Khái niệm Bồ đề và ý nghĩa sâu sắc trong Đạo Phật

la bo de 17032 0715 1
0
(0)

Được khai sinh từ gốc từ mang ý nghĩa thức tỉnh, ‘Bồ đề’ không chỉ là trí tuệ mà Đức Phật đã chứng ngộ, mà còn là con đường dẫn đến sự giải thoát tối thượng. Khám phá hành trình bảy pháp tu tập và những nguyên lý sâu xa giúp tâm thức đạt đến sự chín muồi, cùng với những sắc thái khác nhau của giác ngộ được hé lộ trên Chia sẻ Đạo Phật.

Thuật ngữ “Bodhi” có nguồn gốc từ gốc từ “budh”, mang ý nghĩa “thức tỉnh”. [1] Thuật ngữ này hàm chứa khái niệm Trí tuệ và Giác ngộ, đặc biệt là Trí tuệ mà Đức Phật đã đạt được. [2] Theo cách hiểu phổ biến, Bồ đề bao gồm bảy pháp tu tập dẫn đến Giác ngộ, cùng với các nguyên lý giúp sự tỉnh thức chín muồi. Ngoài ra, trong một ý nghĩa hẹp hơn, “Bồ đề” còn được dùng để chỉ sự giác ngộ của các vị Phật Độc Giác. [3]

Khái niệm Bồ đề trong Ðạo Phật 1

Giác ngộ được mô tả một cách bình dị chính nhờ vào công phu thiền định đã mang lại ánh sáng chân lý sau thời gian dài chịu thử thách và lạc lối.

Trong một số trường hợp, thuật ngữ sambodhi (sự giác ngộ viên mãn) cũng được sử dụng để diễn tả sự giác ngộ của Đức Phật, các vị Phật Độc Giác và các vị A-la-hán. [4] Tuy nhiên, để phân biệt rõ ràng hơn, thuật ngữ abhisambodhi (Vô thượng đẳng giác) và samma-sambodhi (chánh đẳng giác) được dành riêng để chỉ sự giác ngộ tối thượng của Đức Phật.

Tam tạng Nikaya và các văn bản chú giải đã có nhiều nỗ lực để làm rõ ý nghĩa chính xác của thuật ngữ Bồ đề. Theo Saṃyutta Nikaya, [5] Bồ đề đồng nghĩa với việc đạt được trí tuệ về Tứ Thánh Đế (Bốn Sự Thật Vi Diệu). Mặt khác, con đường dẫn đến Giác ngộ được miêu tả là Bát Chánh Đạo. Giác ngộ được giải thích là sự thấu suốt bốn sự thật cao quý, chính là Tứ Thánh Đế. [7]

Việc chứng đạt giác ngộ là một trải nghiệm cá nhân sâu sắc, chỉ người đạt ngộ mới có thể thấu hiểu trọn vẹn bản chất và ý nghĩa của nó. Nhiều đoạn trong Nikaya đã lý giải về quá trình chứng quả giác ngộ của Đức Phật cũng như nội dung của sự chứng ngộ đó. [8]

Khái niệm Bồ đề trong Ðạo Phật 2

Chứng đạt giác ngộ là thể nghiệm cá nhân và vì vậy chỉ có người đạt ngộ mới thấu triệt bản chất và ý nghĩa của giác ngộ. Lại nữa, nhiều đoạn trong Nikaaya đã lý giải sự chứng quả giác ngộ của Ðức Phật cũng như nội dung của chứng ngộ.

Có hai khía cạnh chính được trình bày: Thứ nhất, giác ngộ được mô tả như là kết quả của quá trình thiền định sâu sắc, mang lại ánh sáng chân lý sau một thời gian dài đối mặt với thử thách và sự lạc lối. Thứ hai, sự tích về cuộc chiến đấu cam go giữa Bồ tát và Ma vương, kết thúc bằng chiến thắng của Bồ tát và chứng đắc Chánh Đẳng Giác. [9] Hai cách diễn đạt này cho thấy sự khác biệt giữa cách mô tả ban đầu và cách “thần thoại hóa” sau này, có thể nhằm biểu tượng hóa cuộc đấu tranh nội tâm mãnh liệt của Bồ tát trước giờ phút thành đạo.

