Khám phá sức mạnh chuyển hóa của thần chú Đại Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni, một pháp môn vi diệu có khả năng thanh tẩy nghiệp chướng sâu dày và cứu vớt chúng sanh khỏi mọi khổ đau. Hãy cùng Chia sẻ Đạo Phật tìm hiểu cách thức phát huy tối đa công năng của bài chú này qua ngôn ngữ Việt chân thành.
Chú Đại Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni có sức mạnh vô biên, được mô tả trong kinh điển Phật giáo với khả năng trừ sạch nghiệp chướng nặng nề nhất, bao gồm cả tội ngũ nghịch và thập ác. Sức mạnh của chú có thể cứu vớt chúng sanh khỏi mọi khổ nạn trong các cõi giới luân hồi như Diêm Ma, bàng sanh, ngạ quỷ, địa ngục. Đồng thời, chú còn giúp độ thoát những người có nghiệp dày phước mỏng, gặp cảnh nghèo hèn, đau bệnh, tàn tật, yểu thọ, hay những khiếm khuyết về thể chất và giác quan. Ngay cả các loài chúng sanh như A Tu La, Dạ Xoa, La Sát, và các loài côn trùng, thủy tộc cũng có thể được chú siêu độ, tùy theo duyên phận mà được sanh về các cảnh giới an lành, tiến đến giải thoát.
Để phát huy tối đa công dụng của chú, người có nhân duyên nên trì tụng bằng tiếng Việt. Việc các Tổ sư phiên dịch kinh điển sang tiếng Việt thể hiện lòng từ bi sâu sắc, mong muốn nhiều người có thể tiếp cận và thực hành. Sự cảm ứng khi trì tụng chú không phụ thuộc vào ngôn ngữ mà hoàn toàn dựa vào tâm chân thành và sự chí thành của người niệm.
Thần Chú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni:
1. Nam mô bạc già phạt đế.
2. Tát bà tha đát lan lô chỉ dã.
3. Bát lạt để tì điệt sắt tra dã.
4. Bột đà dã. Bạc già phạt đế.
5. Đát điệt tha.
6. Úm, bột lâm bột lâm.
7. Thuật đà dã thuật đà dã.
8. Tỳ thâu đà dã. Tỳ thâu đà dã.
9. A táp ma táp ma.
10. Tam mạn đa. Phạ hoa sát.
11. Táp bát ra noa yết để ngược yết na.
12. Tỏa bà bà, tì thú đệ.
13. A tỳ xiển giả. Đổ mạn.
14. Tát bà đát da già đa.
15. Tô yết đa
16. Bạt ra bạt giả na.
17. A mật lật đa tỳ sư kế.
18. Ma ha mẫu đà ra, mạn đa ra bà na.
19. Úm. A hát ra a hát ra.
20. A dũ san đà ra ni.
21. Thu đà dã. Thu đà dã.
22. Già già na. Xoa phạ bà. Tỳ thú đệ.
23. Ô sắt nị sa. Tỳ thệ dã tỳ thú đệ.
24. Tố ha tát ra yết lại thấp nhị. San thù địa đế.
25. Tát ra bà đát tha yết đa.
26. A bà lô ky ni.
27. Tát bà đát đá già đa mạt đế.
28. Tát đà ra, ba la mật đa.
29. Ba rị, phú ra ni.
30. Na ta bồ mật bà la. Địa sắt sỉ đế.
31. Tát la bà đát đà yết đa da. Hất rị đà da.
32. Địa sắc sá na.
33. Đế sắt sỉ đê.
34. Úm, một điệt lệ, một điệt lệ. Ma ha một điệt lệ.
35. Bạt triết la ca dã.
36. Tăng hát đản na tỳ thú đệ.
37. Tát ra bà yết ma, phạt lạt noa tỳ thú đệ.
38. Bát lạt đổ rị ca đế, tì rị, tì thú đệ.
39. Bát lạt để na bà ra đái dã. A dũ thú đệ.
40. Tam ma da. Địa sắt sỉ na. Địa sắt xỉ đế.
41. Úm. Mạt nhĩ, mạt nhĩ, ma ha mạt nhĩ.
