Danh hiệu Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Công Đức mà Đức Phật A Di Đà sở hữu mang trong mình những ý nghĩa sâu xa, soi rọi con đường giác ngộ cho chúng sanh khắp mười phương. Dù không có ghi chép chính thức về ngày sinh, xuất gia hay thành đạo của Ngài, cộng đồng Phật tử Tịnh Độ vẫn chọn ngày vía Vĩnh Minh Thọ Thiền Sư để tưởng nhớ, khám phá thêm về những phẩm hạnh cao quý tại Chiasedaophat.
Danh nghĩa của Đức Phật A Di Đà:
Đức Phật A Di Đà, vị giáo chủ của cõi Tây Phương Cực Lạc, mang trong mình ba danh hiệu hàm chứa ý nghĩa sâu sắc:
- Vô Lượng Quang: Ám chỉ trí tuệ và ánh sáng từ bi vô biên của Ngài, chiếu rọi khắp mười phương thế giới, soi đường cho chúng sanh.
- Vô Lượng Thọ: Thể hiện tuổi thọ vô cùng, vượt ngoài khả năng suy lường của con người, biểu trưng cho sự trường tồn và uy lực của Ngài.
- Vô Lượng Công Đức: Nhấn mạnh những hành động tạo tác công đức vĩ đại, không thể đếm xuể, là nền tảng cho sự giác ngộ và lòng từ bi vô hạn của Ngài.
Ngày vía Đức Phật A Di Đà

Đức Phật A Di Đà là Đức Phật làm giáo chủ ở cõi Tây Phương Cực Lạc
Trong truyền thống Tịnh Độ Tông, Kinh sách không ghi chép rõ ngày sinh, xuất gia hay thành đạo của Đức Phật A Di Đà. Do đó, các Phật tử Tịnh Độ thường chọn ngày sinh của Vĩnh Minh Thọ Thiền Sư (17 tháng 11 Âm lịch) làm ngày vía để tưởng nhớ đến Đức Phật A Di Đà, bởi Ngài được xem là một hóa thân của Ngài.
Theo ghi chép trong sách “Đường về Cực Lạc”, Vĩnh Minh Thọ Thiền Sư sinh ra tại Tiền Đường, đời nhà Tống, họ Vương, tên tự là Xung Huyền. Từ thuở thiếu thời, Ngài đã tinh tấn trì tụng Kinh Pháp Hoa, đến mức cảm động cả bầy dê quỳ mọp để lắng nghe Kinh pháp.
Khi trưởng thành, Ngài giữ chức vụ quan coi về thuế vụ. Trong thời gian này, Ngài đã nhiều lần dùng tiền công để mua cá ở Tây Hồ phóng sinh. Hành động này sau đó bị phát giác, và Ngài phải đối mặt với án tử hình. Tuy nhiên, khi bị áp giải ra pháp trường, Ngài vẫn giữ thái độ bình thản, bởi Ngài tin rằng công đức phóng sinh sẽ giúp Ngài được sinh về cõi Tịnh độ. Sự cảm động trước tấm lòng của Ngài đã khiến nhà vua ban lệnh tha bổng.
Sau biến cố đó, Ngài xin xuất gia và đến Tứ Minh để thụ pháp với Tuý Nham Thiền Sư. Trong quá trình tu tập, Ngài trì tụng Pháp Hoa Sám và có trải nghiệm thấy Bồ Tát Quan Thế Âm tưới nước cam lồ vào miệng, giúp Ngài đạt được khả năng biện tài vô ngại. Dù tu Thiền, Ngài cũng đặc biệt yêu mến pháp môn Tịnh Độ. Một lần, Ngài đã làm hai lá thăm: một đề “nhất tâm thiền định” và một đề “Trang nghiêm Tịnh độ”. Sau bảy lần rút thăm, Ngài đều rút trúng lá thăm “Trang Nghiêm Tịnh độ”. Từ đó, Ngài dốc hết sức mình tu tập và hoằng dương pháp môn Tịnh Độ.
Về sau, Ngài đến trụ trì chùa Vĩnh Minh, được tôn hiệu là Trí Giác Thiền Sư. Trong suốt 15 năm trụ trì tại đây, Ngài đã hóa độ cho 1700 vị tăng và rất nhiều cư sĩ quy hướng về Tịnh độ. Tác phẩm nổi tiếng của Ngài là “Vạn Thiện đồng quy”, với chủ ý khuyến khích mọi người tu tập các pháp lành để hướng về cõi Tịnh độ.
Sự tích Đức Phật Di Đà

Chúng ta hợp sức và đoàn kết lại đề mọi người được an vui trong ánh hào quang nhiệm màu của Đức Phật Di Đà.
Theo kinh Đại A Di Đà, trong thời kỳ Đức Phật Thế Tự Tại Vương xuất thế, có một vị quốc vương tên là Kiều Thi Ca. Sau khi nghe Phật thuyết pháp, vua Kiều Thi Ca đã từ bỏ ngôi vị, xuất gia làm tỳ kheo và lấy pháp hiệu là Pháp Tạng. Một lần, Ngài đảnh lễ Đức Phật, quỳ xuống chắp tay và phát 48 lời nguyện, với mong muốn sau này thành Phật hiệu là A Di Đà.
Tương truyền trong kinh Bi Hoa, vào thời vua Chuyển Luân Thánh Vương Vô Tránh Niệm, có một vị đại thần tên là Bảo Hải. Vị này có người con tên là Bảo Tạng, sở hữu tướng mạo phi thường. Sau đó, Bảo Tạng xuất gia và thành Phật hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Vua Vô Tránh Niệm, sau khi nghe Phật thuyết pháp, đã phát tâm cúng dường Tam Bảo trong ba tháng. Đại thần Bảo Hải đã khuyên vua nên phát tâm Bồ đề cầu đạo vô thượng.
Vua Vô Tránh Niệm sau đó phát nguyện rằng nếu thành Phật sẽ kiến tạo một cảnh giới cực kỳ trang nghiêm và thanh tịnh để giáo hóa chúng sanh. Sau khi vua phát nguyện, Đức Bảo Tạng Như Lai đã thọ ký cho vua rằng Ngài sẽ thành Phật hiệu là A Di Đà và cõi nước của Ngài sẽ là cõi Cực Lạc Tây Phương. Điều thú vị là vị đại thần Bảo Hải sau này cũng thành Phật, chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (theo tài liệu Phật pháp bậc Sơ Thiện của Gia đình Phật tử).
Trong số 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, có những nguyện lực nổi bật:
- “Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi, chỉ cần niệm mười niệm mà nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.”
- “Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.”
- “Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.”

Nhân ngày vía của Đức Di Đà, chúng ta cầu mong mọi người thân tâm được an lạc, được hạnh phúc. Cùng hướng về Ngài, niệm danh hiệu Ngài, làm điều phước thiện, nguyện cầu cho thế giới không còn lầm lạc, oán ghét, khổ đau, chia rẽ…
Nhờ những hạnh nguyện cao cả của Đức Phật A Di Đà, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã khai thị pháp môn Niệm Phật, giúp chúng sanh chuyển hóa thân và tâm trở về bản thể thanh tịnh. Pháp môn này được thực hành bằng cách nhất tâm trì niệm danh hiệu “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT”, hay còn gọi là “lục tự Di Đà”. Theo giáo lý, những ai thực hành pháp môn này khi lâm chung sẽ được vãng sanh về cõi Tịnh độ để tiếp tục con đường tu tập giải thoát.
Kinh Đại Thừa Vô Lượng Trang Nghiêm là bộ kinh quan trọng hướng dẫn phương pháp niệm Phật. Phương pháp tu tập của Tịnh Độ Tông bao gồm hai yếu tố chính: Tự lực và Tha lực.
- Tự lực: Bao gồm việc trì giới, phát triển trí tuệ và thực hành thiền định.
- Tha lực: Gồm hai phần là Chánh hạnh và Tập hạnh.
- Chánh hạnh: Bao gồm Chánh định nghiệp và Trợ nghiệp.
- Chánh định nghiệp: Là việc nhất tâm niệm danh hiệu A Di Đà Phật.
- Trợ nghiệp: Là thực hành tụng kinh Tịnh Độ, quán tưởng về cõi Tịnh độ trang nghiêm, lễ bái Đức Phật A Di Đà và tán thán, cúng dường Ngài.
- Tập hạnh: Là việc thực hành các điều thiện theo pháp tu của Tịnh Độ Tông.
- Chánh hạnh: Bao gồm Chánh định nghiệp và Trợ nghiệp.
Vào ngày 17 tháng 11 Âm lịch hàng năm, ngày vía Đức Phật A Di Đà, các Phật tử thường cử hành lễ tưởng niệm. Trong những khoảnh khắc gần lâm chung, khi đưa tang hoặc trong các buổi cúng lễ, việc niệm danh hiệu “THANH TỊNH” của Ngài được xem là phương pháp hiệu quả để xua tan tà niệm, chuyển hóa cảnh giới trần tục ô nhiễm thành cảnh giới thanh tịnh, sáng suốt như cõi Cực Lạc.
Nhân dịp ngày vía Đức Phật A Di Đà, chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người thân tâm được an lạc, tràn đầy hạnh phúc. Hãy hướng về Ngài, niệm danh hiệu Ngài, thực hành các việc phước thiện và nguyện cầu cho thế giới thoát khỏi lầm lạc, oán ghét, khổ đau và chia rẽ. Bằng cách hợp sức và đoàn kết, chúng ta có thể cùng nhau an vui dưới ánh hào quang nhiệm màu của Đức Phật A Di Đà.
Để hiểu sâu hơn về ý nghĩa tâm linh của ngày vía Đức Phật A Di Đà cũng như các giáo lý quan trọng khác, mời quý độc giả khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.