Các kinh điển sớm nhất cho thấy Thái tử Tất Đạt Đa xuất gia với mục đích duy nhất là chấm dứt vòng luân hồi đầy khổ đau. [10] Sau một thời gian dài trải qua nhiều thử thách và đôi khi đi sai đường, Ngài cuối cùng đã thấu triệt trọn vẹn nguyên nhân của mọi khổ đau và nhận ra con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau đó. Chính sự nhận thức sâu sắc này được gọi là giác ngộ. [11]

Khái niệm Bồ đề trong Ðạo Phật 3

Sau khi tâm giải thoát khỏi vô minh, nguồn gốc của tất cả khổ và tái sanh, tuệ giác đoạn trừ các lậu hoặc trở nên viên mãn. Kể từ khi Bồ-tát Gotama chứng quả Chánh Ðẳng Chánh Giác, Ngài được tôn xưng danh hiệu là Bậc Giác Ngộ, Ðức Phật.

Dựa trên các kinh điển nguyên thủy, có thể thấy rằng Đức Phật đạt đến đỉnh cao trí tuệ thông qua việc đoạn trừ mọi lậu hoặc. [12] Hai loại tuệ giác ban đầu là túc mạng minh (biết về các kiếp sống trước của bản thân và chúng sanh) và tuệ giác về sự sinh diệt của chúng sanh.

Trong nhiều kinh điển, khoảnh khắc chứng ngộ được minh họa như sau: “Với tâm định tĩnh, ta hướng tâm đến trí tuệ đoạn trừ mọi lậu hoặc. Ta nhận chân: đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự đoạn diệt khổ, đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ. Ta nhận chân: Đây là lậu hoặc…, đây là tiến trình đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc. Biết như vậy, thấy như vậy, tâm ta thoát khỏi mọi lậu hoặc của dục ái, hữu ái và vô minh ái. Khi tâm được giải thoát, ta biết rằng ta được giải thoát, và nhận thức: sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại đời sống nầy nữa.” [13]

Khái niệm Bồ đề trong Ðạo Phật 4

Từ thời xa xưa đã có những nỗ lực phân biệt sự giác ngộ của Ðức Phật khác với sự giác ngộ với chúng đệ tử của Ngài.

Sau khi tâm giải thoát khỏi vô minh, nguồn gốc của mọi khổ đau và tái sinh, tuệ giác đoạn trừ các lậu hoặc trở nên viên mãn. Kể từ khi Bồ tát Gotama chứng quả Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài được tôn xưng là Bậc Giác Ngộ, Đức Phật.

Các kinh điển nguyên thủy không giới hạn thuật ngữ Bồ đề chỉ dành riêng cho Đức Phật. Tất cả những ai đã vượt thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử và đạt được lậu tận trí đều được gọi là Bậc Giác Ngộ, hay còn gọi là các vị A-la-hán. Đức Phật đạt đến đỉnh cao của sự phát triển tâm linh thông qua việc chứng ngộ quả vị A-la-hán, là vị A-la-hán đầu tiên và cũng được xem như những vị A-la-hán khác. [14] Ngài là người tiên phong thành công trên con đường tìm cầu mục đích giải thoát, trong khi các vị A-la-hán khác tu tập theo pháp của Ngài, do đó họ cũng được gọi là Bậc Giác Ngộ sau Đức Phật. [16]

Từ xa xưa, đã có những nỗ lực nhằm phân biệt sự giác ngộ của Đức Phật với sự giác ngộ của các đệ tử Ngài. Có lẽ vì mục đích này, sự giác ngộ của Đức Phật được xem là viên mãn nhất. Cùng với sự mở rộng khái niệm “Đức Phật”, nội dung giác ngộ của Ngài cũng trải qua nhiều thay đổi. Do đó, người ta cho rằng dù Đức Phật và các vị A-la-hán đều chứng đạt tam minh, nhưng tam minh của Đức Phật có sự khác biệt. Tuệ giác của Đức Phật được cho là thành tựu từ nhiều phương diện, bao gồm cả lục thông, thập lực, tứ vô sở úy, v.v… Ngài đã làm chủ các pháp dẫn đến Giác ngộ và sau này được tôn xưng là Đấng Toàn Trí. Những đặc điểm này phần nào phản ánh sự giác ngộ độc đáo của Đức Phật. [17]

Khái niệm Bồ đề trong Ðạo Phật 5

Chứng đạt giác ngộ cũng đồng với chứng đạt Niết-bàn. Ðây là mục đích mà tất cả những vị đoạn trừ hết thảy mọi lậu hoặc (aasava) dù là Chư Phật, chư Phật Ðộc Giác, hay các bậc giác ngộ sau giác ngộ của Ðức Phật. Phật giáo Nguyên Thủy (Theravaada) không buộc chúng ta trở thành Phật để chứng đạt Niết bàn nhưng chủ yếu chủ trương đoạn trừ các lậu hoặc để đạt Niết-bàn.