42. Á ma ni, á ma ni.
43. Tì ma ni, tì ma ni, mạ hạ tì ma ni..
44. Mạt địa mạt đế, ma ha mạt đế.
45. Đát đạt đa bột đa.
46. Cô thi tì lê thú đễ.
47. Tị tốt bố tra. Bột địa tỳ thú đệ.
48. Úm, hy hy.
49. Thệ dã thệ dã.
50. Tị thệ dạ tị thệ dã.
51. Tam mạt ra tam mạt ra.
52. Sa phạ ra, sa phạ ra.
53. Tát la bà bột đà.
54. Địa sắt sỉ na.
55. Địa sắc sỉ đa.
56. Thú đệ thú đệ.
57. Bạt triết lệ, bạt triết lệ. Ma ha bạt triết lệ.
58. A bạt triết lệ.
59. Bạt triết la yết tì.
60. Thệ da yết tì.
61. Tì giá gia yết tì.
62. Bạt triết ra thệ bạt la yết tì.
63. Bạt triết rô na già đế.
64. Bạt triết rô na bà đế.
65. Bạt triết la tam bà phệ.
66. Bạt triết rô bạt triết rị na.
67. Bạt triết lam, bạt bà đổ mạ mạ.
68. Tát rị lam. Tát la phạ. Tát đỏa bà năng.
69. Tát xá gia. Tì lê, tì thú đệ.
70. Sất dạ phạ bà đổ mế tát na.
71. Tát lạt bà yết đế tì lê thú đễ.
72. Tát lạt bà đát đà yết đa. Sất da mi.
73. Tam ma ta phạ. Tát diện đô.
74. Tát bà đát đá già đa.
75. Tam ma tát phạ sa địa sắt sỉ đế.
76. Úm! Sất địa da, sất địa dạ.
77. Bột đề dã, bột đề dã.
78. Tì bồ đề dã, tì bồ đề dạ.
79. Bồ đà dạ, bồ đà dạ.
80. Tì bồ đà dạ, tì bồ đà dã.
81. Mô ca dã, mô ca dã.
82. Tì mộ ca dã, tì mộ ca dạ.
83. Thuật đà dạ, thuật đà dã.
84. Tì thuật đà dã, tì thuật đà dã.
85. Tam mạn đa đát biệt lệ, mô ca dã.
86. Tam mạn đà da sa mế biệt rị thú đễ.
87. Tát la bà đát tha già đa tam ma da hất rị đà da.
88. Địa sắt sa na, địa sắt sỉ đế.
89. Úm, mẫu đề lê mẫu đề lê, ma ha mẫu đà ra,.
90. Mạn đa ra, bát na
91. Địa sắc sỉ đế.
92. Xóa ha.
Diệu dụng của Chú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni:
Đức Phật đã tuyên thuyết về công năng vi diệu của Chú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni, một pháp môn được tám mươi tám câu chi trăm ngàn hằng hà sa chư Phật gia trì và tán thán. Việc thọ trì hoặc đọc tụng chú này mang lại vô lượng công đức:
- Tiêu trừ tội nghiệp: Mọi tội ngũ nghịch, thập ác trong vô lượng kiếp đều được tiêu diệt hoàn toàn.
- Chứng quả Vô Thượng Bồ Đề: Người trì chú sẽ nhanh chóng đạt đến quả vị Phật.
- Hiện đời được Túc Mạng Trí: Có khả năng nhớ lại các kiếp sống trước.
- Chuyển hóa cảnh giới: Được sanh về các cõi trời an lành, các cõi Phật thanh tịnh.
- Được Bồ Tát gia hộ: Nhận được sự gia trì và thọ ký từ các vị Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí.
- Thanh tịnh Tam Nghiệp: Thân, khẩu, ý luôn thanh tịnh, tâm an lạc, thân không còn khổ đau.
- Tăng trưởng thọ mạng: Không còn bị hoạnh tử, được chư thiên thần, chư Bồ Tát, chư Phật thường xuyên hộ vệ và quan tâm.
- Giải thoát khỏi khổ đau: Dù đã tạo các tội nặng, khi đối diện với chú này, tội nghiệp nơi Địa Ngục, ngạ quỷ, Diêm Ma đều được giải thoát, các cảnh giới khổ đau trở nên trống rỗng.
