Tôn sư Minh Đăng Quang đã khai sơn Hệ phái Khất sĩ, và dưới sự dẫn dắt của Người, Ni trưởng Huỳnh Liên đã noi gương hành đạo, lan tỏa chân lý Phật Đà. Bà đã dấn thân vào sự nghiệp hoằng pháp, mở rộng lòng từ bi, hỗ trợ những mảnh đời khó khăn, đồng thời là một tiếng nói mạnh mẽ cho hòa bình và quyền bình đẳng. Khám phá hành trình phụng sự cao cả của Ni trưởng và những di sản ý nghĩa của Người tại Chia sẻ Đạo Phật, đặc biệt là dấu ấn tại Tịnh xá Ngọc Phương.
Sau khi xuất gia tu học dưới sự dẫn dắt của Tổ sư Minh Đăng Quang, người khai sơn Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Ni trưởng Huỳnh Liên đã được Tổ sư thọ ký pháp danh và trực tiếp học hỏi giáo lý. Thông qua những bài giảng chân lý và những thử thách trên đường hành đạo, Ni trưởng đã rèn luyện ý chí, trau dồi phẩm hạnh, nhằm khai thị pháp thân, nối truyền huệ mạng và tuyên lưu giáo pháp Phật Đà. Với sự ủy thác của Tổ sư, Ni trưởng đã đảm nhận trọng trách tiếp chúng độ Ni, trở thành một trưởng tử trong hàng Ni giới.
Ni trưởng Huỳnh Liên (1923-1987)
Với nguyện vọng trở thành điểm tựa vững chắc cho phái nữ, Ni trưởng đã nỗ lực điều hành Giáo hội Ni giới Khất sĩ song hành cùng Giáo hội Tăng già. Bà đã góp phần lan tỏa Phật pháp sâu rộng trong cộng đồng, khai mở các đạo tràng, giáo dưỡng môn đồ, hỗ trợ nạn nhân chiến tranh, cưu mang quả phụ và trẻ mồ côi. Đồng thời, Ni trưởng còn tích cực tham gia đấu tranh giành hòa bình, thống nhất đất nước, bảo vệ quyền sống của phụ nữ.
Đặc biệt, Tịnh xá Ngọc Phương, trung tâm của Ni giới Hệ phái Khất sĩ và là nơi lưu giữ nhiều dấu ấn lịch sử của Ni trưởng Huỳnh Liên, được thành lập từ năm 1958. Đây là một trong số hơn một trăm ngôi tịnh xá từ Quảng Trị đến Cà Mau mà Ni trưởng đã kêu gọi và đóng góp xây dựng. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự quản lý của Ni trưởng Huỳnh Liên, có gần 20 tịnh xá trực thuộc Ni giới Khất sĩ. Các tịnh xá này luôn rộng mở cửa đón nhận nạn nhân chiến tranh, trẻ mồ côi, đồng thời hỗ trợ các phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh và những người làm cách mạng.
Ni trưởng Huỳnh Liên trên đường hành đạo
Với chủ trương bất bạo động, Ni trưởng Huỳnh Liên đã dẫn dắt các cuộc biểu tình lên án cuộc chiến tranh do Chính phủ Mỹ gây ra tại Việt Nam. Bà cũng phản đối việc chính quyền Sài Gòn đàn áp, bắt bớ sinh viên, học sinh, kỳ thị tôn giáo, phá hoại cơ sở tín ngưỡng và đàn áp tù chính trị. Ni trưởng còn tích cực đấu tranh đòi lập lại hòa bình tại Việt Nam. Bên cạnh đó, bà còn hướng dẫn Ni giới Khất sĩ tham gia nhiều phong trào yêu nước khác, bao gồm việc hỗ trợ công nhân bị bóc lột trong các cuộc đình công và vận chuyển tài chính, thuốc men đến các chiến trường miền Tây Nam Bộ.
