Trong giáo lý nhà Phật, nghi thức cúng thí thực là một hành động từ bi sâu sắc, giúp đỡ những linh hồn còn vương vấn nơi cõi âm. Đây không chỉ là một pháp tu bố thí, mà còn là sự kết nối tâm linh thông qua nguyện lực và thần chú, biến những vật phẩm nhỏ bé trở nên vô lượng. Tìm hiểu thêm về ý nghĩa và cách thực hiện tại Chia sẻ Đạo Phật.
Ý nghĩa sâu sắc của nghi thức cúng thí thực trong Phật giáo
Theo quan niệm Phật giáo, những người khi còn sống tạo nhiều nghiệp ác như sát sinh, trộm cắp, không tu tập thiện pháp, khi qua đời sẽ không được vãng sinh về cõi an lạc mà phải đọa vào địa ngục hoặc cõi ngạ quỷ. Chúng sinh ở cõi ngạ quỷ phải chịu đựng sự khổ đau cùng cực của đói rét, luôn khao khát nhận được sự bố thí, giúp đỡ từ người thân ở cõi dương. Nghi thức cúng thí thực ra đời nhằm mục đích mang đến sự cứu giúp này, giúp họ nhận được phẩm vật cúng dường.
Nghi thức cúng thí thực mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng, đó là thực hành pháp tu hạnh bố thí. Chúng ta nhận thức rõ rằng, việc bố thí cho người còn sống đã dễ dàng hơn bởi đó là sự trao đổi giữa người thật và vật thật. Tuy nhiên, việc cúng thí cho những vong linh ở cõi âm đòi hỏi sự gia trì bằng nguyện lực và thần chú của người thực hiện. Người thực hành nghi thức này, nương vào oai thần gia trì của chư Phật, Bồ Tát và sức mạnh của chân ngôn (thần chú), có thể biến những vật phẩm cúng dường nhỏ bé trở nên vô lượng, giúp các cô hồn no đủ và mãn nguyện.
Để nghi thức cúng thí thực đạt được thành tựu viên mãn, người thực hiện cần có một tâm thành kính, tâm hoan hỷ. Trong suốt quá trình thực hiện, cần chú tâm tưởng nhớ đến thực phẩm và thức uống đang cúng dường. Chỉ khi hội đủ những yếu tố này, các cô hồn mới có thể thực sự tiếp nhận và cảm nhận được sự no đủ, mãn nguyện từ tâm thành của người cúng.

Nghi thức cúng thí thực là một nét đẹp văn hóa tâm linh của người Việt.
Chi tiết nghi thức cúng thí thực
Chuẩn bị lễ vật
- Một đĩa muối gạo
- Mười hai chén cháo trắng loãng hoặc ba vắt cơm
- Mười hai cục đường thẻ
- Mía (để nguyên vỏ, chặt thành từng khúc khoảng 15cm)
- Bánh kẹo và tiền lẻ các mệnh giá
- Ngô luộc, khoai lang luộc, sắn luộc và bỏng ngô
- Năm loại trái cây ngũ sắc
- Ba ly nước nhỏ, hai ngọn nến nhỏ và ba cây nhang
Các bước thực hiện nghi thức cúng thí thực cô hồn
1. Nguyện hương
(Thực hiện trong tư thế quỳ hoặc đứng. Tùy duyên có thể đọc phần dùng hương nén, hương trầm hoặc hương tâm)
Trường hợp sử dụng hương nén, hương trầm:
Nguyện đem lòng thành kính Gửi theo đám mây hương Phảng phất khắp mười phương
Trường hợp sử dụng hương tâm:
Nguyện ý thành, tâm kính Biến mãn khắp mười phương
(Tiếp theo, áp dụng cho mọi trường hợp)
Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ đạo Theo tự tính làm lành Cùng pháp giới chúng sinh Cầu Phật từ gia hộ Tâm Bồ Đề kiên cố Chí tu đạo vững bền Xa biển khổ nguồn mê Chóng quay về bờ giác Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát! (Thực hiện 3 hồi chuông)
2. Văn khấn
(Thực hiện trong tư thế quỳ hoặc đứng, chắp tay)
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Chúng con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, cùng chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con.
Đệ tử con tên là:… Pháp danh (nếu có):… hiện cư ngụ tại địa chỉ:… (và đang tạm trú tại…) thuộc thành phần (nhân dân/Phật tử).