- Mở cửa các cõi Phật: Được các cung trời, cung điện Bồ Tát, cung điện cõi Phật rộng mở đón chào.
Chú này có sức mạnh tương tự như ánh sáng mặt trời soi rọi, thanh tịnh mọi nơi, hoặc như ngọc Ma Ni trong sạch, mang lại lợi ích vô biên cho vạn vật. Bất kỳ ai thọ trì, đọc tụng, biên chép hay cúng dường chú đều được vô lượng công đức, được chư thiên, long, bát bộ kính mến.
Việc biên chép chú đặt trong tháp báu, bảo tòa, hoặc nơi công cộng, cùng với việc cúng dường hoa, hương, lụa là, thức ăn, thuốc men, sẽ mang lại công đức vô lượng vô biên. Ngay cả những chúng sanh phạm tội nặng, nếu đi ngang qua tháp, phướn có chú này, dù chỉ dính một hạt bụi hay một làn gió mang theo oai lực của chú, cũng sẽ tiêu trừ tội nghiệp, được sanh về cõi trời hoặc Tịnh Độ.
Nước rửa tay sau khi trì chú, nếu rưới xuống đất, có thể giúp các loài trùng kiến nhờ ảnh hưởng công đức mà được sanh về cõi trời. Hành giả thanh tịnh, trì chú sáu thời trong ngày, sẽ tiêu diệt mọi tội nặng trong ba đời, được chư Phật Bồ Tát thọ ký.
Khi Đức Phật thuyết giảng về chú này, các vị Thiên Vương như Diêm Ma La, Tứ Thiên Vương, Đao Lợi Thiên Vương, và vô số quyến thuộc đã đến chiêm bái, cúng dường và xin thỉnh pháp yếu để được thông suốt và thành tựu trong việc trì tụng.
Pháp yếu của Chú Phật Đảnh Tôn Thắng
Đức Phật đã chỉ dạy rằng, những ai đang chịu khổ nạn, tội chướng nặng nề, không ai cứu giúp, nên chọn ngày trăng sáng, tắm gội sạch sẽ, thọ trì Bát Quan Trai Giới, và tụng chú này 1.080 biến trước tượng Phật. Việc này sẽ giúp tiêu diệt mọi tội nghiệp, chướng nạn, mang lại sự thanh tịnh giải thoát và khả năng biện tài vô ngại.
Chỉ cần nghe âm thanh của chú lọt vào tai cũng đủ để gieo vào tâm thức hạt giống Phật, giúp người đó dần thành quả chánh giác, dù đang bị phiền não nặng nề hay đọa vào các cõi ác. Hạt giống này sẽ không bị tiêu mất mà còn nương theo sức chú mà tiến tu cho đến khi thành Phật.
Một lần nghe chú này, trong kiếp hiện tại và các kiếp sau, người đó sẽ không còn bị bệnh tật, khổ đau, không còn thọ thân bào thai, mà sẽ hóa sanh nơi hoa sen. Ngũ nhãn sẽ thanh tịnh, có túc mạng trí, kiết sử tiêu trừ và chứng quả Vô Thượng Đẳng Giác.
Nếu người đã chết, dù đã lâu, có người tụng 21 biến chú này vào nắm đất hoặc cát và rải lên thi hài, người đó sẽ được sanh về 10 phương Tịnh Độ. Ngay cả khi thần thức đã đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, việc dính đất cát này cũng giúp thoát khỏi ác thú và sanh lên cõi trời.
Mỗi ngày tụng 21 biến chú này sẽ mang lại sự cúng dường rộng lớn, giúp người trì tụng xả báo thân và sanh về thế giới Cực Lạc. Việc thường niệm tụng còn giúp tăng thọ mạng, hưởng thụ sự vui thù thắng, nghe pháp màu nơi 10 phương Tịnh Độ, được thọ ký, ánh sáng thân thể chiếu rọi khắp cõi Phật và chứng Đại Niết Bàn.
Để đạt được oai lực tự tại, hành giả có thể dùng bột nắn thành hình người đặt ở tám phương, ngày đêm đối trước tụng chú. Nước lụt có thể được đẩy lùi bằng cách tụng 108 biến chú về hướng đó. Các nạn như vua, quan, binh, giặc, khẩu thiệt có thể tiêu trừ bằng cách tụng 21 biến chú vào nước thơm và rưới lên đảnh Phật.
Người có tướng mạng yểu, muốn cầu sống lâu, nên chọn ngày trăng sáng, trai giới, tụng đủ 1.080 biến chú này để được trường thọ và trừ diệt tội chướng. Tụng một biến chú vào tai loài cầm thú sẽ giúp chúng không còn thọ thân cầm thú trong kiếp đó, dù có nghiệp nặng cũng thoát khỏi địa ngục.
Người bệnh nặng, đau khổ, nếu được nghe chú này sẽ lìa bệnh khổ, tội chướng tiêu diệt. Các chúng sanh trong bốn loài khi nghe chú này cũng sẽ xả bỏ bệnh khổ, lìa thân bào thai và hóa sanh nơi hoa sen, giữ được ký ức đời trước.
Đối với những người đã tạo tội tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác từ khi còn trẻ, đến tuổi già lo sợ đọa địa ngục A Tỳ, có thể chọn ngày rằm, tắm gội sạch sẽ, dùng bát đựng nước trong, thọ giới Bồ Tát, trì trai thanh tịnh. Sau đó, tụng chú 1.080 biến, rưới nước đó bốn phương và trên dưới để cầu nguyện sự thanh tịnh. Hành động này sẽ tiêu diệt mọi tội chướng, thoát khỏi nghiệp báo địa ngục, được vua Diêm Ma La buông tha và thần Tư Mạng vui vẻ.
Để cứu độ người tội nặng, có thể tụng chú 1.080 biến vào mật hoặc sữa và cho người đó ăn. Việc này giúp tiêu trừ tội chướng, sanh về cõi lành, tiến tu cho đến khi thành Phật. Tụng 21 biến chú gia trì vào tăm xỉa răng có thể trừ đau răng, mang lại sức khỏe, thông minh, trường thọ. Gia trì chú vào cát hoặc đất vàng 21 biến rồi rải trên mình súc sanh có thể tiêu diệt tội chướng của chúng.
Để có phước đức đầy đủ, tài bảo như ý, cứu hộ bản thân và người khác, nên khởi tâm lành, phát nguyện sám hối mỗi ngày, đối trước tượng Phật, kiết ấn và tụng chú bảy biến, tâm không tán loạn. Hồi thí công đức này cho chúng sanh sẽ đạt được sở nguyện, tăng phước lộc hiện tại và các đời sau.
Hành giả nên tụng chú 21 biến vào chén nước sạch ba thời mỗi ngày, rồi uống với tâm trân trọng. Việc này giúp tiêu trừ bệnh tật, sống lâu trăm tuổi, giải mọi oán kết, có giọng nói thanh diệu, biện tài thông suốt, thường được Túc Mạng Thông và nhớ biết tiền kiếp. Rưới nước này trong phòng, chuồng trâu ngựa sẽ giúp nơi đó an ổn, trừ các nạn. Rưới lên người bệnh và cho họ uống cũng giúp tiêu trừ bệnh nặng.
Để tiêu trừ tai chướng, có thể dùng vải lụa vụn năm sắc kết làm cây phất trần, tụng chú vào đó rồi quét tượng Phật và kinh. Hành động này sẽ tiêu trừ chướng nạn của bản thân và tội nghiệp của chúng sanh. Đối với khẩu thiệt, tai tiếng, có thể hòa châu sa với mật hoặc đường cát trắng, tụng chú 21 biến, rồi thoa lên môi 100 tượng Phật để tiêu trừ.
Vợ chồng chán ghét nhau có thể tụng chú 21 biến vào vải lụa, may áo cho người kia mặc để hòa thuận. Nếu bị ma quỷ quấy rối, phần âm yêu đắm, có thể tụng chú và xoa khắp mình nạn nhân, vỗ vào thân để ma quỷ bỏ chạy. Phụ nữ chưa có ai cưới hỏi có thể tụng chú 108 biến vào muối tốt sạch và cúng dường Tăng chúng để được như ý.