Đáng chú ý, việc Ni trưởng tham gia thành lập và giữ vai trò cố vấn cho phong trào “Phụ nữ Đòi quyền sống”, ra mắt tại chùa Ấn Quang vào ngày 02/08/1971, đánh dấu bước phát triển toàn diện trong các hoạt động yêu nước của Ni giới Khất sĩ. Trụ sở của phong trào đặt tại Tịnh xá Ngọc Phương, dưới sự lãnh đạo của bà Ngô Bá Thành, với tuyên ngôn mạnh mẽ: “Đòi Mỹ rút quân về nước, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi thành lập một chính phủ thật sự đại diện cho nhân dân miền Nam, đòi quyền sống và bảo vệ nhân phẩm phụ nữ”. Phong trào Phụ nữ Đòi quyền sống đã diễn ra sôi nổi tại Sài Gòn, nhận được sự ủng hộ rộng rãi và có ảnh hưởng lớn đến các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Trong những năm tiếp theo, Ni trưởng tiếp tục tham gia thành lập Mặt trận Nhân dân tranh thủ dân chủ hòa bình, do cụ Đặng Văn Ký làm chủ tịch.
Trong bối cảnh chiến tranh ngày càng leo thang, Ni trưởng Huỳnh Liên càng hòa mình sâu sắc vào các phong trào quần chúng. Bà đã lãnh đạo các cuộc đấu tranh không dùng vũ lực, mà dựa vào trí tuệ, sự kiên trung và quyết liệt, không quản ngại gian khổ, hy sinh vì quyền sống và hòa bình của dân tộc. Các biện pháp đấu tranh thông minh, linh hoạt của Ni trưởng đã khiến kẻ địch trở tay không kịp. Từ đó, danh hiệu “Đội quân đầu tròn”, bên cạnh “Đội quân tóc dài”, đã đi vào lịch sử đấu tranh của dân tộc. Những hoạt động của Ni trưởng đã gây ra nhiều khó khăn cho chính quyền Sài Gòn, buộc họ phải đáp ứng một số yêu sách chính đáng của Phật giáo và nhân dân. Các phong trào đấu tranh tiếp tục diễn ra mạnh mẽ với mục tiêu rõ ràng: đòi dân quyền, dân sinh, dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí, trả tự do cho tù nhân chính trị, thực hiện Hiệp định Paris, và xây dựng hòa bình, hòa giải, hòa hợp dân tộc. Những nỗ lực này đã nhận được sự đánh giá cao từ nhiều giới.
Ni trưởng Huỳnh Liên và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc tại miền Nam Việt Nam
Mặc dù Chiến dịch Mùa Xuân 1975 đã đại thắng, dân tộc ta vẫn còn nhiều nỗi khổ đau, và lòng từ bi của Bồ-tát trong Ni trưởng vẫn trĩu nặng ưu tư. Bà tiếp tục nhiệt tình hưởng ứng và vận động chư Ni, Phật tử đóng góp tài vật để thực hiện chính sách hậu phương quân đội, phúc lợi xã hội, hỗ trợ tuyến đầu Tổ quốc. Bà cũng khuyến khích tinh thần đoàn kết tương trợ đối với người già neo đơn, thiếu niên tàn tật, các trại nuôi trẻ mồ côi, và các gia đình thương binh liệt sĩ. Ni trưởng còn thăm hỏi và tặng quà cho thương bệnh binh, bệnh nhân nghèo tại các trung tâm, cũng như trẻ em khuyết tật. Ngoài ra, bà còn hướng dẫn Ni giới Khất sĩ tham gia trực tiếp vào các công tác xã hội, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh và vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam. Tất cả những hành động này đều toát lên vẻ đẹp của một tâm hồn cao thượng, tấm lòng vô ngã vị tha. Ni trưởng mong ước một xã hội công bằng, văn minh, bình đẳng, nơi mọi người đều có cơm no áo ấm, nhìn nhau bằng ánh mắt thiện cảm, đoàn kết và yêu thương. Ni trưởng Huỳnh Liên “thật sự là hiện thân của hòa bình, nhuần nhuyễn tinh thần Phật giáo và tinh thần dân tộc”, như được thể hiện qua bài thơ:
“Dầu tu sĩ cũng công dân đất nước,
Vì tình thương, vì đạo đức đấu tranh.