Hôm nay là ngày… tháng… năm… nhân duyên (gia đình; cơ quan; cửa hàng)… chúng con tổ chức lễ (tên lễ)… Chúng con xin vâng theo lời Đức Phật dạy, thực hành tu tâm từ bi, hướng tới các vong linh khổ đói nơi cõi ngạ quỷ. Vì vậy, chúng con xin sắm sửa vật thực với lòng thành kính, xin hiến cúng đến các vong linh cô hồn ngạ quỷ, đồng thời cũng là để cầu phước lành cho (gia đình; cơ quan; cửa hàng)… chúng con. Chúng con cũng xin thỉnh mời chư Thiên, chư Thần Linh vân tập về nơi pháp hội để ủng hộ cho buổi lễ của chúng con.
Chúng con xin nương oai lực Tam Bảo, nguyện hạnh nguyện độ sinh, độ cho các vong linh của chư Tăng chùa Ba Vàng. Chúng con xin thỉnh mời các vong linh cô hồn ngạ quỷ không nơi nương tựa, không người nương đỡ, đang lang thang đói khổ, các vong linh có duyên trong khu vực này, có duyên với khóa lễ này, được nương nhờ oai lực của Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo mà vân tập về tại khóa lễ hiến cúng này, được nghe kinh pháp để giác ngộ và thọ nhận tài vật ẩm thực mà chúng con hiến cúng.
Trường hợp cúng dường hồi hướng tại khóa lễ cúng thí thực: Chúng con cũng xin phát nguyện cúng dường tịnh tài với số lượng là… về chùa Ba Vàng, phường Quang Trung, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh để hồi hướng cho tất cả chư vị trong cõi tâm linh mà chúng con đã mời về tham dự khóa lễ này.
(Tiếp theo)
Giờ này, chúng con xin thỉnh mời tất cả chư vị trong cõi tâm linh mà chúng con đã thỉnh mời, được nương nhờ oai lực của Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo mà vân tập về tại khóa lễ này, được nghe kinh pháp để giác ngộ và thọ nhận tài vật ẩm thực mà chúng con hiến cúng. Chúng con nhất tâm mời thỉnh. (Thực hiện 3 lần) Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (Thực hiện 1 hồi chuông. 1 lễ)
3. Lễ Phật
(Thực hiện trong tư thế quỳ hoặc đứng, chắp tay. Sử dụng pháp khí: khánh, chuông)
Đại từ đại bi thương chúng sinh, Đại hỷ đại xả cứu hàm thức, Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm. Chúng con chí tâm thành đảnh lễ. (Thực hiện 1 hồi chuông)
Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (Thực hiện 1 hồi chuông. 1 lễ) Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (Thực hiện 1 hồi chuông. 1 lễ) Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (Thực hiện 3 hồi chuông. 1 lễ)
4. Tán Pháp
(Thực hiện trong tư thế ngồi hoặc đứng. Sử dụng pháp khí: khánh, chuông mõ)
Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn, Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp. Nay con nghe thấy vâng gìn giữ, Nguyện hiểu nghĩa chân Đức Thế Tôn. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (Thực hiện 3 lần. 3 hồi chuông)
5. Tụng Kinh
(Thực hiện trong tư thế ngồi hoặc đứng. Sử dụng pháp khí: mõ, chuông)
Bài kinh: Kinh Cúng Linh
Bài kinh: Chuyện Tiểu Chủ Ngân Khố
6. Khai thị cho vong linh
(Chủ sám thực hiện trong tư thế quỳ hoặc đứng, đại chúng ngồi/đứng chắp tay hướng theo)
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Chúng con xin được nương oai lực của Tam Bảo, khai thị cho các vong linh về ý nghĩa lời Đức Phật dạy trong hai bài kinh liên quan đến việc làm hôm nay của chúng con.
Kính thưa chư vị vong linh, nội dung bài kinh “Cúng Linh” mà chúng con vừa đọc, Đức Phật dạy rằng: người đã mất khi tái sinh làm vong linh ngạ quỷ, sẽ thọ nhận được thức ăn (được làm đúng pháp, không sát sinh) do người tại thế hiến cúng. Bài kinh “Chuyện tiểu chủ ngân khố” kể về ông tiểu chủ ngân khố. Khi còn sống, vì có nhiều tiền của, ông ham mê hưởng thụ dục lạc, làm nhiều việc ác và không tạo công đức bố thí, cúng dường. Sau khi qua đời, vì không có phúc phần dự trữ, ông bị đọa làm vong linh ngạ quỷ, phải chịu quả báo đói khát đau đớn. Vì quá khổ sở, ông thường đến cầu xin bà con thân quyến giúp đỡ. Tuy nhiên, do họ có tà kiến, tin rằng sau khi chết, con người sẽ lại được sinh trở lại làm người ở đâu đó trong cõi nhân gian này, nên họ không quan tâm đến việc cứu giúp ông.
May mắn thay, ông có một người con gái có đức tin. Cô ấy nghĩ rằng do hành nghiệp ác của cha mình khi còn sống, nên sau khi chết, ông có thể đã sinh làm vong linh ngạ quỷ và phải chịu khổ. Vì vậy, cô đã sắm sửa đồ ăn, vật dụng để cúng dường cho các vị tu sĩ ngoại đạo Bà La Môn, với hy vọng họ sẽ hồi hướng phúc báu đến cho cha mình, giúp ông siêu sinh và được an lành, hạnh phúc. Cô đã sắm sửa đồ dùng, vật thực dâng cúng cho các thầy tu ngoại đạo Bà La Môn, đồng thời khấn mời cha mình đến đó để nhận phần phúc do các vị Bà La Môn hồi hướng. Tuy nhiên, do các thầy Bà La Môn tu theo tà kiến, không sinh được công đức phước báu để cứu giúp các vong linh ngạ quỷ, nên khi họ hồi hướng, ông chẳng nhận được gì.
Sau đó, nhờ vua A Xà Thế thiết lễ cúng dường tứ sự cho Đức Phật và tập thể chư Tăng đang tu tập trai giới phạm hạnh, và hồi hướng phúc báu đó đến cho ông. Nhờ công đức tu hành cao quý của Đức Phật và chư Tăng, phúc báu đã phát sinh đến cho ông, giúp ông thoát khỏi kiếp ngạ quỷ đói khổ, và được trở thành một vị thần đầy oai lực, sống sung túc.
– Trường hợp đã bạch cúng dường: Vâng theo lời Đức Phật dạy, trong khóa lễ cúng thí thực này, (gia đình; cơ quan; cửa hàng)… chúng con đã bạch phát nguyện cúng dường Tam Bảo, nhằm hồi hướng công đức cho tất cả các chúng sinh trong cõi tâm linh đã được mời về tham dự khóa lễ cúng thí thực này. Kính thỉnh chư vị hoan hỷ thọ nhận, nương tựa Tam Bảo tu hành để sớm thoát khổ.
(Tiếp theo)
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (Thực hiện 1 vái)
7. Phát Nguyện Bồ Đề
(Thực hiện trong tư thế quỳ hoặc đứng, chắp tay)
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, kính thỉnh các chúng sinh trong cõi tâm linh cùng chúng con tùy hỷ công hạnh Bồ Đề:
“Phát tâm Bồ Đề Hộ trì Tam Bảo Chuyển tải Phật Pháp Rộng khắp thế gian”
Nguyện cho chư vị tinh tấn tu hành Bồ Đề, cầu thành Vô Thượng Đạo. (Thực hiện 1 hồi chuông. Lễ 1 lễ/vái)
8. Cúng thực
a. Văn bạch (Chủ sám thực hiện trong tư thế quỳ hoặc đứng, chắp tay)
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Giờ này, chúng con xin tác lễ cúng dường vật thực. Trường hợp trên mâm cúng có thịt từ việc sát hại chúng sinh, xin đọc: Do nhân duyên các thành viên trong (gia đình; cơ quan, cửa hàng)… chúng con, chưa thấu hiểu Phật Pháp nên đã có hành động sát hại chúng sinh để cúng lễ trong khóa lễ cúng thí thực này, chúng con xin bạch không dâng cúng các phần thịt chúng sinh đó. Chúng con xin bạch chỉ dâng cúng vật thực có nguồn gốc từ rau củ quả và vật thực từ tam tịnh nhục.
(Tiếp theo)
Thượng: Xin dâng lên cúng dường thập phương chư Phật chứng minh. Trung: Xin dâng lên cúng dường chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh. Hạ: Xin dâng cúng đến cho chư Thiên, chư Thần Linh. Sau: Xin hiến cúng cho tất cả các chúng vong linh mà chúng con đã thỉnh mời.