Nơi ở có quỷ thần dữ quấy rối, có thể tụng chú 21 biến vào thức ăn và cúng thí, kèm theo lời khuyên chúng rời đi nếu làm tổn hại chúng sanh. Nếu quỷ thần hung hãn, có thể dùng nọc sắt dài 12 ngón tay, tụng chú 21 biến rồi đóng xuống đất để chúng chạy ra khỏi địa giới. Người bị tinh mị dựa vào, người cứu hộ có thể nhìn chăm chú vào mặt người bệnh và tụng chú để tinh mị xuất ra.
Quỷ La Sát hoặc các loài quỷ dữ gây đau bệnh, khủng bố dân chúng, có thể niệm Tam Bảo, tụng trì chú này, kiết ấn Phật Đảnh Tôn Thắng rải khắp bốn phương để tiêu diệt tai nạn và cứu độ chúng sanh nơi tam đồ.
Để thí nước cho loài ngạ quỷ, tụng chú 7 biến vào nước sạch và rải khắp 4 phương, cầu cho chúng được thọ dụng, chúng sẽ được uống nước cam lộ. Người buôn bán ế ẩm, muốn được khách hàng chiếu cố, thường kiết ấn tụng chú 21 biến, an trí tượng Phật nơi tinh sạch và cúng dường, sẽ được như ý.
Mỗi ngày 3 thời, mỗi thời tụng chú 21 biến, cung kính cúng dường, chí tâm thọ trì, và vì người khác giải nói, sẽ được an vui, sống lâu, không bệnh, phát sanh trí tuệ, có Túc Mạng Thông. Khi lâm chung, thân như ve thoát xác, sanh về thế giới Cực Lạc, tai không còn nghe tiếng địa ngục, và tuần tự tiến trên đường đạo quả cho đến khi thành Phật.
Chú Phật Đảnh Tôn Thắng: Cách Kiết Ấn
Để kiết ấn Phật Đảnh Tôn Thắng, chắp hai tay, co hai ngón trỏ vào lòng bàn tay, hai ngón cái áp vào lóng giữa ngón trỏ. Ấn này thành tựu khi hai ngón cái chạm vào nhau.
Khi kiết ấn này và tụng chú 108 biến, tương đương với việc cúng dường 88 cu chi hằng hà sa na do tha trăm ngàn chư Phật, được chư Phật khen ngợi và xưng là Phật tử. Mỗi ngày kiết ấn và tụng 108 biến sẽ được 10 phương chư Phật thọ ký. Tụng 1.080 biến mỗi ngày sẽ đạt được thân kim cang bất hoại và mau thành đạo quả.
Hành giả thường trì chú và kiết ấn đối 4 phương, mỗi phương tụng một biến, rải một lượt, sẽ được thiên, long, quỷ thần ủng hộ, nhan sắc tươi đẹp, mọi nhu cầu tùy niệm được đáp ứng, phước đức vô lượng, công đức vô biên, được chư Phật ngợi khen và tùy ý sanh về 10 phương Tịnh Độ.
Công lực của Tôn Thắng Đà La Ni vô cùng, có thể tùy nguyện ứng dụng và không thể tả xiết.
Đức Phật dạy rằng, trong thời mạt pháp, nếu vua quan, tứ chúng lập đàn thọ trì và cúng dường chú này đúng pháp, đó là thực hành Bố Thí độ. Khi lập đàn tu hành, giữ ba nghiệp thanh tịnh, không phiền não giận hờn là trì Giới độ và Nhẫn nhục độ. Niệm chú không gián đoạn là Tinh tấn độ. Chuyên tâm theo pháp tắc là Thiền định độ. Thực hành đúng pháp đàn tràng, thông hiểu phép thọ trì, biết việc nên làm và không nên làm là Bát Nhã độ. Thực hành theo lời dạy này sẽ đầy đủ Lục độ Ba la mật, mang lại lợi ích cho chúng sanh và giúp họ chứng quả bồ đề.
Sau khi Đức Phật thuyết pháp, Thiện Trụ Thiên Tử đã y theo lời dạy mà thọ trì. Sau 7 ngày, ông tự thấy tội báo tiêu trừ, phước thọ tăng thêm vô lượng. Ông vui mừng ca ngợi: “Kỳ diệu thay Phật Đà! Kỳ diệu thay Đạt Mạ! Kỳ diệu thay Tăng Già! Kỳ diệu thay sức chú ân Phật Đảnh Tôn Thắng đà ra ni, hay trừ diệt tất cả khổ ách, khiến cho tôi thoát khỏi các ác báo như thế!”
Chú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni Trì nghiệm
Trong đời Đường, quan thị ngự sử Võ Triệt thường trì tụng chú này. Ông phát hiện văn cú và ngôn âm của bạn đồng liêu Tưởng Hình có nhiều sai khác. Hỏi ra mới biết Tưởng Hình học từ Vương Khai Sĩ, và Vương Khai Sĩ được ngài Kim Cang Trí Tam Tạng truyền pháp. Ngài Kim Cang Trí Tam Tạng cho biết bản Phạn gốc rất hiếm và đã mật truyền lại.
Tại núi Ngũ Đài, cư sĩ Vương Sơn Nhơn cũng trì tụng chú này. Khi cầu siêu cho cha, dù tụng đến vài chục vạn biến, ông vẫn không thấy ứng nghiệm. Ông gặp một lão nhân, được biết bản chú thất lạc, thiếu sót nhiều. Lão nhân truyền lại bản chú đầy đủ. Sau khi trì niệm bản chú mới, Vương Sơn Nhơn đã thấy hiệu lực. Một đêm, ông thấy phụ thân hiện về báo rằng nhờ phước lực của chú mà ông được sanh lên cõi trời và nay đã làm vua thiên tiên. Bản chú mới trì tụng hiệu quả thật không thể nghĩ bàn.
Tại Đông Đô, ông Vương Thiếu Phủ tụng chú theo bản của ngài Phật Đà Ba Lỵ. Một đêm, ông mộng thấy một vị Phạm tăng truyền cho bản chú đầy đủ. Sau khi thuộc lòng, ông tỉnh giấc và thấy trời sáng như ban ngày, dù tôi tớ nói mới nửa đêm. Ông giữ theo bản chú mới.
Trong niên hiệu Thiên Bảo, Vương Thiếu Phủ đột ngột tắt hơi. Sau 7 ngày, ông sống lại và kể lại trải nghiệm của mình. Ông đã gặp hai sứ giả, và khi tụng 21 biến chú Tôn Thắng, hai sứ giả đã được sanh lên cõi trời. Sau đó, ông gặp bốn vị khác cầu xin tụng chú cứu độ. Cuối cùng, ông đến nơi Minh Ty, tụng 49 biến chú, làm gông xiềng đứt nát và được các sứ giả mời đi nơi khác vì đã làm rối loạn trật tự.
Sự tái sanh này được cho là nhờ oai lực không thể nghĩ bàn của thần chú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni. Khi Vương Khai Sĩ và Vương Sơn Nhơn so sánh bản chú của mình với bản của Vương Thiếu Phủ, họ thấy giống nhau. Cả ba đều vui mừng và chia sẻ nguồn gốc bản chú.
Ngoài ra, còn có các câu chuyện về ông Trương Diệc cứu cha mẹ khỏi địa ngục, ông Trương Thừa Phước cứu vớt tội nhân cõi âm, và các vị tăng trì chú cảm được xá lợi và cảnh giới lành. Những câu chuyện này được ghi chép trong tập Gia Cú Linh Nghiệm Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni Ký. Bản dịch Việt ngữ này được biên soạn dựa trên Cụ Túc Bản, so sánh với các bản khác và tra cứu từ điển để đảm bảo sự chính xác và đầy đủ, mong mang lại lợi ích cho người trì tụng.
Thần Chú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra – Theo Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni.
Hy vọng những thông tin chi tiết về thần chú này đã khơi gợi sự quan tâm của quý vị đối với lĩnh vực tâm linh sâu sắc. Hãy tiếp tục khám phá những điều kỳ diệu khác trong chuyên mục Đạo phật.