Cho tự do trong độc lập hòa bình,
Cho hạnh phúc trong phồn vinh vĩnh cửu”.
(Khúc Thanh Bình)
Dù bận rộn với các công tác từ thiện xã hội, Ni trưởng luôn dành thời gian vận dụng trí tuệ, nỗ lực dùng thân, khẩu, ý để giáo hóa môn đồ và độ trì cư gia bá tánh. Với thiên phú về thi ca, Ni trưởng đã để lại cho đời hơn 2.000 bài thơ, bài kệ và hàng ngàn bản văn xuôi. Phần lớn tác phẩm của bà nhằm khích lệ, sách tấn hội chúng xuất gia cũng như tại gia nỗ lực tu tập, lấy Giới, Định, Tuệ làm nền tảng để trừ diệt tham sân si, sống trong sạch, giải thoát thanh cao và trau dồi kiến thức. Bà nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đoàn kết, thực hành pháp tam tụ lục hòa, vong kỷ lợi tha, tinh cần tu tập để tự độ và độ tha, thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng “tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự”, đáp ơn Phật pháp và Tổ Thầy. Thơ văn của Ni trưởng còn nhắc nhở về vô thường, khổ, không, vô ngã, khuyến khích hành thập thiện, lục độ, sống thuần lương. Đồng thời, bà còn gửi gắm hoài bão của cư sĩ, kêu gọi tinh thần dân tộc và thúc giục đấu tranh giải phóng quê hương. Để giúp Ni chúng và Phật tử thấu hiểu sâu sắc kinh tạng Hán và Pali, Ni trưởng đã chủ trương Việt hóa bằng cách diễn dịch các kinh này ra quốc ngữ dưới dạng văn vần, giúp việc học tập, thấu hiểu và ghi nhớ trở nên dễ dàng hơn. Các kinh tụng thường nhật như kinh Di Đà, Hồng Danh, Vu Lan, Phổ Môn, Báo Hiếu, Bát Nhã Tâm kinh, kinh Vô Ngã Tướng, kinh Pháp Cú, Di Giáo, Tứ Thập Nhị Chương, Khóa Hư Lục, Qui Sơn Cảnh Sách… đã được Ni trưởng diễn dịch và xuất bản, tái bản nhiều lần. Lời thơ của bà giản dị, trong sáng, sử dụng hình ảnh cụ thể, gợi cảm, dễ dàng chạm đến lòng người.
Thơ đạo của Ni trưởng, theo Giáo sư Hoàng Như Mai, mang vẻ đẹp của những đóa hoa đồng nội, mộc mạc, thân mật, không cầu kỳ, ươm trồng. Đó là hương quê, là của chung của mọi người, ai cũng có thể chiêm ngưỡng, thưởng thức. Cách tiếp cận gần gũi này thể hiện cách Ni trưởng mang đạo pháp đến gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân.
Đặc biệt, trong sự nghiệp giáo hóa và dẫn dắt Ni chúng, Ni trưởng luôn ấp ủ hoài bão đào tạo Tăng tài để “kế vãng khai lai”. Ngoài việc hướng dẫn Ni chúng chuyên tu giải thoát, bà còn khuyến khích và hỗ trợ Ni chúng học thêm văn hóa, mở rộng kiến thức Phật pháp. Ni trưởng chủ trương: “Tu có học mới rạng ngời chánh pháp; học có tu mới lợi đạo, ích đời”. Bà thường xuyên nhắc nhở chư Ni: “Mỗi người học chữ phải trau giồi đạo đức, lấy sự tu chứng làm việc chứ không phải chỉ học suông. Mỗi người phải biết lấy công ơn tín thí, công ơn Thầy Tổ làm rường cột, kim chỉ nam cho sự học và hành đạo” (trích Lời di chúc của Ni trưởng).
Trong quá trình tu học, Ni trưởng cũng khuyến khích chư Ni tham gia lao động sản xuất, xây dựng nền kinh tế tự túc cho tự viện. Điều này không chỉ góp phần cải thiện đời sống của chư Ni và Phật tử mà còn tạo ra của cải vật chất cho xã hội, đóng góp vào sự phát triển của đất nước Việt Nam và làm cho Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng tươi đẹp hơn.