Nguyện cho các vong linh được nương vào sự bố thí trong khóa lễ cúng thí thực này của chúng con mà được thọ thực no đủ. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (Thực hiện 1 hồi chuông. 1 vái)
b. Tụng thần chú cúng thực
(Thực hiện trong tư thế ngồi hoặc đứng, chắp tay. Sử dụng pháp khí: mõ, chuông)
Biến thực chân ngôn: Nam mô tát phạ đát tha nga đá phạ rô chỉ để ám tam bạt ra tam bạt ra hồng. (Thực hiện 3 lần. 1 hồi chuông) Biến thủy chân ngôn: Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha. (Thực hiện 3 lần. 1 hồi chuông) Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (Thực hiện 3 lần. 3 hồi chuông)
Nguyện cho các vong linh Được thọ thực no đủ Nghe kinh giác ngộ Pháp Sinh lòng kính tín Phật Nương tựa nơi Tam Bảo Tu hành cầu thoát khổ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (Thực hiện 1 hồi chuông. 1 vái)
9. Phục nguyện
(Thực hiện trong tư thế quỳ hoặc đứng, chắp tay)
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Chúng con nguyện đem công đức trong khóa lễ hiến cúng này, công đức đã tạo lập được trong ngày hôm nay, nguyện hồi hướng về Vô Thượng Bồ Đề và hồi hướng cho chư vị trong cõi tâm linh mà chúng con đã bạch thỉnh. Nguyện cho tất cả chư vị được tăng thêm phước, nương tựa Tam Bảo tu hành, sớm giác ngộ, xả bỏ oán kết, và cùng kết duyên pháp lữ với chúng con để thực hành công hạnh Bồ Đề, đời đời kiếp kiếp luôn được trợ duyên cho nhau tu hành cho đến ngày thành Phật.
Và chúng con cũng xin hồi hướng cho hiện tại, nguyện được (đọc mong cầu cá nhân)…
Nam mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát! Nam mô Thường Gia Hộ Bồ Tát Ma Ha Tát! Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (Thực hiện 1 hồi chuông. 1 lễ)
10. Hồi hướng
(Thực hiện trong tư thế quỳ hoặc đứng, chắp tay. Sử dụng pháp khí: chuông, mõ, hoặc khánh)
Thí thực công đức có bao nhiêu, Con xin lấy đó hồi hướng về, Nguyện khắp pháp giới các chúng sinh Thảy đều thể nhập vô sinh nhẫn. (Thực hiện 1 hồi chuông) Nguyện tiêu ba chướng sạch phiền não, Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời, Nguyện các tội chướng thảy tiêu trừ, Đời đời thường hành Bồ Tát đạo. (Thực hiện 1 hồi chuông) Nguyện đem công đức tu hành này, Chan rải mười phương khắp tất cả, Hết thảy chúng con cùng các loài, Đồng được lên ngôi Vô thượng giác. (Thực hiện 3 hồi chuông)
(Nếu có thực hiện cúng phóng sinh, thì sau khi hoàn tất phần hồi hướng này, sẽ tiếp tục thực hiện nghi thức phóng sinh và sau đó mới bạch hạ lễ) Bài cúng phóng sinh
11. Tam Tự Quy
(Thực hiện trong tư thế quỳ hoặc đứng, chắp tay. Sử dụng pháp khí: khánh, chuông)
Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng. (Thực hiện 1 hồi chuông. 1 lễ) Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển. (Thực hiện 1 hồi chuông. 1 lễ) Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại. (Thực hiện 3 hồi chuông. 1 lễ. Sau đó thực hiện 1 hồi chuông kết lễ.)
12. Tri ân và tùy hỷ
(Thực hiện trong tư thế quỳ hoặc đứng, chắp tay)
Chủ sám bạch: Chúng con xin thành kính tri ân Tam Bảo, tri ân Sư Phụ cùng đại Tăng, chúng con xin tri ân các bậc thiện tri thức đã hỗ trợ cho chúng con trên con đường tu hành. Chúng con xin tùy hỷ với tất cả chư vị trong cõi tâm linh đã ủng hộ đàn tràng, đã cùng về đây tu tập Phật Pháp. (Thực hiện 1 lễ)
13. Bạch hạ lễ
(Nếu thực hiện hạ lễ, thì tiến hành nghi thức. Thực hiện trong tư thế quỳ hoặc đứng, chắp tay)
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Giờ này, khóa lễ của chúng con đã viên mãn. Chúng con xin phép hạ vật thực đã dâng cúng để chúng con được thọ thực. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (Thực hiện 1 vái)
Hy vọng những thông tin trên giúp bạn hiểu rõ hơn về nghi thức cúng thí thực. Để tìm hiểu sâu hơn về các khía cạnh khác của Phật giáo, hãy khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.
