Nhà sư Bhikkhu Bodhi: Lần đầu tiên tôi gặp một tu sĩ

atr avatar 3304 1763355106
0
(0)

Hành trình tuổi trẻ với những chuyến đi xa đầy khám phá, nơi cảnh quan thiên nhiên mở ra những góc nhìn mới lạ. Từ sự ngẫu nhiên trên đường phố đến một khoảnh khắc bất ngờ hé lộ hình ảnh quen thuộc nhưng đầy bí ẩn, câu chuyện tiếp tục mở ra trên Chiasedaophat.

Đào Viên dịch
(Bình Anson hiệu đính, 16-10-2014)

Vào tuần đầu tiên của tháng 8 năm 1965, sau khi hoàn thành khóa học hè, tôi bắt đầu hành trình từ New York đến California bằng ô tô. Khi ấy, tôi 20 tuổi và chuẩn bị bước vào năm cuối tại Đại học Brooklyn. Chuyến đi này nhằm mục đích thăm một người bạn đang sinh sống tại San Francisco mùa hè năm đó. Tôi đã thu xếp để đi cùng một vài người bạn học. Chúng tôi khởi hành từ một quán ăn nhỏ gần trường vào buổi sáng thứ Hai. Sau một ngày dài lái xe, chúng tôi dừng chân tại Madison, Wisconsin để nghỉ qua đêm tại nhà một người bạn đồng hành.

Đây là lần đầu tiên tôi có dịp đi về phía Tây dãy núi Pocono, một trải nghiệm đầy thú vị. Sau một đêm nghỉ ngơi, sáng hôm sau, tôi quyết định đi dạo. Đó là một buổi sáng nắng ấm áp. Tôi thong thả bước qua những con phố vắng để đến một hồ nước lớn tuyệt đẹp nằm cạnh khuôn viên Đại học Wisconsin. Rẽ vào con đường nội bộ, tôi tiến sâu vào trung tâm trường. Khi đang đi trên lối đi chính, một cảnh tượng bất ngờ đã diễn ra. Phía bên phải tầm mắt, cánh cửa của một tòa nhà bằng đá bỗng mở ra. Một người đàn ông trung niên, mang nét Á Đông, khoác trên mình bộ y vàng rộng rãi bước ra. Ngay sau đó, một người Mỹ cao lớn bước theo, bắt kịp và cả hai cùng sánh vai trò chuyện.

Ngay lập tức, tôi nhận ra đó là một vị tu sĩ Phật giáo. Vào thời điểm đó, số lượng tu sĩ Phật giáo thực thụ tại Mỹ có thể đếm trên đầu ngón tay, và tôi chưa từng gặp ai trước đây. Vài tháng trước đó, tôi bắt đầu tìm hiểu về Phật giáo qua những cuốn sách. Qua tác phẩm “Siddhartha” của Hermann Hesse, tôi biết rằng các nhà sư thường mặc áo màu vàng nghệ. Do đó, tôi nhận diện ngay người tôi thấy là một vị tỳ-khưu. Tôi vô cùng ngạc nhiên và xúc động trước vẻ bình thản, tự tại của ngài, toát lên một sự thư thái, mãn nguyện nội tâm và vẻ trang nghiêm mà tôi chưa từng thấy ở bất kỳ người phương Tây nào. Người Mỹ đi bên cạnh, dường như là một giáo sư, thể hiện sự kính trọng và nể nang. Điều này khiến tôi tin rằng ông không phải là một vị sư bình thường mà có vị thế cao. Chỉ nhìn ngài bước đi, tôi cảm thấy lòng tràn đầy hoan hỷ và hạnh phúc. Tôi tin rằng cảm xúc của tôi lúc ấy có lẽ tương tự như cảm giác của một thanh niên Bà-la-môn ở Ấn Độ cổ đại khi lần đầu tiên nhìn thấy một đệ tử của bậc Giác Ngộ Gotama.

Lúc đó, tôi chỉ cách họ khoảng 60 mét. Tôi rất muốn đến gần để hỏi thăm ngài là ai, ngài đang làm gì và tham vấn nhiều điều khác. Tuy nhiên, sự nhút nhát đã ngăn cản, tôi sợ mình trông có vẻ kỳ quặc. Vì vậy, tôi chỉ đứng lặng nhìn, chăm chú quan sát mọi cử chỉ của ngài trong suốt bốn, năm phút khi hai người đi qua lối đi. Tôi như bị thôi miên, cảm giác như lạc vào một cõi giới khác. Trong tâm tôi dâng lên một nỗi khát khao mãnh liệt. Tôi nghĩ rằng, nếu có ai đó chích tôi bằng một cây kim lúc đó, tôi cũng sẽ không cảm thấy gì, bởi tâm trí tôi đã hoàn toàn tập trung vào hình bóng vị tu sĩ.

Rồi, vị tu sĩ và vị giáo sư bước vào một tòa nhà khác. Vị giáo sư mở cửa và cả hai biến mất bên trong. Niềm vui thích khi được gặp vị tu sĩ vẫn còn đọng lại, nhưng giờ đây xen lẫn một chút buồn bã. Lòng tôi trĩu nặng khi nghĩ rằng cuộc gặp gỡ đã kết thúc, và tôi đã bỏ lỡ cơ hội tìm đến một nguồn tuệ giác Đông phương còn tại thế. Tôi nghĩ rằng vị tu sĩ tuyệt vời ấy đã đi xa, và con đường của chúng tôi sẽ không bao giờ gặp lại.

*

Quả thật, nghiệp báo vận hành theo những cách kỳ lạ và bất ngờ! Hơn một năm sau, vào tháng 9 năm 1966, tôi ghi danh vào Đại học Claremont ở California để theo học chương trình Tiến sĩ Triết học. Trong học kỳ mùa Xuân năm ấy, có một vị sư đến từ Việt Nam sang học và đã chọn ở ngay tầng dưới khu nội trú của tôi. Vị sư này không mang vẻ “thư thái và tự tại” như người tôi gặp ở Wisconsin, mà có phần “hỷ lạc”, thích chơi đàn banjo, hát nhạc dân ca Việt Nam, hút thuốc lá Pháp, nấu những món ăn hấp dẫn từ thịt heo và thịt gà (dù là một nhà sư Đại thừa, ngài lẽ ra nên ăn chay), và học ngành Chính trị – một lĩnh vực mà ngài thường đề cập một cách mạnh mẽ.

Vì những lẽ đó, dù tôi rất yêu thích Phật giáo, tôi ban đầu giữ một khoảng cách nhất định với vị sư này. Tuy nhiên, khi hiểu rõ hơn, tôi dần quý mến ngài và cuối cùng đã nhận ngài làm người thầy Phật học đầu tiên của mình. Đến mùa Hè năm 1967, chúng tôi cùng chia sẻ một căn phòng trong khu nội trú cho sinh viên cao học, và không lâu sau đó, chúng tôi cùng thuê một căn nhà nhỏ bên ngoài khuôn viên trường.

Khám phá: Văn Thù Sư Lợi: Vị Bồ Tát Trí Tuệ Vô Song – Khám phá tích xưa và bí quyết phụng thờ

Một ngày nọ (có lẽ là vào tháng 11 năm 1967), vị sư bạn tôi cho biết có một vị Hòa thượng từ Việt Nam tên là Thích Minh Châu đang ở Mỹ và sẽ đến thăm Los Angeles. Ông bạn tôi nói rằng ngài Minh Châu là Viện trưởng Đại học Vạn Hạnh và là một học giả uyên bác. Hòa thượng đã có bằng Tiến sĩ từ Đại học Phật giáo Nalanda (Ấn Độ) và đã thực hiện một công trình nghiên cứu quan trọng, so sánh đối chiếu Trung Bộ Kinh tiếng Pali với Trung A-hàm tiếng Hán. Vị sư bạn tôi dự định đến Los Angeles để đảnh lễ ngài Thích Minh Châu và mời tôi cùng đi.

Thế là, vào một buổi sáng mùa Thu tươi đẹp năm ấy, chúng tôi đã đến thăm căn nhà của một gia đình Việt Nam nơi ngài Minh Châu đang tạm trú. Khi ngài từ phòng riêng bước ra, tôi thấy một người đàn ông trung niên khoác y vàng, dáng đi bình thản, vững chãi, toát lên vẻ tử tế đầy trí tuệ. Thật vậy, ngài trông rất giống vị sư tôi đã gặp hai năm trước tại khuôn viên Đại học Wisconsin. Tuy nhiên, tôi không hoàn toàn chắc chắn vì hai vị sư Á Đông trông giống nhau cũng không phải là chuyện hiếm. Tôi đã nhìn thấy vị sư ở Wisconsin từ khoảng cách xa, nên không thể nhận rõ khuôn mặt. Vì vậy, tôi đành kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi chủ nhà, ngài Minh Châu và vị sư bạn tôi trò chuyện xong bằng tiếng Việt. Khi có cơ hội, tôi đã hỏi ngài: “Thưa đây có phải là lần đầu tiên ngài sang Mỹ không?”. Ngài đáp: “Thưa không, tôi đã đến đây vài năm trước.” Ngay lập tức, tôi hỏi tiếp: “Thưa có phải ngài đã từng đến Đại học Wisconsin vào tháng Tám năm 1965 không?” Ngài trả lời: “Đúng vậy, hôm ấy tôi đến thăm một người bạn của tôi là Giáo sư Richard Robinson, người vừa bắt đầu một chương trình nghiên cứu Phật học tại đó.” Tôi kể lại việc mình đã nhìn thấy ngài từ xa đi qua khuôn viên trường ngày hôm đó. Ngài mỉm cười nhẹ và nói: “Vậy thì đây không phải là lần đầu tiên chúng ta gặp nhau.”

Nhiều năm sau, khi Hòa thượng Thích Minh Châu trở lại Mỹ (khoảng năm 1969), ngài đã ở lại vài ngày tại nơi ở của chúng tôi ở Claremont. Về sau, khi tôi chuẩn bị sang châu Á để thọ giới tỳ-khưu và học Phật pháp, ngài đã đưa ra nhiều lời khuyên hữu ích và viết cho tôi một lá thư giới thiệu đến các bậc tôn túc có thẩm quyền Phật giáo tại châu Á. Tôi đã giữ gìn cẩn thận bức thư đó và cho đến nay, tôi vẫn còn giữ nó cùng các đồ vật khác ở Kandy, Sri Lanka. Chính ngài là người đã đề nghị tôi nên đến thọ giáo với Hòa thượng Nyanaponika khi tôi đến Sri Lanka. Sau nhiều năm tu học tại đảo quốc này, tôi mới thực hiện được lời đề nghị đó. Trong những năm đầu, thỉnh thoảng tôi vẫn viết thư cho ngài Minh Châu để tham vấn, và ngài luôn trả lời tôi rất sớm và đầy đủ.

*

Sau năm 1975, khi chiến tranh kết thúc ở miền Nam Việt Nam, tôi không còn liên lạc với ngài Minh Châu nữa. Tuy nhiên, khi chuẩn bị bài giảng này, những cuộc gặp gỡ trước đây và những kỷ niệm xưa ùa về thật sâu sắc. Tôi cảm thấy cần phải tìm cách hỏi thăm xem hiện tại ngài ra sao. Thông qua mạng lưới Internet, tôi đã liên lạc với một người Việt tại Úc, chủ một trang web Phật giáo. Tôi được biết Hòa thượng vẫn còn ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng sức khỏe hiện rất yếu và đang mắc bệnh Parkinson. Ngài chắc hẳn đã gần 90 tuổi. Tôi đã viết một lá thư cho ngài và gửi qua email cho người Việt tại Úc đó, nhờ anh chuyển thư đến một người bạn của anh ở Việt Nam, là một tu sĩ Phật giáo và là đệ tử của Hòa thượng Minh Châu.

Trong vài chục năm gần đây, trước khi căn bệnh tàn phá sức khỏe, Hòa thượng Thích Minh Châu đã dịch bốn bộ kinh Nikaya từ tiếng Pali sang tiếng Việt. Tôi chỉ mới biết điều này gần đây. Đây thực sự là một câu chuyện kỳ thú và lạ lùng, gợi lên nhiều câu hỏi thú vị. Vào ngày đầu tháng Tám năm 1965, một chàng sinh viên Mỹ 20 tuổi, người sau này sẽ trở thành đồng dịch giả Trung Bộ Kinh, dịch giả Tương Ưng Bộ Kinh và (hy vọng) một ngày nào đó sẽ dịch cả Tăng Chi Bộ Kinh, đã tình cờ gặp một vị sư Việt Nam, lớn hơn mình gần ba chục tuổi, người cũng đang dịch bốn bộ kinh đó sang tiếng Việt. Chàng sinh viên Mỹ ngày đó hoàn toàn không biết gì về Phật học, chỉ mới bắt đầu đọc vài cuốn sách về Phật giáo. Anh ta không hề có ý định gặp vị sư, và thực tế, họ cũng không hề nhìn thấy nhau.

Xem thêm: Mục Kiền Liên: Lòng Hiếu Thảo Vượt Lên Ngạ Quỷ, Khai Mở Bí Ẩn Địa Tạng Vương

Nhìn từ góc độ nhân duyên khách quan, cuộc gặp gỡ chỉ đơn thuần là sự trùng hợp. Chàng sinh viên Mỹ chỉ tình cờ đi vào một thành phố anh đến một cách ngẫu nhiên, nhìn thấy vị Hòa thượng từ xa, rồi rời đi mà không hề biết ngài là ai. Vị sư cũng không hề nhìn thấy chàng thanh niên Mỹ này.

Điều gì đã thôi thúc tôi quyết định đi dạo bộ sáng hôm đó, rẽ khỏi con đường ven hồ và đi vào khuôn viên đại học, đúng vào vị trí và thời điểm đó? Liệu đó có phải chỉ là sự tình cờ, một chuỗi những quyết định ngẫu nhiên? Nếu đã đặt ra những câu hỏi đó, chúng ta hãy tiếp tục suy ngẫm: Liệu có một vòng duyên khởi nào đã nối kết chuyến đi California của tôi với chuyến đi Wisconsin của vị tu sĩ vào đúng thời điểm ấy không? Nếu tôi nhớ không lầm, chúng tôi dự định khởi hành sớm hơn hai ngày, nhưng vì một vài trục trặc vào phút chót, chúng tôi phải dời lại đến sáng thứ Hai đó. Nếu chúng tôi đi đúng như kế hoạch ban đầu, thì buổi hội ngộ với vị tu sĩ có lẽ đã không xảy ra.

Khi tôi rời khỏi khuôn viên trường, tin chắc rằng mình sẽ không bao giờ gặp lại vị tu sĩ ấy nữa, tôi đã không hề cố ý tìm cách để gặp lại ngài. Thế nhưng, tôi đã đưa ra một chuỗi những quyết định, trong thâm tâm không hề cố ý, dẫn đến việc chúng tôi gặp lại nhau lần nữa. Lần này, hai chúng tôi đối diện với tư cách là những pháp hữu. Tôi đã chọn học cao học tại một Đại học mà tại đó, tôi đã gặp gỡ và trở thành bạn bè với một vị sư Việt Nam khác. Dù vậy, khi chọn trường, tôi không hề biết vị sư ấy cũng học ở đây (thực tế, tôi không biết gì về các tu sĩ Phật giáo Việt Nam). Và qua người bạn này, tôi đã được gặp lại vị sư tôi đã gặp hai năm trước, một vị sư có phong thái đã khiến tôi vô cùng ấn tượng – mặc dù tôi không biết hai vị sư này lại quen biết nhau.

Dù tôi biết Hòa thượng Thích Minh Châu đã viết một cuốn sách nghiên cứu so sánh đối chiếu các bản kinh Pali và Hán, tôi không hề hay biết ngài đang dịch bộ Nikaya Pali sang tiếng Việt. Thế nhưng, dự án dịch thuật kinh điển của cả hai chúng tôi, dịch sang ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, lại có sự tương đồng đến lạ kỳ. Phải chăng điều này đã được báo trước bởi cuộc gặp gỡ tình cờ tại Đại học Wisconsin, nơi tôi chưa bao giờ trở lại sau lần gặp gỡ ấy, và có lẽ tôi sẽ không bao giờ quay lại nữa trong đời?

My First Encounter with a Buddhist Monk

[dropcap]I[/dropcap]n the first week of August, 1965, after finishing summer school, I set out to travel by car from New York to California. I was twenty years old and in September would be entering my senior year at Brooklyn College. I wanted to visit a friend who was spending the summer in San Francisco and I managed to find a ride with a couple of fellow students. We started from a luncheonette near Brooklyn College on a bright Monday morning, and after a full day on the road we stopped in Madison, Wisconsin, to spend the night at the home of some friends of the people with whom I was traveling.

This was the first time I had ever traveled west of the Pocono Mountains and the experience promised to be an exciting one. After a good night’s rest, the next morning I decided to take a walk. It was a bright, sunny day. My steps led me through quiet streets to a large beautiful lake bordering the University of Wisconsin. Turning inland, I soon found myself on the campus. As I was approaching a mall in the middle of the campus, something astonishing happened. To the right of my field of vision, the door of a big stone building suddenly swung open and out stepped a middle-aged man with East Asian features wearing a yellow-orange robe. He was immediately followed by a tall American man, who then caught up with him, and the two walked side by side talking.