Mặc dù Ni trưởng đã an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng, sự nghiệp của bà vẫn còn mãi. Hình ảnh của bà sống trong lòng thành phố, trong tâm khảm những người con Phật, trong tim Đảng và nhân dân. Cụ Huỳnh Tấn Phát, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đã viết: “Vô cùng thương tiếc Ni sư Huỳnh Liên, một vị chân tu giàu lòng yêu nước, bất chấp sự đàn áp dã man của địch, sẵn sàng chấp nhận mọi sự gian khổ hy sinh, kiên quyết xuống đường, đấu tranh dũng cảm kiên cường vì nền độc lập tự do của đất nước và nêu cao tinh thần xả thân vì chánh nghĩa theo gương sáng của Đức Phật”. Điều này hoàn toàn phù hợp với tâm nguyện của Ni trưởng:
“Đi ta đi! Quyết dấn thân vào,
Chốn khổ đau mà sớt khổ đau.
Người Việt lâm nàn, người Việt cứu,
Tương thân, tương trợ nghĩa đồng bào”.
(trích Lên Đường Cứu Khổ)
Niềm tin yêu cuộc sống, khát vọng hòa bình, tự do và công lý đã thôi thúc giới tu sĩ Phật giáo Việt Nam tiếp nối truyền thống phụng đạo cứu đời của các Thiền sư thời Đinh, Lê, Lý, Trần. Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, nhiều tu sĩ đã cống hiến trọn đời cho đạo pháp và dân tộc. Trong số đó, Ni trưởng Huỳnh Liên nổi bật với vai trò Ủy viên Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam, Phó Chủ tịch Mặt trận thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Hòa bình thế giới thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh, Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam.
Ni trưởng Huỳnh Liên đọc tham luận tại Đại hội thống nhất Phụ nữ toàn quốc (năm 1976)
Ngày nay, đứng tại Tịnh xá Ngọc Phương – nơi Ni trưởng đã từng gắn bó, làm việc và hành đạo, nay được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là “Di tích lịch sử” theo Quyết định số 2754QĐ/BT ngày 15/10/1994 – chúng tôi cảm thấy có quá nhiều điều muốn nói. Dù thời gian có trôi đi, tấm gương sáng chói, công hạnh tuyệt vời, chí nguyện cao cả, đức trí viên dung và tinh thần bất khuất của Ni trưởng mãi mãi khắc sâu và rạng chiếu trong tâm khảm Ni giới Khất sĩ. Sự nghiệp của Ni trưởng đã viên mãn, báo thân Ngài đã rời xa cõi đời, để lại niềm tiếc thương vô hạn. Tuy nhiên, đạo nghiệp của Người vẫn luôn vẻ vang, sáng chói trong mọi hoạt động Phật giáo và dân tộc:
“Chí bất khuất vì hạnh phúc tự do,
chiếc áo Khất sĩ làm vẻ vang trong Ni giới;
Nguyện kiên cường cho hòa bình độc lập,
tấm thân nữ lưu nêu gương sáng chốn tòng lâm”.
(Hòa thượng Thích Từ Thông)
Tấm lòng vì Đạo, vì Đời của Ni trưởng mênh mông, bát ngát như biển khơi. Chúng con thành kính trân trọng những bước đi vừa hùng lực, vừa từ bi hỷ xả của Ngài. Chúng con nguyện mãi mãi tinh tấn tu tập, thực hiện những hoài bão mà Ni trưởng đã dành cả đời tâm niệm.
(Trích Bài Tham Luận Hội Thảo Quốc Tế Sakyadhita Lần Thứ 11
Về Phụ Nữ Phật Giáo tại TP. Hồ Chí Minh – Việt Nam)
Những đóng góp và di sản của Ni giới Khất sĩ, với Ni trưởng Huỳnh Liên là một biểu tượng, còn tiếp tục lan tỏa và truyền cảm hứng. Để hiểu rõ hơn về những khía cạnh sâu sắc của Phật giáo và vai trò của Ni giới trong đó, mời bạn khám phá thêm tại chuyên mục Đạo phật.