Sự thay đổi trong nội dung của Giác ngộ cũng dẫn đến những biến đổi trong quan niệm về con đường dẫn đến giác ngộ. Các kinh điển nguyên thủy mô tả Đức Phật chứng đạt quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác sau khi từ bỏ hai cực đoan là tham đắm ngũ dục lạc và khổ hạnh ép xác, Ngài đi theo con đường Trung đạo, tu tập Giới, Định, và Tuệ. Con đường Trung đạo này đã dẫn Ngài đến giác ngộ. Một số kinh điển khác lại trình bày nhiều phương tiện khác nhau để đạt được giác ngộ.

Ví dụ, trong Samyutta Nikaya, [18] có đoạn ghi rằng chính nhờ tu tập bốn thần thông mà Đức Như Lai được tôn xưng là một vị A-la-hán, một vị giác ngộ viên mãn. Ở một đoạn khác, việc tu tập bảy pháp giác ngộ được xem là nhân duyên đưa đến quả Giác Ngộ. [19] Các kinh điển sớm hơn không đề cập chi tiết các pháp tu tập căn bản hướng đến Giác ngộ. Về sau, số lượng các pháp tu tập này tăng lên ba mươi bảy hoặc bốn mươi ba. Đặc biệt, với sự phát triển của Đại thừa, Lục Ba-la-mật và Thập Địa cũng được xem là những nhân duyên thiết yếu dẫn đến quả giác ngộ. [20]

Khái niệm Bồ đề trong Ðạo Phật 6

Phật giáo Nguyên thủy cho rằng có ba bậc giác ngộ: Chư Phật, Ðộc Giác Phật, các vị giác ngộ sau Ðức Phật hay còn là chư vị A-la-hán.

Chứng đạt giác ngộ cũng đồng nghĩa với việc chứng đạt Niết bàn. Đây là mục tiêu mà tất cả những vị đoạn trừ mọi lậu hoặc, dù là Chư Phật, Chư Phật Độc Giác, hay các bậc giác ngộ sau Đức Phật, đều hướng đến. Phật giáo Nguyên Thủy không yêu cầu chúng ta phải trở thành Phật để chứng đạt Niết bàn, mà nhấn mạnh việc đoạn trừ các lậu hoặc để đạt được Niết bàn. Phật giáo Nguyên Thủy công nhận ba bậc giác ngộ: Chư Phật, Phật Độc Giác, và các vị giác ngộ sau Đức Phật (A-la-hán). Tuy nhiên, các lý tưởng này không được xem là ba lựa chọn riêng biệt mà các vị theo Thượng Tọa Bộ theo đuổi.

Tuy nhiên, với sự phát triển của Phật giáo Đại thừa và khái niệm Bồ tát, ba quả vị này dần được phân định rõ ràng là ba giai đoạn tu tập tâm linh khác nhau, dẫn đến ba bậc giác ngộ riêng biệt: Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Duyên Giác, và Thanh Văn Giác. Tương ứng với ba bậc giác ngộ này, Tam thừa (Bồ tát thừa, Duyên Giác thừa, và Thanh Văn thừa) đã được hình thành, trong đó hai thừa sau được xem là thấp hơn Bồ tát thừa. [21]

Khái niệm Bồ đề trong Ðạo Phật 7

Phật giáo Thiền dạy rằng giác ngộ đạt được nhờ sự tuệ tri về bản chất của hành giả (kiến tánh thành Phật).

Khi Phật giáo, đặc biệt là Đại thừa, lan rộng ra nhiều quốc gia, các quan điểm và giáo lý đã có những điều chỉnh để phù hợp với tín ngưỡng và văn hóa địa phương. Điều này dẫn đến sự thay đổi nhất định trong nội dung và bản chất của Giác ngộ. Các trường phái Phật giáo ở Trung Quốc và Nhật Bản đã bổ sung nhiều quan niệm mới về bản chất và con đường đạt đến giác ngộ. Ví dụ, Phật giáo Thiền nhấn mạnh việc đạt giác ngộ thông qua sự thấu suốt bản chất của hành giả (kiến tánh thành Phật). Ngược lại, Phật giáo Tịnh Độ cho rằng giác ngộ đạt được nhờ sự gia hộ của Đức Phật A Di Đà. Phật giáo Thiên Thai mô tả năm mươi hai giai đoạn tu tập mà hành giả cần vượt qua để đạt giác ngộ viên mãn. Một số trường phái cho rằng giác ngộ đạt được qua từng bước (tiệm ngộ), trong khi các trường phái khác lại tin vào sự giác ngộ tức thời (đốn ngộ), dẫn đến sự hình thành hai trường phái Thiền Phật giáo riêng biệt.

