.

Năm 1961, Ngài hoàn thành chương trình Tú tài toàn phần và theo học hai năm tại Đại học Văn khoa Huế. Năm 1963, trong giai đoạn đấu tranh của Phật giáo, Ngài được ủy cử chỉ đạo tại một số tỉnh miền Nam Trung Phần và đã từng bị chính quyền bắt giam tại Phú Yên.

Năm 1964, sau khi GHPGVNTN Thừa Thiên được thành lập, Ngài được giao trọng trách “Đặc ủy Giáo dục” và làm Giáo thọ tại Phật học đường Báo Quốc, Huế.

Từ năm 1966 đến năm 1975, Ngài đảm nhận chức vụ Hiệu trưởng Trường Trung học Bồ Đề Thành Nội, Huế.

Từ năm 1974 đến năm 1981, Ngài giữ chức vụ Phó Ban Đại diện kiêm Chánh Thư ký Ban Đại diện GHPGVNTN Thừa Thiên.

Vào đầu năm 1979, sau khi Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Nhiên viên tịch, Ngài đã phụng soạn bản tiểu sử của Ngài để đăng trong tập Kỷ yếu.

Năm 1981, tại Hội nghị Bất thường của Hội đồng Giáo phẩm Trung ương GHPGVNTN tại Tổ đình Từ Đàm, Huế, Ngài được thỉnh cử làm Thư ký. Sau hội nghị, Ngài được mời cộng tác tại Văn phòng Viện Tăng Thống và đã đóng góp nhiều công sức trong suốt 16 năm.

Năm 1992, sau khi Trưởng lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu viên tịch, Ngài được cung thỉnh giữ chức vụ Chánh Thư ký Viện Tăng Thống. Cùng năm, Ngài sang Pháp thăm viếng Hòa thượng Thích Nhất Hạnh và Làng Mai. Khi trở về, trước những khó khăn mà Phật giáo Thừa Thiên Huế đối mặt, Ngài đã cùng chư tôn Giáo phẩm thành lập “Tăng đoàn Phật giáo Thừa Thiên Huế” và được cung thỉnh giữ chức vụ Trưởng Tăng đoàn.

Năm 1993, Tăng đoàn quyết định thành lập “Viện Cao đẳng Chuyên khoa Phật học Thừa Thiên Huế” và cung thỉnh Ngài giữ chức Viện trưởng. Trong suốt 15 năm, Ngài đã nỗ lực xây dựng một trung tâm đào tạo Phật học uy tín, đào tạo hơn 400 Tăng tài, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Năm 2001, Ngài cho ra mắt “Tập san Nghiên cứu Phật học Thừa Thiên Huế” và làm Chủ nhiệm trong gần 10 năm.

Năm 2003, Ngài được cung thỉnh vào Hội đồng Trưởng lão Viện Tăng Thống.

Năm 2004, Thượng tọa Thích Toàn Lạc, trú trì chùa Kim Quang, đã hiến cúng chùa cho GHPGVNTN để làm cơ sở sinh hoạt. Với tư cách Trưởng Tăng đoàn, Ngài đã ấn ký chấp nhận.

Năm 2005, Ban Đại diện GHPGVNTN Thừa Thiên Huế chính thức thành lập, Ngài được cung thỉnh giữ chức vụ Chánh Đại diện.

Năm 2008, sau khi Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Quang viên tịch, Ngài phụng soạn “Bản Tường thuật Tang lễ” với đầy đủ chi tiết lịch sử.

Năm 2009, Ban Đại diện GHPGVNTN Thừa Thiên Huế tiếp nhận chùa Kim Quang, Ngài được cung thỉnh giữ chức vụ trú trì kiêm Trưởng ban Quản trị. Việc trùng tu Tăng xá tại chùa Kim Quang đã bị chính quyền địa phương ngăn cản vào năm 2010.

Năm 2011, Ban Đại diện GHPGVNTN Thừa Thiên Huế thành lập “Phật học viện Kim Quang” tại chùa Kim Quang và cung thỉnh Ngài giữ chức Viện trưởng.

Năm 2013, do những bất đồng quan điểm lãnh đạo Giáo hội, Ngài cùng chư tôn đức trong Hội đồng Lưỡng viện, Hội đồng Giáo phẩm Trung ương đã dâng thư từ nhiệm. Ngày 19 tháng 12, Ngài cùng 22 vị tôn đức Ban Đại diện GHPGVNTN Thừa Thiên Huế gửi Thông bạch về việc giải thể Ban Đại diện, chuyển về sinh hoạt Lâm thời với danh xưng Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Đến ngày 04 tháng 4 năm 2014, danh xưng này được đổi thành Tăng đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Ngày 24 tháng 04 năm 2014, qua bản Công bố số 001/HĐCM/CB/TT, Ngài được suy cử lên ngôi vị Thượng Thủ Hội đồng Chứng minh Tăng đoàn GHPGVNTN.

Trong bảy năm giữ ngôi vị Thượng Thủ, Ngài đã chèo lái con thuyền Tăng đoàn vượt qua nhiều sóng gió, kết nối hòa hiệp Tăng chúng trong và ngoài nước, góp phần vào sự phát triển của Tăng đoàn GHPGVNTN Hải ngoại.

Trong sự nghiệp giáo dưỡng, dù có nhiều người xin xuất gia, Ngài đều hướng dẫn đến các chùa khác. Ngài chỉ có vài đệ tử tâm huyết, được Ngài tận tình chăm nom, giáo dưỡng, và họ đã có những đóng góp xứng đáng cho đạo pháp. Hơn 50 năm (1960-2013), ngoài việc làm Hiệu trưởng hai trường Bồ Đề và đảm nhận nhiều Phật sự quan trọng của Giáo hội, Ngài vẫn dành thời gian giảng dạy Kinh luật cho Tăng Ni, Phật tử tại Phật học đường Báo Quốc và các đạo tràng ở Huế. Số lượng Tăng Ni, Phật tử theo học với Ngài lên đến hàng ngàn người, thể hiện Ngài đã chu toàn trách nhiệm cao quý của một Bổn sư và bậc Giáo thọ.

Trong sự nghiệp trước tác, dịch thuật, dù bận rộn, Ngài vẫn dành thời gian đóng góp vào kho tàng Thánh giáo Việt Nam và cung cấp tư liệu giảng dạy. Ngài còn viết nhiều Thông bạch, Thông điệp, Tâm thư gửi các cấp lãnh đạo Giáo hội, đồng bào Phật tử. Hàng trăm Kiến nghị thư, Thỉnh nguyện thư, Kháng thư… được Ngài gửi đến các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước CHXHCN Việt Nam, đấu tranh đòi những nguyện vọng chính đáng của GHPGVNTN. Ngài là một trong ba “tác gia” nổi bật trong việc viết các văn bản quan trọng trong giai đoạn lịch sử đầy biến động của Phật giáo và dân tộc.

Những ngày tháng cuối đời, dù tuổi cao sức yếu, nhưng trí tuệ Ngài vẫn minh mẫn. Vào lúc 05 giờ ngày 21 tháng 5 năm 2021 (nhằm ngày mồng 10 tháng 4 năm Tân Sửu), Ngài cho gọi chư tôn đức trong Tăng đoàn đến thăm hỏi và căn dặn. Đến giờ Ngọ cùng ngày, Ngài an nhiên xả báo thân, viên tịch một cách nhẹ nhàng, hưởng thọ 91 tuổi đời và 65 Hạ lạp.

Cuộc đời 91 năm trụ thế của Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Hạnh là minh chứng cho nguyện lực kiên cường, hùng tâm bất thối của một vị Đại Tỷ Kheo. Dù thuận duyên hay nghịch cảnh, trên bước đường xuất gia, học đạo, hoằng pháp lợi sinh, đào tạo Tăng tài và bảo tồn Chánh pháp, Ngài luôn thể hiện tinh thần bất khuất.

Trên con đường học đạo, dù gặp nhiều chướng duyên, Ngài vẫn quyết tâm hoàn thành sở nguyện với bằng Cao đẳng Phật học tại Phật học Viện Trung Phần Hải Đức, Nha Trang và Chứng chỉ hai năm Văn khoa tại Viện Đại học Huế. Trong sự nghiệp hoằng pháp, Ngài không ngừng cống hiến cho Giáo hội, từ vị Hiệu trưởng trường Bồ Đề, Giáo thọ sư Phật học đường Báo Quốc, Viện trưởng Viện Cao đẳng Chuyên khoa Phật học, đến giảng dạy tại các đạo tràng và tổ chức Gia đình Phật tử.

Ngài đã gánh vác nhiều trọng trách như Đặc ủy Giáo dục, Phó Đại diện kiêm Chánh Thư ký Giáo hội tỉnh Thừa Thiên, Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni, Phụ tá thường trực của Đại lão Hòa thượng Chánh Thư ký kiêm Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống, Chánh Thư ký Viện Tăng Thống, Cố vấn Ban Chỉ đạo Viện Hóa đạo, Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi Tăng đoàn GHPGVNTN thành lập, Ngài được cung thỉnh lên ngôi vị Thượng Thủ Hội đồng Chứng minh cho đến ngày viên tịch.

Trong bối cảnh lịch sử đầy biến động, đối mặt với muôn vàn khó khăn và thách thức khi Giáo hội truyền thống bị xem là hoạt động “bất hợp pháp”, Ngài cùng chư tôn Giáo phẩm lãnh đạo đã vận dụng tài năng, trí tuệ và ý chí kiên cường để giữ vững lập trường, đấu tranh đòi hỏi sự tồn tại của một Giáo hội Phật giáo truyền thống đã đồng hành cùng dân tộc suốt 2000 năm.

Trong sự nghiệp nhiếp hóa đồ chúng, Ngài không chỉ hoàn thành nhiệm vụ của một vị Bổn sư, một bậc Đại Tỷ Kheo Giáo thọ. Hơn 50 năm miệt mài giảng dạy Kinh luật cho nhiều thế hệ Tăng Ni, Phật tử tại Phật học đường Báo Quốc và các đạo tràng Thừa Thiên Huế, Ngài đã để lại ấn tượng sâu sắc về cả ngôn giáo và thân giáo.

Trong chín mươi mốt năm hiện diện nơi cõi Ta-bà, Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Hạnh đã để lại trong lòng chư tôn đức Tăng Ni và đồng bào Phật tử Việt Nam niềm kính mến, sự ngưỡng vọng vô biên và khát khao cầu học. Dù Ngài đã an nhiên đi vào cõi Niết bàn tịch tịnh, sự nghiệp hoằng pháp kỳ vĩ, đạo phong miên mật và ý chí kiên cường của Ngài vẫn rạng rỡ trong lòng Dân tộc và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Nhất tâm đảnh lễ: Nam Mô Lâm Tế Chánh tông, Quốc Ấn Pháp phái, Tăng đoàn GHPGVNTN Việt Nam Thống nhất Thượng thủ Hội đồng Chứng minh, Kim Quang Tự trú trì, Thượng Lệ Hạ Chân hiệu Thiện Hạnh Giác linh Trưởng lão Hòa thượng.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang