Kinh Tứ Niệm Xứ: Hướng Dẫn Thực Hành Đơn Giản Nhất

phatgiao org vn kinhniemxuchangduongthoatkhoikhodaup4 0831 1
0
(0)

Kinh Tứ Niệm Xứ, con đường độc nhất được Đức Phật chỉ dạy, là kim chỉ nam cho sự thanh tịnh và giải thoát khỏi khổ đau. Khám phá cách quán chiếu thân, thọ, tâm, và pháp để thấu hiểu bản chất vạn pháp qua Website Chia sẻ Đạo Phật.

Khái quát về Kinh Tứ Niệm Xứ

Kinh Tứ Niệm Xứ trình bày về bốn con đường tu tập thiết yếu, giúp người con Phật thực hành quán chiếu, hành niệm, tỉnh giác và thiền định chánh niệm để đạt đến giải thoát.

Trong Trường Bộ Kinh, Đức Phật đã khẳng định: “Này các Tỷ kheo, đây là con đường duy nhất dẫn đến sự thanh tịnh cho chúng sinh, giúp vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh lý và chứng ngộ Niết bàn. Đó chính là Bốn Niệm Xứ.”

Con đường độc nhất này, được Đức Phật chỉ dạy, giúp chúng ta đạt đến sự thanh tịnh, vượt thoát khỏi mọi sầu muộn, khổ đau và phiền não. Bằng cách quán chiếu bốn Pháp Tứ Niệm xứ – quán thân trên thân, quán thọ trên các thọ, quán tâm trên tâm, và quán pháp trên các pháp – hành giả có thể thấu hiểu bản chất của vạn pháp, nhận ra quy luật “sinh trụ, diệt hoại” và tu tập thiền Tứ Niệm Xứ để có nhận thức đúng đắn về sự thật, từ đó đạt được giải thoát ngay trong cuộc sống.

Kinh Tứ Niệm Xứ (Tiếng Việt, dễ đọc hiểu nhất) 1

Thuở xưa, Đức Phật đã thuyết giảng cho các vị Tỳ kheo tại đô thị Kammàssadhamma, xứ Kuru, nay là thủ đô Delhi của Ấn Độ về Tứ Niệm Xứ.

Nội dung cốt lõi của Kinh Tứ Niệm Xứ

Lời dạy bắt đầu với:

“Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Thế Tôn ngự giữa dân chúng xứ Ku Ru tại đô thị Kam Ma Sa Ðam Ma. Tại đấy, Đức Phật dạy các Tỳ Khưu: Này các Tỳ Khưu, đây là con đường duy nhất dẫn đến thanh tịnh, vượt khỏi sầu não, đoạn tận khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn. Đó là bốn niệm xứ.

Tìm hiểu thêm: Vượt Lên Ngã Mạn: Hành Trình Giác Ngộ Qua Lăng Kính Phật Giáo

Bốn niệm xứ ấy là gì? Này các Tỳ Khưu, người tu tập lấy thân quán thân với tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm để khắc phục ham muốn và âu lo. Tương tự, người tu tập lấy thọ quán thọ, lấy tâm quán tâm, và lấy pháp quán pháp, luôn duy trì tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, và khắc phục mọi ham muốn, âu lo.”

Quán thân – niệm hơi thở

“Thế nào là quán thân trên thân? Người tu tập có thể thực hành tại rừng vắng, dưới cội cây, hoặc trong nhà trống. Ngồi kiết già với lưng thẳng, hướng sự chú ý về phía trước, vị ấy thở ra và thở vào với sự tỉnh thức. Khi thở vô dài, vị ấy nhận biết rõ ràng: ‘Tôi đang thở vô dài’. Khi thở ra dài, vị ấy nhận biết rõ: ‘Tôi đang thở ra dài’. Tương tự với hơi thở ngắn. Vị ấy thực tập ghi nhận: ‘Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở vô’, ‘Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở ra’. Vị ấy thực tập làm an tịnh toàn thân trong hơi thở vô và thở ra. Giống như người thợ tiện thành thạo nhận biết rõ ràng khi quay dài hay ngắn, người tu tập cũng nhận biết rõ từng hơi thở.”

Quán thân – đại oai nghi

“Khi đi, người tu tập sáng suốt ghi nhận: ‘Tôi đang đi’. Khi đứng, ghi nhận: ‘Tôi đang đứng’. Khi ngồi, ghi nhận: ‘Tôi đang ngồi’. Khi nằm, ghi nhận: ‘Tôi đang nằm’. Vị ấy nhận biết rõ ràng mọi tư thế của thân thể.”

Quán thân – tiểu oai nghi

“Khi bước tới, bước lui, vị ấy biết rõ việc mình đang làm. Khi ngó tới, ngó lui, co tay, duỗi tay, mặc y áo, mang bát, ăn uống, nhai nếm, đại tiện, tiểu tiện, đi, đứng, ngủ, thức, nói, hay im lặng, vị ấy đều biết rõ việc mình đang làm với sự tỉnh giác.”

Quán thân – quán thể trược

“Người tu tập quán sát thân nầy từ bàn chân đến ngọn tóc. Toàn thân được bao bọc bởi da, chứa đựng vô số các vật bất tịnh như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, các nội tạng (thận, tủy, tim, gan, phổi, ruột, bao tử, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước miếng, nước mũi, nhớt, nước tiểu). Ví như người có mắt mở ra có thể phân biệt rõ các loại hạt trong một bao đựng, người tu tập cũng nhận rõ sự bất tịnh chứa đựng trong thân nầy.”

Quán thân – quán tứ đại

“Vị tu tập quán sát về vị trí và sự sắp đặt của tứ đại trong thân: địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại. Giống như người đồ tể rành nghề có thể phân biệt từng phần của con bò, người tu tập có thể nhận rõ vị trí của từng yếu tố đại trong thân.”

Quán thân – quán tử thi

“Người tu tập quan sát một tử thi bị bỏ lại trong bãi tha ma, sau một, hai, ba ngày, bắt đầu căng phồng, chuyển màu xanh đen, và phân hủy. Vị ấy quán chiếu rằng: ‘Thân nầy tự tánh là vậy, bản chất là vậy, không thể vượt ngoài quy luật này.’”

Quán thân – quán tử thi bị hủy hoại

“Tiếp tục quán sát tử thi bị các loài thú ăn thịt, bị côn trùng đục khoét. Vị ấy quán chiếu: ‘Thân nầy tự tánh là vậy, bản chất là vậy, không thể vượt ngoài quy luật này.’”

“Như vậy, vị ấy quán thân bằng cách nhìn vào thân mình, thân người khác, hoặc cả hai. Vị ấy quán chiếu sự sinh khởi và hoại diệt trên thân. Vị ấy duy trì niệm thân với hy vọng hướng đến chánh trí và chánh niệm. Vị ấy không còn chấp trước hay nương tựa vào bất cứ điều gì trên đời. Này các Tỳ Khưu, như vậy là người tu tập lấy thân quán thân.”

Khám phá: Kỷ Dậu 1969 Nữ: Vận Trình 2024 Đầy Biến Động – Chuẩn Bị Đón Vạn Sự Như Ý

Quán thân – quán hài cốt

“Người tu tập quan sát một tử thi chỉ còn là bộ xương, có thể còn dính chút máu thịt và gân kết nối, hoặc chỉ còn là bộ xương khô không còn thịt, không còn gân. Hoặc bộ xương đã rải rác từng phần: xương tay, xương chân, xương ống, xương đùi, xương mông, xương sống, sọ đầu. Vị ấy quán chiếu: ‘Thân nầy tự tánh là vậy, bản chất là vậy, không thể vượt ngoài quy luật này.’”

Quán thân – quán hài cốt mục rã

“Tiếp tục quan sát bộ xương trắng màu vỏ ốc, hoặc đã biến dạng theo thời gian, hoặc mục nát thành bột. Vị ấy quán chiếu: ‘Thân nầy tự tánh là vậy, bản chất là vậy, không thể vượt ngoài quy luật này.’ Như vậy, vị ấy quán thân bằng cách nhìn vào thân mình, thân người khác, hoặc cả hai. Vị ấy quán chiếu sự sinh khởi và hoại diệt trên thân. Vị ấy duy trì niệm thân với hy vọng hướng đến chánh trí và chánh niệm. Vị ấy không còn chấp trước hay nương tựa vào bất cứ điều gì trên đời. Này các Tỳ Khưu, như vậy là người tu tập lấy thân quán thân.”

Quán thọ

“Thế nào là quán thọ trên các thọ? Khi cảm thọ lạc, vị ấy biết rõ: ‘Cảm thọ lạc’. Khi cảm thọ khổ, biết rõ: ‘Cảm thọ khổ’. Khi cảm thọ không lạc không khổ, biết rõ: ‘Cảm thọ không lạc không khổ’. Vị ấy phân biệt rõ lạc thọ thuộc vật chất hay không thuộc vật chất, khổ thọ thuộc vật chất hay không thuộc vật chất, và thọ không lạc không khổ thuộc vật chất hay không thuộc vật chất. Như vậy, vị ấy quán thọ bằng cách quan sát thọ của mình, thọ của người khác, hoặc cả hai. Vị ấy quán chiếu sự sinh khởi và hoại diệt của các cảm thọ. Vị ấy duy trì niệm thọ với hy vọng hướng đến chánh trí và chánh niệm. Vị ấy không còn chấp trước vào bất cứ cảm thọ nào. Này các Tỳ Khưu, như vậy là người tu tập lấy thọ quán thọ.”

Quán tâm

“Thế nào là quán tâm trên tâm? Khi tâm có ham muốn, vị ấy biết rõ: ‘Tâm ham muốn’. Khi tâm sân hận, biết rõ: ‘Tâm sân hận’. Khi tâm si mê, biết rõ: ‘Tâm si mê’. Vị ấy nhận biết rõ các trạng thái tâm như: tâm thu nhiếp, tâm tán loạn, tâm quảng đại, tâm hạn hẹp, tâm cao thượng, tâm tập chú, tâm không định, tâm giải thoát, tâm ràng buộc. Như vậy, vị ấy quán tâm bằng cách quan sát tâm mình, tâm người khác, hoặc cả hai. Vị ấy quán chiếu sự sinh khởi và hoại diệt của các trạng thái tâm. Vị ấy duy trì niệm tâm với hy vọng hướng đến chánh trí và chánh niệm. Vị ấy không còn chấp trước vào bất kỳ trạng thái tâm nào. Này các Tỳ Khưu, như vậy là người tu tập lấy tâm quán tâm.”

Quán pháp – quán năm pháp ngăn ngại

“Thế nào là quán pháp trên pháp? Người tu tập quán pháp qua năm triền cái (năm chướng ngại tâm). Khi tâm có tham dục, vị ấy biết rõ: ‘Nội tâm có tham dục’. Khi không có tham dục, biết rõ: ‘Nội tâm không có tham dục’. Vị ấy biết rõ sự sinh khởi, đoạn diệt, và sự không tái sinh của tham dục. Tương tự, vị ấy quán chiếu đối với sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo hối (loạn động) và nghi hoặc. Vị ấy nhận biết rõ sự có mặt, sự vắng mặt, sự sinh khởi, sự đoạn diệt, và sự không tái sinh của các chướng ngại này. Như vậy, vị ấy tu tập quán pháp qua năm triền cái.”

Quán pháp – quán năm thủ uẩn

“Người tu tập quán pháp qua năm thủ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Vị ấy quán sát: ‘Đây là sắc, đây là tập khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc’. Tương tự, vị ấy quán về thọ, tưởng, hành, và thức, bao gồm cả sự sinh khởi và đoạn diệt của chúng. Như vậy, vị ấy tu tập quán pháp qua năm thủ uẩn.”

Quán pháp – quán sáu xứ

“Vị tu tập quán pháp qua sáu nội và ngoại xứ (mắt và sắc, tai và âm thanh, mũi và mùi hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp). Vị ấy nhận biết rõ: ‘Do duyên hai thành tố mắt và cảnh sắc, kiết sử sanh khởi’. Tương tự, vị ấy quán về tai và âm thanh, mũi và mùi hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và cảnh pháp. Vị ấy nhận biết rõ sự sinh khởi, đoạn diệt, và sự không tái sinh của kiết sử từ các duyên này. Như vậy là người tu tập quán pháp qua sáu nội và ngoại xứ.”

Quán pháp – quán bảy giác chi

“Người tu tập quán pháp qua bảy giác chi (niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, tịnh, định, xả). Khi tâm có niệm giác chi, vị ấy biết rõ. Khi có trạch pháp giác chi, biết rõ. Cứ như vậy đối với tinh tấn, hỷ, tịnh, định, và xả giác chi. Vị ấy nhận biết rõ sự sinh khởi và sự viên thành của các giác chi này. Như vậy là người tu tập quán pháp qua bảy giác chi.”

Quán pháp – quán bốn thánh đế

“Vị tu tập quán pháp qua bốn thánh đế: Khổ, nhân sinh khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến diệt khổ. Vị ấy nhận biết rõ ràng về từng thánh đế. Như vậy, vị ấy quán pháp bằng pháp. Vị ấy quán chiếu sự sinh khởi và hoại diệt trên pháp. Vị ấy duy trì niệm pháp với hy vọng hướng đến chánh trí và chánh niệm. Vị ấy không còn chấp trước vào bất cứ điều gì trên đời. Này các Tỳ Khưu, như vậy là người tu tập lấy pháp quán pháp.”

Quả chứng

“Này các Tỳ Khưu, người nào tu tập bốn niệm xứ trong vòng bảy năm, có thể chứng một trong hai quả ngay trong đời hiện tại: hoặc là Vô Lậu Chánh Trí, hoặc là quả Bất Hoàn.

Không nhất thiết phải tu tập đến bảy năm. Một người có thể chứng quả chỉ sau sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, một năm, bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, hoặc thậm chí chỉ bảy ngày tu tập bốn niệm xứ, có thể chứng đắc Vô Lậu Chánh Trí hoặc quả Bất Hoàn.”

“Này các Tỳ Khưu, đây chính là con đường duy nhất dẫn đến thanh tịnh, vượt khỏi sầu não, đoạn tận khổ ưu, thành tựu chánh trí, và chứng ngộ Niết bàn. Đó là quán niệm bốn lãnh vực.”

Xem thêm: Tử Vi 2024: Nam Bính Thìn 1976 – Cánh Cửa Mới và Vận May Bất Ngờ

Đức Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỳ Khưu hoan hỷ tín thọ lời Ngài.

Mong rằng những hướng dẫn thực hành Kinh Tứ Niệm Xứ này sẽ giúp quý vị có cái nhìn sâu sắc hơn về con đường giải thoát, và khuyến khích quý vị tiếp tục khám phá thêm nhiều kiến thức bổ ích khác trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang