Cuối những năm 60 đầy biến động, chiến lược quân sự của Mỹ tại miền Nam Việt Nam lâm vào bế tắc, dẫn đến sự leo thang căng thẳng với những cuộc tấn công quy mô lớn. Trong bối cảnh đó, sự can thiệp quân sự đã gây ra những hệ lụy sâu sắc, ảnh hưởng đến nền độc lập và quyền tự quyết của dân tộc. Bài viết sẽ đi sâu vào những tác động của cuộc xung đột này, hé lộ cách mà người Việt Nam đã đối mặt và vượt qua thử thách, đồng thời bạn có thể tìm hiểu thêm những câu chuyện ý nghĩa khác tại Chia sẻ Đạo Phật.
Cuối năm 1964, đầu năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam đối mặt với nguy cơ thất bại. Để duy trì ảnh hưởng theo chủ nghĩa thực dân mới, chính quyền Hoa Kỳ đã thay thế bằng chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Ngày 8 tháng 3 năm 1965, lực lượng thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ xuống Đà Nẵng, đánh dấu sự khởi đầu của chiến lược này tại miền Nam. Song song đó, Hoa Kỳ tiến hành chiến dịch ném bom và tấn công bằng hải quân nhằm phá hoại miền Bắc Việt Nam. Đối với Phật giáo, sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ đã gây ra nhiều hệ lụy, cổ vũ cho các chính phủ phụ thuộc và xâm phạm quyền dân tộc tự quyết cũng như các quyền cơ bản của nhân dân Việt Nam.
Hành động của Hoa Kỳ đã gây ra sự tàn sát trên cả hai miền Nam và Bắc, hủy hoại nền văn minh và làm băng hoại xã hội Việt Nam. Cuộc chiến này bị xem là không thể chấp nhận được, bởi lẽ nền độc lập, dân chủ và tự do không thể nào đạt được khi Hoa Kỳ còn kiểm soát miền Nam. Cuộc xung đột này không đơn thuần là giữa hai miền Nam – Bắc, mà là cuộc đấu tranh giữa Hoa Kỳ và toàn thể nhân dân Việt Nam.
Nhận thức rõ tình hình, giới lãnh đạo Phật giáo miền Nam khẳng định rằng, chỉ khi chiến tranh chấm dứt và hòa bình được lập lại, người dân miền Nam mới có thể sống trong hòa giải, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau. Hòa bình là điều kiện tiên quyết để dân tộc có cơ hội phát triển, xây dựng và phát huy sức mạnh nội tại. Hòa bình được xem là “chiếc cầu” đưa nhân dân vượt qua bờ tối tăm sang bờ ánh sáng, từ sa đọa đến lành mạnh, từ nô lệ đến tự do, từ căm thù đến yêu thương, và từ đau khổ đến hạnh phúc.
Với tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc và Đạo pháp, Phật giáo miền Nam đã khởi xướng các phong trào đấu tranh đòi hòa bình cho Việt Nam. Vào ngày 12 tháng 12 năm 1965, tại phiên khai mạc Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tổ chức tại Việt Nam Quốc Tự, Sài Gòn (nay là TP. Hồ Chí Minh), Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Tăng thống Giáo hội, đã công bố “Điệp văn hòa bình”. Trong đó, ngài nhấn mạnh những thảm họa do chiến tranh gây ra cho đất nước và kêu gọi các bên tham chiến tìm kiếm giải pháp hòa bình dựa trên tình lý, nhằm tránh sự hủy diệt cho dân tộc Việt Nam. Trong “Bài giảng Kỷ niệm ngày Thành đạo” (Mồng Tám tháng Chạp năm Ất Tỵ, 1965), giới lãnh đạo Phật giáo khẳng định mong muốn thiết tha hòa bình, kêu gọi phật tử đoàn kết, lấy sự sống làm căn bản, trí thức làm phương châm và giác ngộ làm cứu cánh. Họ tin tưởng rằng lòng từ bi sẽ chiến thắng cường bạo và hòa bình sẽ đến với nhân loại nếu thực sự mong muốn.
Từ thời điểm đó cho đến ngày đất nước thống nhất (30/04/1975), các tăng, ni và phật tử miền Nam đã tích cực tham gia nhiều phong trào đòi hòa bình, thể hiện tinh thần “khế lý khế cơ”. Nổi bật trong số đó là hành động tự thiêu của nữ Phật tử Nhất Chi Mai tại chùa Từ Nghiêm (Sài Gòn) vào ngày 16 tháng 05 năm 1967, với nguyện ước:
“Xin đem thân làm đuốc,
Xin soi sáng vô minh.
Xin tình người thức tỉnh,
Xin Việt Nam hòa bình”
Nữ Phật tử Nhất Chi Mai, tên thật là Phan Thị Mai, pháp danh Diệu Huỳnh, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1934 tại Thái Bình, Tây Ninh. Bà xuất thân trong một gia đình có truyền thống hiếu học. Năm 1955, bà đỗ vào trường Quốc gia Sư phạm Sài Gòn. Bên cạnh việc dạy học, bà vẫn tiếp tục học tập và đạt Tú Tài toàn phần. Sau đó, bà trở thành sinh viên tại Đại học Vạn Hạnh và Đại học Văn khoa Sài Gòn.
Là một Phật tử thuần thành, yêu kính đạo Phật và cuộc đời, Nhất Chi Mai tích cực tham gia các hoạt động Phật sự. Bà thường xuyên đến chùa Dược Sư và chùa Từ Nghiêm để dạy học cho các ni cô. Đồng thời, bà cũng nhiệt tình tham gia các phong trào chống chiến tranh do thanh niên, sinh viên và học sinh phát động.
Nhân dịp Lễ Phật đản năm 1967, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức Lễ đài Hòa bình tại chùa Ấn Quang, kéo dài một tuần lễ cầu nguyện hòa bình cho Việt Nam. Với lòng tha thiết mong muốn hòa bình, Nhất Chi Mai đã quyết định thực hiện hành động tự thiêu vào ngày khai mạc tuần lễ cầu nguyện, lúc 7 giờ 30 sáng ngày mồng Tám tháng Tư năm Đinh Mùi (tức ngày 16 tháng 5 năm 1967) tại chùa Từ Nghiêm (Sài Gòn). Ngọn lửa hy sinh cao cả của bà đã thể hiện nỗi đau xót trước cảnh nước mất nhà tan và khát vọng hòa bình cháy bỏng cho dân tộc Việt Nam.
Nhất Chi Mai đã chuẩn bị kỹ lưỡng và bình tĩnh cho hành động của mình, thể hiện rõ trong “Lời tự thuật sau cùng”:
“Tôi viết tất cả 10 bức thư để lại. Ngày mai tôi sẽ tự lo liệu buổi lễ tự thiêu một mình. Tôi đã mời các nhà báo, nhiếp ảnh gia và một số bạn thân đến địa điểm dự định mà không cho họ biết trước điều gì sẽ xảy ra. Tôi đã mua 10 lít xăng và chọn chùa Từ Nghiêm làm nơi thực hiện.”
Hầu hết các lá thư để lại đều thể hiện rõ tâm nguyện tự thiêu của Nhất Chi Mai. Trong thư gửi nhân dân Việt Nam, bà khẳng định: “Tôi tự nguyện thiêu thân, cầu xin: Cái chết của tôi được hiểu là: Cho nền hòa bình Việt Nam, cho lòng nhân đạo và công bằng.”
Trong thư gửi giới lãnh đạo Phật giáo Việt Nam, Nhất Chi Mai viết:
“Kính bạch quý thầy,
Con là một nữ Phật tử Việt Nam.
Con yêu đạo Phật và yêu dân tộc Việt Nam.
Phật dạy con xả thân cứu đời và làm hơn nói.
Đất nước mình khổ đau như vầy,
Dân tộc mình chết chóc như vầy.
Tham vọng và hận thù hoành hành khắp quê hương,
Uất hận và khổ đau dâng khắp trời.
Con không thể ngồi yên tụng kinh và nghe thuyết pháp được,
Con xin đốt thân con.
Bắt chước Hòa thượng Quảng Đức và Giáo sư Norman Morrison (Mỹ),
Con xin đem thân mạng mình để kêu gọi tình thương và công bằng.”
Trong “Thư cuối cùng gửi Song thân”, Nhất Chi Mai một lần nữa bày tỏ sự tỉnh táo trước cái chết của mình: “Con không điên rồ dại dột dù không chắc mình làm được việc lớn. Con đường dài mà gai chông quá, mỗi người nhân bản phải đi một đoạn đường gai chông, tiếp nối bằng cách này hay cách khác, mới mong hết được đường dài.”
Trong thư ngỏ gửi hai Chính phủ Bắc Nam Việt Nam, Nhất Chi Mai đã vạch trần bản chất “tự do” mà người dân miền Nam Việt Nam phải chịu đựng: “Là công dân Việt Nam, tôi có trách nhiệm với lịch sử dân tộc và có bổn phận với quốc gia Việt Nam tôi. Tôi tưởng tôi có quyền nói lên ước nguyện của tôi về quê hương tôi chứ? Mà các Ngài đâu cho tôi nói, dù tôi ở trong vùng đất ‘TỰ – DO’.” Theo Nhất Chi Mai, dưới chế độ Sài Gòn:
“Sống mình không thể nói.
Chết mới được ra lời.”
Về bản chất cuộc chiến do Hoa Kỳ gây ra ở Việt Nam, trong thư gửi Chính phủ Hoa Kỳ, Nhất Chi Mai khẳng định:
“Bao nhiêu sáo ngữ ‘bảo vệ tự do và hạnh phúc’ cho Việt Nam mà quý Ngài dùng để làm chiêu bài bấy lâu nay, đã quá lỗi thời và lố bịch.
Bao nhiêu tấn bom đạn, bạc tiền của quý Ngài đã trút lên đầu dân tộc tôi, để tàn phá thân xác và tinh thần quốc gia của họ.
Bao nhiêu người Việt Nam có lòng với quốc gia dân tộc thì bị quý Ngài đàn áp và hãm hại.
Bao nhiêu người Mỹ sáng suốt, nhân đạo và dũng cảm chỉ trích sự lầm lạc của quý Ngài, thì bị kết án lưu đày.”
Nhất Chi Mai khẳng định sự thất bại của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là điều không thể tránh khỏi:
“Quý Ngài có biết người Việt chúng tôi, hầu hết trong thâm tâm của họ, họ chán ghét người Mỹ đã mang chiến tranh đau khổ đến cho xứ sở của họ lắm rồi không?
Càng leo thang chiến tranh, càng đổ nhiều nhân lực và tài lực tại đây, các Ngài chỉ thất bại chua cay thôi. Sự vụng về của các Ngài làm cho quý Ngài mất hết chính nghĩa.”
Và “để cứu nguy cho hàng triệu sinh mạng người Việt Nam, người Hoa Kỳ và danh dự đại cường Hiệp Chúng Quốc”, Nhất Chi Mai đề xuất 4 giải pháp:
“1. Ngưng oanh tạc Bắc và Nam Việt Nam.
2. Từ từ rút binh, giao cho người Việt Nam định đoạt số phận của họ.
3. Nhờ Liên Hiệp Quốc kiểm soát tổng tuyển cử. Người Việt Nam, nếu được tự do thực sự, họ đủ khôn ngoan để lựa chọn chế độ nào tự do và hạnh phúc.
4. Giúp đỡ nhân dân Việt Nam tái thiết xứ sở họ đã tan nát vì bom đạn của quý Ngài.”(18)
Nhất Chi Mai đã trở thành biểu tượng cho các phong trào hòa bình của các tầng lớp nhân dân miền Nam, đặc biệt là giới Phật tử và học sinh, sinh viên. Một số sự kiện tiêu biểu có thể kể đến:
– Ngay sau hành động tự thiêu của Nhất Chi Mai, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã sáng tác ca khúc “Hãy sống giùm tôi, hãy nói giùm tôi, hãy thở giùm tôi”, dựa trên lời thơ “Chấp tay tôi quỳ xuống” của bà. Ca khúc này đã nhanh chóng lan truyền và được quốc tế biết đến như một tiếng kêu hòa bình thống thiết từ Việt Nam.
– Ngày 05 tháng 01 năm 1969, Đại hội Liên đoàn Nữ Phật tử Việt Nam tại chùa Ấn Quang đã tổ chức lễ cầu nguyện hòa bình và truy điệu nữ Phật tử Nhất Chi Mai. Tại buổi lễ, các diễn giả đã nêu bật thảm trạng chiến tranh và mong muốn hòa bình sớm trở lại. Bài “Ý nghĩa cái chết của Nhất Chi Mai” đã nhấn mạnh hành động hy sinh của bà, đồng thời đưa ra ba thỉnh nguyện: 1- Yêu cầu hai phe tham chiến ngồi vào bàn hội nghị để chấm dứt chiến tranh; 2- Yêu cầu Chính phủ thực thi đại đoàn kết dân tộc để hỗ trợ cho đàm phán hòa bình; 3- Yêu cầu hạ giá sinh hoạt, đặc biệt là giá gạo, để tương xứng với mức lương của các lực lượng vũ trang, công chức và người dân.
– Tại Huế, vào tối ngày 15 tháng 05 năm 1970, tại sân trường Đại học Sư phạm, Ủy ban phối hợp sinh viên, học sinh tranh đấu đã tổ chức “Đêm Nhất Chi Mai” kỷ niệm 3 năm ngày bà tự thiêu cầu nguyện hòa bình Việt Nam. Hơn 500 sinh viên, học sinh đã tham gia cuộc rước đuốc vì hòa bình, với di ảnh Nhất Chi Mai và chim bồ câu biểu tượng hòa bình dẫn đầu. Cuộc rước đã thu hút sự cổ vũ đông đảo của người dân, với những khẩu hiệu mạnh mẽ thể hiện khát vọng hòa bình của dân tộc.
– Tuần lễ từ 31 tháng 10 đến 7 tháng 11 năm 1970, tại trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, đã diễn ra Tuần lễ triển lãm sinh hoạt sinh viên, học sinh. Sinh viên, học sinh Huế đã mang đến các tranh và hình ảnh về phong trào, trong đó có hình ảnh “Đêm Nhất Chi Mai”, góp phần khơi gợi lòng người về khát vọng hòa bình của Việt Nam. Nhiều bạn bè quốc tế, bao gồm các sinh viên Hoa Kỳ, đã bày tỏ sự cảm phục và ủng hộ cuộc đấu tranh cho nền hòa bình.
50 năm đã trôi qua kể từ ngày Nhất Chi Mai tự thiêu (16/05/1967 – 16/05/2017), nhưng hình ảnh bi tráng và hào hùng của nữ Phật tử yêu nước này vẫn được đời sau ghi nhớ. Hành động tự thiêu của Nhất Chi Mai đã góp phần lan tỏa mạnh mẽ cuộc vận động vì hòa bình Việt Nam do Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất phát động, thu hút sự tham gia của mọi tầng lớp xã hội và đóng góp quan trọng cho phong trào cách mạng miền Nam. Nhất Chi Mai đã đi vào lịch sử dân tộc, trở thành biểu tượng của sự hy sinh cao cả vì hòa bình. Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã nhận định rằng, Hòa thượng Thích Quảng Đức và Nhất Chi Mai, dù cách biệt thế hệ, đã cùng thể hiện nguyện vọng và ý chí hòa bình, nhân đạo của con người Việt Nam. Ngày nay, tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, có một con đường mang tên Nhất Chi Mai, minh chứng hùng hồn cho sự hy sinh cao cả của bà vì mục tiêu hòa bình Việt Nam trong giai đoạn lịch sử 1954 – 1975.
Trần Thị Đông Thi
Tạp chí Nghiên cứu Phật học số tháng 9/2017
– Chú thích:
(1) Trên mặt trận đấu tranh chính trị, từ sau cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm (1-11-1963), phong trào đô thị bùng phát dữ dội. Trên mặt trận quân sự, các chiến thắng như Bình Giả, An Lão, Đồng Xoài, Ba Gia đã đẩy “Chiến tranh đặc biệt” đến bờ vực sụp đổ hoàn toàn.
(2) Sứ mạng chính trị của Phật giáo Ấn Quang (bản viết tay) của nhóm Nghiên cứu, trắc nghiệm thuộc Văn phòng Phụ tá Chính trị, Văn hóa Phủ Tổng thống, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Ký hiệu tài liệu Đệ II CH-4316, tr. 3.
(3) Thích Trí Thủ, Duyên Khởi, Đặc san Đuốc thiêng Hòa bình Đại Giới đàn Phước Huệ, Nha Trang 1973, tr. 3-4.
(4) Nguyệt san Liên Hoa, số 12, ngày 6-1-1966, tr. 11.
(5) Bài giảng Kỷ niệm ngày Thành Đạo, Nguyệt san Liên Hoa, số 12, ngày 6-1-1966, tr. 22.
(6) (9) (10) (13) (14) (15) (16) (18) Thích Thiện Hoa, 50 năm chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Tập I, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, Viện Hoá Đạo, Sài Gòn, 1970, tr. 190, tr. 199, tr. 195, tr. 197, tr. 201, tr. 193, tr. 192, tr. 194.
(7) Nay là lớp 4.
(8) Gồm: 1. Lời trăn trối của người yêu Việt Nam, 2. Chấp tay tôi quỳ xuống, 3. Bức thư ngõ gửi hai Chính phủ Nam Bắc Việt Nam, 4. Bức thư ngỏ kính gửi Chính phủ Hoa Kỳ của Tổng thống Johnson, 5. Thư gửi nhân dân Việt Nam, 6. Bức tâm thư, 7. Thư gửi Quý Thượng tọa Lãnh đạo Phật giáo Việt Nam, 8. Thơ gửi lại Cha Mẹ, 9. Lời Tự thuật sau cùng, 10. Thơ cuối cùng gửi lại Song thân.
(11) Trong phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu ngày 11-6-1963 tại ngã tư đường Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng (nay là ngã tư đường Cách mạng tháng Tám – Nguyễn Đình Chiểu).
(12) Ngày 02/11/1965, Giáo sư Norman Morrison tự thiêu trước trụ sở Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ để phản đối chiến tranh Việt Nam. Kế đó, Roger Laporte và Alice Herz cũng thực hiện hành động tương tự. Theo phiếu trình Thủ tướng (Sài Gòn) ngày 25-5-1965, ngay từ khi Hoa Kỳ tiến hành “Chiến tranh cục bộ”, các giáo sư và sinh viên Hoa Kỳ đã lên tiếng chỉ trích chính sách của Tổng thống Johnson tại Việt Nam, tổ chức các cuộc hội thảo, gây áp lực lên Quốc hội và biểu tình trước Tòa Bạch Ốc.
(17) Số quân Hoa Kỳ tham chiến tại miền Nam đầu tháng 3 năm 1966 là 235.000 người; giữa tháng 2 năm 1967 là 414.000; giữa tháng 2 năm 1968 là 510.000.
(19) Theo hồi ức của Trần Tuyết Hoa, một sinh viên tham gia các phong trào sinh viên, học sinh tại các đô thị miền Nam (1963 – 1975) và là bạn thân của Nhất Chi Mai.
(20) (23) Công văn số 002767/TCSQG/S1/D/K ngày 16-1-1969 của Đại tá Trần Văn Hai, Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia kính gửi Đại tướng, Tổng trưởng Nội vụ Sài Gòn, Trung Tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, Ký hiệu tài liệu: 4209.
(21) (22) Nhiều tác giả, Lịch sử phong trào đô thị Huế 1954 – 1975, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, tr. 291, tr. 306.
(24) Thích Nhất Hạnh, Cuộc tranh đấu bất bạo động tại Việt Nam, 1969, tr. 42.
Hành động hy sinh cao cả của Nhất Chi Mai đã thắp lên ngọn lửa hòa bình, khơi dậy mạnh mẽ phong trào đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình cho dân tộc. Để hiểu rõ hơn về tinh thần và ý nghĩa của những hành động này, mời quý độc giả khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.