At once I realized that I was looking at a Buddhist monk. I had never seen a Buddhist monk before, and in America at that time the number of *real* Buddhist monks could probably be counted on one hand. I had just begun to read about Buddhism a few months earlier, and I knew from my reading of Hermann Hesse’s *Siddhartha* that Buddhist monks wore saffron robes. Thus I could identify the person I was seeing as a bhikkhu. I was struck with wonder and amazement at the sight of this serene, self-composed man, who radiated a lightness, inner contentment, and dignity I had never seen before in any Westerner. The American man alongside him, presumably a professor, seemed to show him a certain respect and deference, which suggested to me that he was not an ordinary monk but a person of some stature. Just watching him walk across the mall, I was filled with joy and happiness. I think my feeling might have been similar to what a young brahmin in ancient India might have felt if he looked up and for the very first time saw, walking down a path close by, a monastic disciple of the ascetic Gotama, the man that people called “the Awakened One.”

Tìm hiểu thêm: Quan Công: Vị Thánh Trung Nghĩa Lẫy Lừng Sử Sách, Chuyển Mình Thành Biểu Tượng Văn Hóa

I must have been about seventy yards from the path along which the two men walked. I wanted to approach the monk and ask him who he was and what he was doing, and many other questions; but I was too shy, afraid that I would appear foolish. So I just stood there watching him, devouring him with my eyes, observing his every movement during the four or five minutes it took for them to walk across the mall. I was transfixed; I felt transported to another dimension of being. Something in my heart stirred with a deep yearning. I think that if someone had come up behind me and stuck me with a pin I would have felt nothing, so absorbed was I in the figure of this monk. Then he and the professor reached another building, the professor opened the door, and the two men vanished inside. I still felt joy at this chance encounter with a Buddhist monk, but my joy was now dimmed by a note of sadness. For my heart sank at the thought that this adventure was over and I had lost the opportunity to tap a living source of the wisdom of the East. Now, I thought, that wonderful monk will go his way, and I must go my way, and our paths will never cross again.

The workings of karma are indeed strange and unfathomable! A little more than a year later, in September 1966, I entered Claremont Graduate School in California (twenty-five miles east of Los Angeles) to begin a doctoral program in philosophy. In the spring semester a Buddhist monk from Vietnam came to study in the same university and moved in just below me in the graduate residence hall. He was not “serene and self-composed” like the monk in Wisconsin but a “happy-go-lucky” type who played the banjo, sang Vietnamese folk songs, smoked French cigarettes, cooked gourmet pork and chicken dishes (though by his Mahayana monastic vows he was supposed to be vegetarian), and studied political science – a subject about which he could speak with a boldness that would have drawn blushes from Henry Kissinger. For all these reasons, despite my interest in Buddhism, I initially kept a distance from him. Still, once I got to know him, I came to like him and eventually accepted him as my first Buddhist teacher. By the time the summer of 1967 came, we were sharing the same apartment in the graduate residence hall and later moved to a small house off campus.

One day (I think it was in November 1967) he told me that a distinguished Buddhist monk from Vietnam named Ven. Thich Minh Chau was in the U.S. and would soon be visiting Los Angeles. Ven. Minh Chau, he said, was the rector of Van Hanh University and an accomplished Buddhist scholar. He had gotten a doctorate from Nalanda Buddhist Institute in India and had written an important comparative study of the Pali Majjhima Nikaya and the Chinese Madhyama Agama. My monk-friend was planning to go to L.A. to meet Thich Minh Chau and he invited me to accompany him.

So one bright morning in the late autumn we arrived at the house of the Vietnamese family with whom the distinguished monk was staying. When the Ven. Minh Chau came out from his guest room, I saw a middle-aged man draped in a yellow-orange robe, serene and self-composed, dignified in manner, radiating goodness and sagacity. He looked indeed very much like the monk that I had seen two years before crossing the campus of the University of Wisconsin. Still, I couldn’t be sure, as it was not unlikely that two middle-aged East Asian monks could look alike. I had seen the monk at Wisconsin from a distance of seventy or eighty yards and thus couldn’t distinguish his facial features very well. So I decided to inquire. I had to wait patiently while my monk-friend, Ven. Minh Chau, and the host family spoke in Vietnamese. When I got an opportunity I asked him, “Is this your first visit to America, sir?” He said, “No, I was here a few years ago.” That was what I expected. Then I asked: “By any chance, could the Venerable have been on the campus of the University of Wisconsin in early August 1965?” And he said, “In fact I was. I was visiting my friend, Professor Richard Robinson, who started a program of Buddhist Studies there.” Then I told him about that day when I had watched him walk across the campus. He chuckled gently and said, “So this is not the first time we are meeting.”