Dịch từ nguyên tác tiếng Anh “Bodhi” trong Từ điển Bách khoa Phật giáo (Encyclopaedia of Buddhism), tập III, do giáo sư G.P. Malalasekera làm tổng biên tập. Ceylon: The Government Press, 1971, trang 178-180

Xem thêm: Tử Vi 2025 Nữ Quý Mùi: Khám Phá Ngã Rẽ Vận Mệnh Và Bí Quyết Thành Công

Chú Thích:

[1] Bodhin-manas: Rg-veda, v. 75. 1.viii, 82, 18.

[2] Trong ngữ cảnh này, ‘trí tuệ’ có nghĩa là thấy rõ bản chất thực của vạn pháp (yathaabhuuta~naa.na).

[3] Xem thêm các thuật ngữ pacceka-bodhi (J. III, tr. 348; trong SnA. tr. 73 dùng để phân biệt với thuật ngữ sammaa-sambodhi) và pacceka-bodhi-~naa.na (J. IV, tr. 114). Đáng chú ý là thuật ngữ saavaka-bodhi không xuất hiện trong kinh điển Pāli và văn học chú giải, mặc dù thuật ngữ Sanskrit tương đương là ‘sravaka-bodhi được sử dụng phổ biến trong các văn bản Sanskrit Phật giáo. Ghi chú trong DA. I, tr. 100 liệt kê ba cấp độ trí tuệ: Trí tuệ Thanh văn (saavaka-paaramii-~naa.na), Trí tuệ Phật Độc Giác (pacceka-buddha-~naa.na), Trí tuệ của Phật (sabba~n~nuta-~naa.na). Đôi khi, thuật ngữ bodhi cũng được dùng để chỉ trí tuệ cao tột của người tu khổ hạnh (ví dụ trong J. V, tr. 229-230).

[4] Rhys Davids cho rằng thuật ngữ này không có nghĩa là trí tuệ của Đức Phật mà luôn chỉ tuệ quán ở trạng thái cao hơn bậc Arahant (Dialogues, I, tr. 190). Tuy nhiên, quan điểm này không hoàn toàn phù hợp với các dữ kiện nguyên bản (xem thêm S. I, tr. 181; M. I, tr. 17, 163; Sn. kệ. 693, 696).

[5] Saṃyutta Nikāya (Tương Ưng Bộ Kinh), tập V, tr. 423.

[6] Bodhiiti maggo (con đường giác ngộ): M.A. I, tr.54; VinA. I. tr. 139.

Tìm hiểu thêm: Tuổi Quý Hợi 1983: Hé lộ vận trình tháng 12 Âm lịch 2024 – Chuyển mình đón Tết sung túc

[7] Xem thêm I. B. Horner, Early Buddhist Theory of Man Perfect, London, 1936, tr. 34 và VbhA. tr. 310.

[8] Nhiều đoạn kinh mô tả các vị đệ tử của Đức Phật chứng quả Giác ngộ. Trong Thera and Theri-gaathaa (Trưởng Lão Tăng Kệ và Trưởng Lão Ni Kệ) cũng có nhiều mô tả tương tự.

[9] M. I., tr.160-161., 240-241; Sn. Kệ 425- 49; xem thêm Lal. tr. 218 và Mhvu. II, tr. 238).

[10] dukkha: M. I, tr. 163; A. I, tr. 145; S. II, tr. 104; III, tr. 65.

[11] M. I, tr. 167.

[12] Kinh Ariyapariyesana (M.I, tr. 163) không sử dụng thuật ngữ này một cách trực tiếp, nhưng ý tưởng được diễn đạt mang ý nghĩa quan trọng của nó.

[13] M. I. tr.23, 249.

Khám phá: Trí Tuệ Văn Thù: Giải Mã Biểu Tượng Sư Tử Xanh

[14] Vin. I, tr. 14

[15] S. II, tr. 105; V, tr. 160-161; M. III, tr.8.

[16] Liên quan đến sự khác biệt giữa Đức Phật và các vị A-la-hán.

[17] Xem ERE. II, tr. 740.

[18] M. V, tr. 127-128.

[19] S. V, tr. 127-128.

[20] Liên quan đến lời giải thích Bodhi của Mật Tông.

[21] Những quan niệm này sau đó được Phật giáo Nguyên thủy (Theravaada Buddhism) công nhận. Chúng dường như được giới thiệu vào Phật giáo Tích Lan trong thời kỳ Polonnaruwa, cùng thời điểm mà nhiều Phật tử Đại thừa cũng tìm thấy hướng đi riêng cho mình.

S. K. Nanayakkara

Thích Nữ Liên Hoà dịch

Để hiểu sâu hơn về con đường dẫn đến sự giải thoát và giác ngộ trong Phật giáo, mời bạn khám phá thêm các bài viết trong chuyên mục Đạo Phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang