Thánh tăng Sivali tài lộc đệ nhất chuyện kể về ngài

tuong thanh tang sivali tai loc 0913 1
0
(0)

Không chỉ Quan Âm Bồ Tát được tôn kính ban tài, ban lộc, tại các quốc gia Phật giáo Nam truyền, Thánh tăng Sivali được xem là biểu tượng tối thượng của sự sung túc và phước lành. Dù ngày càng quen thuộc với Phật tử Đại thừa, cuộc đời phi thường của vị thánh đệ tử được Đức Phật phong là “đệ nhất tài lộc” này vẫn ẩn chứa nhiều điều kỳ diệu, bắt nguồn từ nghiệp lực sâu dày của những kiếp sống xa xưa. Khám phá câu chuyện về ngài để hiểu rõ hơn về ý nghĩa của sự đủ đầy và may mắn theo giáo lý nhà Phật, truy cập ngay Chiasedaophat để tìm hiểu thêm.

Vị Thánh đệ tử sở hữu tài lộc vẹn tròn

Trong khi Phật tử Việt Nam và các nước theo Phật giáo Đại thừa tôn kính Quan Thế Âm Bồ Tát như đấng cứu khổ, ban tài, ban lộc, thì Phật tử các nước theo Phật giáo Nam truyền lại có lòng sùng kính đặc biệt đối với Thánh tăng Sivali, xem ngài là biểu tượng của sự sung túc và phước lành.

Trong những năm gần đây, với sự giao lưu văn hóa Phật giáo ngày càng phát triển, việc thờ phụng tôn tượng Thánh tăng Sivali đã trở nên quen thuộc hơn với cộng đồng Phật tử Đại thừa tại Việt Nam. Tuy nhiên, kiến thức về cuộc đời của vị Thánh đệ tử được Đức Phật phong là “đệ nhất tài lộc” này vẫn còn hạn chế.

Chuyện về ngài Sivali, vị Thánh tăng có tài lộc đệ nhất 1

Tôn tượng Thánh tăng Sivali. Ảnh: Vatphamphatgiao.com

Đức Phật Thích-ca đã trao cho ngài danh hiệu cao quý là Thánh đệ tử có tài lộc đệ nhất. Điều đặc biệt, ngài Sivali cũng được ghi nhận là người có thời gian ở trong thai mẹ lâu nhất, kéo dài bảy năm bảy ngày, do ảnh hưởng từ nghiệp lực của những kiếp sống trước.

Theo ghi chép trong Đại Phật sử, câu chuyện về cuộc đời ngài bắt nguồn từ một tiền kiếp cách đây một trăm ngàn năm, dưới thời Đức Phật Liên Hoa Thắng Như Lai (Padumuttara). Khi ấy, ngài là một cư sĩ đã cùng nhiều người khác tham dự pháp hội thuyết pháp của Đức Phật. Chứng kiến Đức Phật ban danh hiệu “tài lộc đệ nhất” cho một vị Tỳ-kheo, ngài cũng phát sinh tâm nguyện được như vậy. Vì lẽ đó, ngài đã cung kính thỉnh Đức Phật về tư gia để thiết lễ cúng dường lớn trong suốt bảy ngày. Trước Đức Phật, ngài đã thành tâm phát nguyện: “Bạch Đức Thế Tôn! Với phước báo từ sự cúng dường này, con không mong cầu sự giàu sang, sung túc về vật chất. Con chỉ nguyện sẽ trở thành vị đệ tử tài lộc đệ nhất trong Tăng đoàn của Đức Phật trong một tương lai gần, giống như vị Tỳ-kheo đã được Đức Thế Tôn thọ ký bảy ngày trước”. Lời nguyện cầu của ngài đã được Đức Phật chứng minh và thọ ký: “Nguyện của ông sẽ thành tựu dưới thời Đức Phật Gotama (Phật Thích-ca)”.

Trải qua vô số kiếp luân hồi, ngài đã sinh về các cõi trời và cõi người. Đến thời Đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipassi), ngài giáng sinh tại một ngôi làng gần kinh thành Bandhumati. Vào thời điểm đó, người dân thành phố Bandhumati đang cùng nhà vua tổ chức cuộc thi đua sắm lễ vật để cúng dường Đức Phật. Tuy nhiên, họ còn thiếu hai vật phẩm quan trọng là mật ong và sữa đông. Vì vậy, họ đã cử một người đứng canh bên ngoài con đường dẫn vào thành phố để tìm mua.

Tình cờ thay, một người đàn ông – chính là vị Sivali của kiếp này – đang mang bình sữa vào thành để bán và mua sắm. Trên đường đi, ông phát hiện một tổ ong. Tiếp tục hành trình với cả sữa và mật ong, ông gặp người canh gác đang tìm mua hai vật phẩm này. Người canh gác ngỏ ý muốn mua với giá một đồng tiền. Người đàn ông thầm nghĩ: “Những thứ này vốn không đáng giá bao nhiêu, tại sao lại trả giá cao như vậy?”. Do đó, ông từ chối bán. Người mua tăng giá lên hai đồng tiền, nhưng ông vẫn không đồng ý. Nhận thấy người mua đang rất cần và muốn đẩy giá lên cao hơn nữa, ông vẫn kiên quyết: “Không bán với giá này”. Người mua tiếp tục đưa ra những mức giá ngày càng cao, lên tới cả ngàn đồng tiền. Thấy lạ, ông hỏi: “Những thứ này không đáng giá là bao, tại sao ông lại sẵn sàng chi trả cao đến vậy?”. Khi nghe người mua giải thích về cuộc đua cúng dường Đức Phật giữa dân chúng và nhà vua, và việc họ sẽ thua nếu thiếu hai vật phẩm này, ông hỏi: “Vậy chỉ có người thành phố mới được cúng dường Đức Phật sao, còn người nhà quê như tôi đây thì không thể ư?”. Sau khi được giải thích rằng bất kỳ ai cũng có thể cúng dường, ông nói: “Dân thành phố của ông đang cúng dường Đức Phật, vậy có ai đã bỏ ra một ngàn đồng tiền trong một ngày để cúng dường chưa?”. Người mua trả lời: “Không”. Ông tiếp lời: “Này bạn, bạn có biết rằng mật ong và sữa tôi đang mang có giá trị một ngàn đồng tiền không?”. Người mua xác nhận: “Tôi biết”. Ông nói tiếp: “Vậy thì xin ông hãy báo cho mọi người biết rằng có một người nhà quê sẽ đích thân dâng hai vật phẩm này lên Đức Phật. Các vị không cần phải tìm kiếm nữa, và xin ông hãy làm chứng cho tôi rằng hôm nay tôi là người dâng cúng vật phẩm có giá trị và đắt giá nhất”. Nói xong, ông mua thêm năm loại hương liệu (dùng tiền mua thức ăn trên đường) trộn chung với mật ong và sữa, rồi kiên nhẫn chờ đến lượt cúng dường của mình.

Khám phá: Nhẫn nhịn bao dung: Bài học từ người phụ nữ 59 tuổi tìm thấy bình yên giữa sóng gió

Đến lượt mình, đối diện Đức Phật, ông kính cẩn bạch: “Bạch Đức Thế Tôn quang minh, vật phẩm cúng dường này là của một người dân nghèo khó như con, xin Ngài từ bi nạp thọ phẩm vật khiêm tốn này”. Đức Phật đã từ bi thọ nhận và chú nguyện, sau đó chia cho sáu trăm tám mươi ngàn vị Tỳ-kheo mà vẫn còn dư. Khi Đức Phật dùng ngọ xong, ông đảnh lễ và bạch: “Bạch Đức Thế Tôn! Hôm nay, toàn thể dân chúng thành phố Bundhamati đều biết con đã cúng dường cho Ngài. Con xin nguyện nhờ phước báo này mà trong kiếp sau, con sẽ nhận được nhiều tài lộc, có đông đảo tùy tùng và danh tiếng lẫy lừng”. Đức Phật đã thọ ký cho ông rồi trở về tịnh xá.

Quả báo hiển hiện từ tiền kiếp

Sau khi mãn kiếp, Ngài tiếp tục sinh vào các cõi trời và cõi người qua nhiều kiếp sống. Đến thời Đức Phật Thích-ca, Ngài giáng sinh làm con trai của công chúa Suppavasa, thuộc dòng dõi Koliya Thích-ca. Ngay từ khi công chúa mang thai ngài, bà đã nhận được hàng trăm món quà mỗi ngày và trở nên ngày càng giàu có. Để kiểm chứng phước báo tiền kiếp của công chúa, các vị hoàng thân đã mang các loại hạt giống đến cho công chúa chạm tay vào rồi đem gieo trồng. Kết quả thật kỳ diệu, mỗi hạt giống đều nảy mầm thành vô số cây con, mỗi cây lại cho ra cả ngàn hạt. Khi lương thực được đưa vào kho, họ lại nhờ công chúa chạm tay vào cửa kho, nhờ đó mà kho lương thực luôn đầy ắp dù đã được phân phát. Khi chia thức ăn cho mọi người, họ thường nói: “Đây là nhờ phước báo của công chúa”, và thức ăn dường như không bao giờ cạn. Cứ như vậy, những điều kỳ lạ liên tục xảy ra trong suốt bảy năm công chúa mang thai ngài.

Một ngày nọ, công chúa chuyển dạ. Cơn đau khiến bà mệt mỏi rã rời, nhưng bà không hề than khóc mà chỉ chuyên tâm niệm Phật, Pháp, Tăng và tưởng nhớ ân đức của Tam Bảo. Đến ngày thứ bảy, công chúa bàn với chồng về ý muốn thỉnh Đức Phật về nhà để cúng dường. Bà dặn chồng phải ghi nhớ kỹ những lời Đức Phật dạy để kể lại cho bà nghe. Hoàng tử, chồng của công chúa, đã đến gặp Đức Phật và trình bày toàn bộ sự việc. Đức Phật đã nói: “Nguyện cho công chúa được mạnh khỏe và mẹ tròn con vuông”.

Ngay khi Đức Phật nói lời này, tại nhà, công chúa đã hạ sinh một bé trai một cách an lành. Mọi người đều vui mừng khôn xiết và sai người đi báo tin cho hoàng tử. Hoàng tử đảnh lễ Đức Phật rồi quay về. Trên đường về, hoàng tử gặp người hầu mang tin báo. Khi về đến nhà, công chúa lại yêu cầu chồng đến gặp Đức Phật lần nữa để thỉnh Ngài cùng Tăng đoàn về nhà thọ trai trong vòng bảy ngày. Đứa trẻ được sinh ra, các bậc hoàng thân quốc thích đều thở phào nhẹ nhõm và đặt tên cho đứa bé là Sivali.

Xem thêm: Tâm hồn trong trẻo: Chìa khóa vạn năng cho vẻ đẹp và hạnh phúc viên mãn

Ngài Sivali đã ở trong bụng mẹ suốt bảy năm, và khi sinh ra, ngài đã được bảy tuổi. Việc ngài ở trong bụng mẹ lâu đến vậy là do quả báo từ một kiếp trước. Trong tiền kiếp đó, ngài là thái tử, con trai của chính hậu của vua Baranasi. Vua xứ Kosala đã đánh bại vua Baranasi và lập chính hậu của vua Baranasi làm hoàng hậu của mình. Thái tử Baranasi may mắn thoát chết, tập hợp quân đội và tiến về kinh thành, yêu cầu vua mới trả lại kinh đô hoặc phải chiến đấu. Mẹ của thái tử, lúc này là hoàng hậu của vua Kosala, đã khuyên thái tử nên bao vây thành. Theo lời khuyên của mẹ, thái tử cho quân phong tỏa tất cả các cổng thành, khiến người dân muốn ra vào phải đi qua những cổng nhỏ vô cùng khó khăn. Người mẹ tiếp tục yêu cầu thái tử chặn luôn cả những cổng nhỏ, không cho ai ra vào được. Tình trạng này kéo dài suốt bảy năm. Người dân cảm thấy tù túng, khó khăn trong sinh hoạt, đã nổi dậy chặt đầu vua Kosala và trao quyền cho thái tử Baranasi. Thái tử sau đó tiến vào thành và lên ngôi hoàng đế. Chính vì ác nghiệp tạo ra trong kiếp đó, mẹ của ngài đã phải mang thai ngài trong bảy năm bảy ngày, và ngài phải ở trong bụng mẹ suốt bảy năm bảy ngày.

Trở lại câu chuyện đại lễ cúng dường trai Tăng của công chúa. Vào ngày cúng dường thứ bảy, ngài Xá-lợi-phất hỏi Sivali: “Này Sivali, con có muốn trở thành một Tỳ-kheo sau khi đã trải qua bao nhiêu khổ đau như vậy không (ám chỉ bảy năm trong bụng mẹ)?”. Đứa bé đáp: “Nếu được cha mẹ cho phép, con sẽ xuất gia”. Mẹ ngài cũng rất vui mừng và nói với ngài Xá-lợi-phất: “Xin ngài hãy cho Sivali xuất gia làm Sa di”. Thế là ngài Xá-lợi-phất dẫn Sivali về chùa, tiến hành cạo tóc cho ngài. Ngay khi đường tóc đầu tiên được cạo, ngài Sivali đã chứng quả Tu-đà-hoàn. Đường tóc thứ hai được cạo, ngài chứng quả Tư-đà-hàm. Sau đường tóc thứ ba, ngài chứng quả A-na-hàm, và ngay khi toàn bộ tóc được cạo xong, ngài đã chứng quả A-la-hán.

Kể từ ngày ngài Sivali xuất gia làm Sa di, trong Tăng đoàn, tứ vật dụng (y áo, đồ ăn, chỗ ở, thuốc men) luôn dồi dào. Bất kể ngài đi đến đâu, chư thiên đều mang vật phẩm đến cúng dường không chỉ cho ngài mà còn cho cả Tăng đoàn. Chính vì lẽ đó, Đức Phật đã ban cho ngài Sivali danh hiệu là vị đệ tử có tài lộc đệ nhất.

Tìm hiểu thêm: Tứ Phương Thần Tướng: Vệ Binh Thiêng Liêng Nơi Cửa Phật

* Bài viết có tham khảo từ The Great Chronicle of Buddhas, Vol. VI

(2) Đại Phật sử. Tức Buddhavaṃsa (hay Kinh Phật chủng tính, Phật sử) là một bộ kinh điển Phật giáo mô tả về cuộc đời Phật Gautama và 24 vị Phật toàn giác trong quá khứ đã tiên đoán về sự giác ngộ của Phật Gautama. Đây là cuốn thứ mười bốn của Tiểu Bộ kinh (Khuddaka Nikāya), là cuốn thứ năm cũng là cuốn cuối cùng của Kinh tạng (Sutta Piṭaka). Kinh tạng là một trong ba pitakas (bộ phận chính) tạo thành Tam tạng (Tripiṭaka), hay Kinh điển Pali của Thượng tọa bộ (Theravāda). Kinh này, cùng với Apadāna (Thánh nhân ký sự) và Cariyāpiṭaka (Sở hạnh tạng / Hạnh tạng), được phần lớn các học giả cho là đã được biên soạn vào thế kỷ thứ 1 và thứ 2 trước Công nguyên, do đó là phần bổ sung muộn cho Kinh điển Pāli.

Câu chuyện về Thánh tăng Sivali, vị đệ tử được Đức Phật phong danh hiệu “tài lộc đệ nhất”, mang đến những bài học sâu sắc về nghiệp lực và phước báu. Để khám phá thêm về những vị thánh tăng và những lời dạy quý báu trong Đạo phật, hãy tiếp tục theo dõi các bài viết tiếp theo.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang