Giữa thập niên 1940, một luồng gió mới đã thổi vào Phật giáo Việt Nam với sự xuất hiện của Hệ phái Khất Sĩ, dung hòa tinh hoa hai truyền thống Bắc và Nam. Khám phá hành trình hình thành và con đường tìm cầu chân lý của vị Tổ sư khai sáng, Nguyễn Thành Đạt, để hiểu rõ hơn về nét đặc sắc độc đáo này, bạn có thể tìm hiểu thêm tại Chiasedaophat.
Vào khoảng thập niên 1940, tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, Phật giáo Việt Nam đã đón nhận sự ra đời của một hệ phái mới, do Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập. Với tinh thần nối truyền Chánh Pháp của Đức Phật Thích Ca, Phật giáo Khất Sĩ Việt Nam đã được hình thành, mang trong mình tinh hoa dung hợp của cả hai truyền thống Phật giáo Bắc truyền và Nam truyền, tạo nên một nét đặc sắc chỉ có tại Việt Nam.
Hành trình xuất gia và tìm chân lý của Tổ sư Minh Đăng Quang
Tổ sư Minh Đăng Quang, tên thật là Nguyễn Thành Đạt, pháp danh Lý Hườn, sinh ngày 26 tháng 09 năm Quý Hợi (1923) tại làng Phú Hậu, tỉnh Vĩnh Long. Ngài là con út trong một gia đình vốn có nề nếp hiếu đạo, tu nhân tích đức. Thân mẫu của Ngài, bà Phạm Thị Nhàn, qua đời khi Ngài mới được 10 tháng tuổi. Sau đó, Ngài được thân phụ là cụ ông Nguyễn Tồn Hiếu và bà kế mẫu Hà Thị Song nuôi dưỡng.

Gia đình của Tổ sư Minh Đăng Quang.
Thuở thiếu thời, Ngài đã bộc lộ trí thông minh, sự điềm đạm và trang nghiêm khác biệt. Bên cạnh việc học hành chăm chỉ, Ngài còn phụ giúp việc nhà và đặc biệt yêu thích nghiên cứu sử liệu tôn giáo, nhất là Tam giáo (Phật, Lão, Nho). Sự uyên bác này giúp Ngài luận giải mọi vấn đề một cách tinh tường, khiến mọi người kính phục.
Dù sinh ra trong cảnh điền viên, Ngài sở hữu một trí tuệ vượt trội và phong thái đĩnh đạc. Ngay từ khi còn trẻ, Ngài đã được gia đình và mọi người xung quanh yêu quý. Trong quá trình học tập, Ngài luôn chăm chỉ và nắm vững kiến thức. Ngoài giờ học, Ngài dành thời gian nghiên cứu sâu rộng về các tôn giáo, đặc biệt là Tam giáo, với mong muốn tìm hiểu tường tận bản chất của vạn pháp.
Trong thời gian này, Ngài đã tự tạo một thất nhỏ tại nhà để chuyên tâm tu tập thiền định. Ngài thường trầm tư mặc tưởng, có những lúc nhập định sâu hàng giờ đồng hồ, ánh mắt hướng về chân trời xa xăm, như đang suy tư về những điều siêu việt.
Quyết chí xuất gia tìm đạo
Với tâm nguyện hướng thượng mãnh liệt, Ngài nhiều lần xin phép thân phụ được xuất gia tầm chân lý. Tuy nhiên, vì tình phụ tử sâu nặng, cha Ngài không đành lòng để con trai còn quá trẻ rời xa vòng tay yêu thương. Trước sự cản ngăn của cha, Ngài nhận ra không thể dùng lý lẽ thông thường để thuyết phục. Sau nhiều đêm suy tư, Ngài quyết tâm dấn thân trên con đường giải thoát, dù phải cắt đứt tình thân:
Thôi thì thôi, thế thôi thì,
Vẹn nguyền, xin chịu lỗi nghì với cha.
Thiếu niên ngày nọ lìa nhà,
Vượt biên giới Việt – Miên xa dặm ngàn.
Lên non tìm động hoa vàng,
Tầm sư học đạo chốn Nam Vang thành.

Năm 15 tuổi, Ngài rời Việt Nam đến Campuchia tu học trong 4 năm.
Năm 15 tuổi, Ngài đặt chân đến Campuchia và may mắn gặp được một vị cao tăng người Việt. Sau khi trải qua những thử thách, Ngài được vị Thầy tin tưởng giao phó đạo nghiệp. Trong suốt 4 năm tại Campuchia, Ngài không chỉ hoàn thành bổn phận người đệ tử mà còn nghiên cứu sâu sắc Kinh Tạng và con đường Y Bát chơn truyền của Tăng xưa. Tuy nhiên, những gì học được vẫn chưa thỏa mãn chí nguyện của Ngài, nên Ngài xin phép Thầy trở về Việt Nam.
Trên đường trở về, Ngài đối mặt với một thử thách lớn lao của đời người: hiếu nghĩa song đường và duyên trần thế. Ngài đã trải qua những biến cố khiến Ngài chiêm nghiệm sâu sắc về lẽ vô thường và khổ đau của cuộc đời:
Cha già mái tóc điểm sương,
Mẹ xưa dưới mộ chút hương linh này.
Thôi thì theo cái xưa nay,
Lập gia thất để yên mây chín từng.
Nghĩa ân vành vạnh một vừng,
Có nàng thục nữ khuê trung dịu dàng.
Cảm ơn cứu tử ngàn vàng,
Nguyện cùng xướng họa cung đàn phu thê.
Phương danh nàng là Kim Huê,
Quê vùng Chợ Lớn vẹn bề công dung.
Cuộc hôn nhân với nàng Kim Huê chỉ kéo dài hơn một năm thì nàng qua đời. Sự mất mát này càng khắc sâu vào tâm trí Ngài bài học về vô thường và khổ đau, giúp Ngài củng cố thêm chí nguyện giải thoát.
Bài học về đau thương, vô thường và đoạn trường đã kiến tạo cho Ngài cảnh giới an vui, giúp Ngài tròn đầy hạnh nguyện Bồ Tát. Lần này, Ngài dốc chí ra đi, không hẹn ngày trở lại. Ngài đến Hà Tiên, định đi Phú Quốc rồi sang các nước học đạo. Tuy nhiên, khi đến nơi thì đã lỡ tàu. Ngài đã an trú tại bãi biển Mũi Nai, thiền định suốt 7 ngày 7 đêm để quán xét nhân duyên.
Trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ, Ngài ngộ ra lý vô thường, vô ngã, cảnh khổ của luân hồi. Chính tại nơi đây, Ngài đã tỏ sáng lý pháp “Thuyền Bát Nhã” để cứu độ chúng sanh. Năm đó, Ngài tròn 22 tuổi.
Mãn khai vô thượng liên đài,
Trang nghiêm thị hiện Như Lai tọa thiền.

Giữa chốn núi cao tịch lặng, Ngài sống đời phạm hạnh, ngày đêm tham thiền và khất thực.
Sau khi chứng ngộ, Ngài trở về báo tin cho gia đình rồi lên Thất Sơn tiếp tục tu tập. Ngài chọn vùng núi Thất Sơn huyền bí, nơi có nhiều hang động và ẩn tu, để dấn thân vào con đường tu hành, quyết chí thành tựu Phật quả.
Giữa núi cao trùng điệp, cây lá um tùm, chỉ có tiếng chim muông làm bạn. Đêm đến, Ngài an trú trong thiền định, ban ngày mang bình bát đi khất thực hóa duyên nơi thôn xóm theo hạnh xưa của Phật Tăng. Sau giờ ngọ, Ngài trở về nơi tịch lặng để kinh hành và trau dồi đạo quả.
Năm 1946, do chiến tranh tàn phá, Ngài được một vị hiền sĩ thỉnh về làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho để tu tập và truyền bá chánh pháp. Ngài nhận thấy đạo pháp cốt yếu là lợi ích cho chúng sanh, nên đã bằng lòng theo vị hiền sĩ về Phú Mỹ, khởi đầu cho công cuộc hoằng dương Giáo pháp Khất Sĩ.
Hoằng dương đạo pháp và khai đàn Thuyền Bát Nhã
Để đánh dấu bước đường hoằng dương Phật pháp, Ngài khai đàn giảng pháp với chủ đề “Thuyền Bát Nhã” vào ngày Rằm tháng Tư tại Linh Bửu Tự, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho. Từ đó, hình ảnh một vị sư khoác áo vàng, tay ôm bình bát đất, ngày ngày khất thực trở nên thân thuộc và được người dân kính mến. Ngài sống đời không nhà cửa, không gia đình, không tài sản, không nơi trú ngụ cố định.

Hình ảnh vị sư khất sĩ giản dị, sống đời phạm hạnh.
Ngài phát nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp”, noi gương Phật Tăng xưa sống đời giải thoát:
“Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Dục cùng sanh tử lộ
Khất hóa đô xuân thu”.
Trong những tháng đầu năm 1947, Ngài đã thu nạp cả Tăng, Ni và Phật tử tại gia. Tại đây, Ngài soạn thảo nghi thức tụng niệm, chương trình tu học cơ bản cho cư sĩ và Tăng Ni, đồng thời xây dựng nền tảng vững chắc cho hai Tăng Ni đoàn về đạo hạnh và kiến thức chánh pháp.
Đầu năm 1948, Đức Tổ sư cùng hơn 20 Tăng Ni rời Phú Mỹ, bắt đầu chuyến du hành đầu tiên về Sài Gòn, Gia Định – Chợ Lớn. Từ đó, bước chân hoằng hóa của Đức Tôn sư Minh Đăng Quang – vị sư trưởng của Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam – lan tỏa khắp nơi.
Trong các buổi thuyết pháp, Ngài luôn kêu gọi Tăng đồ sống chung tu học, thực hành giới luật. Ngài khuyến khích mọi người thương yêu nhau, không làm điều ác, và cùng nhau xây dựng một xã hội đạo đức, an vui ngay trên thế gian này bằng cách:
Mỗi người phải biết chữ
Mỗi người phải thuộc giới
Mỗi người phải tránh ác
Mỗi người phải làm thiện.
Những lời dạy của Ngài được ghi lại trong bộ Chơn lý, gồm 69 tiểu luận. Ngài đã khéo léo dung hợp giáo lý của hai tông phái Phật giáo, đưa ra con đường trung đạo, giúp mọi tầng lớp xã hội nhận chân giá trị của Đạo Phật.

Sự phát triển của Đạo Phật Khất Sĩ dưới sự dẫn dắt của Tổ sư.
Hơn trăm vị Tăng Ni xuất gia và hàng vạn Phật tử quy y theo Ngài. Hơn 20 Tịnh xá được thành lập tại các tỉnh miền Đông và đồng bằng Sông Cửu Long. Ngài hành đạo, thuyết pháp độ sanh khoảng 10 năm thì gặp nạn và vắng bóng.
Ngài chủ trương quan niệm: “Ta là tất cả, tất cả là ta, ta sống cho tất cả thì tất cả sống cho ta, tiếng ta đây là tất cả, đó tức là chơn lý vũ trụ”.
Người thực hành đúng chơn lý gọi là Khất sĩ. Khất là xin, Sĩ là học. Xin phẩm thực để nuôi thân, cho sự thiện lành để bảo giữ sự sống. Học phương pháp khắp nơi, rút kinh nghiệm. Dạy người đến kết quả thực hành. Cái xin, cái học, cái dạy, cái cho, các pháp nương sanh, mở ra con đường sáng lạn cho tất cả.
Con đường ấy là Đạo: Đạo của sống là xin nhau sống chung, Đạo của biết là học chung, Đạo của Linh là tu chung. Hơn trăm vị Tăng Ni xuất gia và hàng vạn Phật tử quy y theo Ngài. Hơn 20 Tịnh xá được thành lập tại các tỉnh miền Đông và đồng bằng Sông Cửu Long. Ngài hành đạo, thuyết pháp độ sanh khoảng 10 năm thì gặp nạn và vắng bóng.
Sự vắng bóng đầy bí ẩn của Tổ sư Minh Đăng Quang
Vào chiều ngày 30 tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1954), tại Tịnh Xá Ngọc Quang Sa Đéc, Ngài có những lời dặn dò sâu sắc về tu học, về sự mở mang đạo pháp và những dự ngôn về tương lai Phật giáo Việt Nam. Ngài cho biết sẽ đi tu tịnh tại núi “Lửa” một thời gian và dặn các đệ tử ở lại tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp.

Lời dặn dò của Tổ sư trước khi vắng bóng.
Ngài dặn: “Các con hãy ở lại mở mang mối đạo, giáo hóa chúng sanh đền ơn Chư Phật, ấy là các con theo Thầy và làm vui lòng thầy nơi xa vắng, rồi một ngày kia Thầy sẽ trở về”.
Sáng ngày hôm sau, Ngài rời Tịnh Xá Ngọc Quang đi qua Vĩnh Long, Cần Thơ. Tuy nhiên, khi đến Cái Vồn (Bình Minh), Ngài đã bị một số người ngoại đạo bắt đi và biệt tích. Từ đó đến nay, tung tích của Ngài vẫn còn là một ẩn số. Hàng chục năm trôi qua, người đệ tử vẫn luôn tưởng nhớ và cầu nguyện cho Ngài.
Mỗi năm mỗi thắp hương lòng
Cầu cho Sư Tổ thoát vòng tai ương
Trở về bên mái Phật đường
Chuyển pháp luân độ mười phương an lành.
Trái oan là nghiệp chúng sanh
Nạn tai là chuyện phải đành mà thôi.
Đành rồi, hóa giải tức thời
Khổ đau sẽ hết, nụ cười thêm xinh.
MINH ĐĂNG QUANG bóng an bình,
MINH ĐĂNG QUANG ngọn đèn linh ta bà.
Hàng năm, môn đồ tứ chúng vẫn luôn tưởng nhớ và tâm niệm:
MINH ĐĂNG QUANG bóng an bình
MINH ĐĂNG QUANG ngọn đèn linh ta bà.
Lời dạy của Đức Thế Tôn về việc không nên oán hận hay báo thù, mà hãy buông bỏ oan trái, là kim chỉ nam cho người đệ tử. Sự vắng bóng của Tổ sư được xem là một thử thách, một bài học để vượt qua, làm nên đạo Bồ Đề.
“Quỳnh trong nước mắt, sen trong lửa
Phút nhập thần sương bạc khói lam
Chia nẻo khói sương về tới đích
Cả hai cùng hiện một hoa đàm”.

Tinh thần xả kỷ lợi tha, từ bi bất diệt của Chư Bồ Tát và Đức Phật.
Dấn thân vào cõi sanh tử, hòa giải để trả nghiệp, chuyển hóa nghiệp, tạo hạnh phúc an vui cho vạn loài. Đây là tinh thần xả kỷ lợi tha, từ bi bất diệt của Chư Bồ Tát, Đức Phật và giáo pháp Khất Sĩ Việt Nam.
Dù Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang đã vắng bóng hơn 50 năm, chư đệ tử Tăng Ni và Phật tử vẫn một lòng kính ngưỡng, tiếp nối sự nghiệp hoằng pháp, gìn giữ và phát huy giáo lý Y – Bát Khất Sĩ.
Lời dạy của Tổ sư Minh Đăng Quang
Nhờ tinh thần truyền thừa và sự tinh tấn của Tổ sư, Phật giáo Khất Sĩ đã phát triển mạnh mẽ trên khắp đất nước. Tuy nhiên, con đường tu hành không tránh khỏi những thử thách. Một số Tăng Ni, Phật tử đã có biểu hiện sa sút, thối chuyển. Điều này nhắc nhở chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật, quán xét sự biến hiện của các pháp, chuyển hóa chúng thành bài học kinh nghiệm, như lời Phật dạy: “Phiền não tức Bồ Đề”.
Chư Tôn Trưởng Lão, Tăng Ni và Phật tử đã trải qua biết bao khó khăn để giữ gìn thành quả ngày hôm nay. Con đường phía trước cũng không ít thử thách:
“Kẻ đến chân non, kẻ mệt đờ
Kẻ còn xa lắc,kẻ xa lơ
Kẻ đang muốn “ bán đồ nhi phế”
Kẻ đã lưng cao tự thuở giờ”.

Hãy giác ngộ khi Tổ sư xem thử thách là cơ hội để làm nên đạo Bồ Đề.
Chúng ta cần nhận thức rõ ràng rằng, có người đang tiến bước, có người đang chán nản, và có người sẽ chán nản. Tuy nhiên, niềm tin kiên định sẽ không lay chuyển, bởi vẫn còn đó những người đã vững chãi trên con đường tu tập. Hào quang của chư Phật, chư Tổ luôn soi sáng dẫn lối.
Hằng năm, vào ngày này, các đạo tràng Tịnh Xá trên khắp thế giới đều trang nghiêm tưởng niệm ngày Đức Tôn Sư vắng bóng. Dù Ngài đã xa vắng 55 năm, tấm lòng người đệ tử hiếu đạo vẫn luôn vẹn nguyên. Chúng ta nguyện ghi nhớ tấm gương Bi – Trí – Dũng của Ngài để làm rạng rỡ tông môn Pháp phái.
Dù mai sau mỗi người tu tập một nơi, mong rằng chư huynh đệ Tăng Ni, Phật tử luôn khắc ghi lời dạy của Ngài:
“Từ ngàn trước bao người dong ruổi
Nay chốn này đến buổi chúng ta
Con giòng hưởng lấy tài gia
Đoái nhìn sự nghiệp thương cha công trình.
Càng rộng lớn kinh dinh đồ sộ
Là người xưa lao khổ lại càng
Tìm ra được ánh đạo vàng
Nhọc nhằn một kẻ, vẻ vang muôn người.
Ôi thật đáng cho đời kính ngưỡng
Công đức Ngài vô lượng vô biên
Hởi chư Phật tử hữu duyên
Nhớ ơn Thầy Tổ cần chuyên tu hành”.
Bí ẩn quanh sự ra đi của Tổ sư Minh Đăng Quang vẫn còn đó, mời quý độc giả tìm hiểu sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của Ngài trong chuyên mục Đạo phật.