Several years later, when Ven. Thich Minh Chau next visited the U.S. (perhaps it was 1969), he stayed with us for a couple of days at our house in Claremont. Still later, when I was planning my trip to Asia to receive bhikkhu ordination and study the Dhamma, he gave me useful advice and provided me with a beautiful open letter of introduction to Buddhist authorities in Asia. I kept that letter and still have it with my belongings in Kandy. It was he who suggested that, when I go to Sri Lanka, I study with Ven. Nyanaponika Mahathera, though I could not fulfill that aim for several years after my arrival in the island. During my first years as a monk in Sri Lanka I occasionally wrote to Ven. Thich Minh Chau for advice and he always answered me promptly and thoughtfully.

I lost contact with him after South Vietnam fell to the Communists in 1975, but when planning this lecture, I recalled our earlier meetings, and these memories became so vivid that I felt I had to make inquiries about him. Through the internet, I contacted a Vietnamese webmaster in Australia and found out he is still alive in Ho Chi Minh City, though weak and ill with Parkinson’s disease. He must be close to 90 years of age. I have written a letter to him and sent it by e-mail to the Australian Vietnamese webmaster, who has forwarded it to a friend of his, a monk in Vietnam who is a former student of Ven. Minh Chau.

Over the past few decades, before his illness incapacitated him, Ven. Thich Minh Chau translated into Vietnamese the four Nikayas of the Pali Canon. This fact I learned only very recently. Now here is the remarkable and uncanny thing that raises some interesting questions. On that day in early August 1965, a twenty year old American college student, who would one day be the co-translator of the Majjhima Nikaya, translator of the Samyutta Nikaya, and (let us hope) some day the translator of the Anguttara Nikaya, encountered by sheer chance a Vietnamese monk, almost thirty years older than himself, who would translate the four Nikayas into Vietnamese. The American student at that time was not at all involved in Buddhist studies and had just started to read about Buddhism. He had no intention of meeting the monk, and in fact they did not meet face to face. Looked at from the standpoint of objective causality, the encounter was sheer coincidence. The American merely made a chance turn while taking a walk in a town he had arrived at by chance, saw the monk from the distance, and then went away without even knowing who he was. The monk didn’t see the American at all.

But what made me decide to take a walk that morning, and to turn off the lakeside road on to the campus at just that point and at just that moment? Was it really entirely a matter of chance, a mere series of random decisions? And if we can raise these questions, then let’s ask: What broader loop of conditionality might have connected my trip to California with the monk’s trip to Wisconsin at just that time? If I remember correctly, we were due to leave Brooklyn two days earlier, but a last-minute hitch forced us to postpone our departure until that Monday morning. If we had left as originally planned, my meeting with the monk would probably not have taken place.

When I left the campus, convinced we would never meet again, I did nothing to consciously facilitate another meeting with him. Yet I made a whole series of decisions, without any conscious design, that brought us into contact once again, and this time in a situation where we would be facing each other as fellow Dhamma-farers. I selected a graduate school that eventually brought me into contact with another Vietnamese monk with whom I became friends – yet I selected it without even knowing that this monk would attend that school (in fact, without even knowing anything about Vietnamese Buddhist monks); and through my friendship with him, I came to meet the monk whom I had seen two years earlier, whose deportment had so impressed me – yet without knowing that these two monks were acquainted. Though I knew that Thich Minh Chau had written a scholarly comparison of Pali and Chinese texts, years later, when I took up the work of translating Pali texts, I didn’t know that he was engaged in translating Pali Nikayas into Vietnamese. Yet our projects, in our respective mother languages, are almost identical. Was this also in some way foreshadowed in that chance encounter at the University of Wisconsin, a place to which I have never returned since that meeting and to which I shall probably never return in the course of this life?

Cuộc gặp gỡ tình cờ hai năm trước đã mở ra những cánh cửa mới, và câu chuyện về những nhân duyên sâu sắc này còn tiếp tục được hé mở trong chuyên mục Nhân vật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang