Nằm nép mình dưới chân núi Bàn A lịch sử, Chùa Vồm tại Thanh Hóa không chỉ là một công trình kiến trúc cổ kính mà còn là minh chứng sống động cho dòng chảy văn hóa Phật giáo qua các triều đại. Nơi đây từng là trung tâm quan trọng, chứng kiến biết bao biến thiên lịch sử, mang trong mình những câu chuyện truyền thừa độc đáo mà có lẽ nhiều người chưa tường. Khám phá về Chùa Vồm và những dấu ấn văn hóa tại Website Chia sẻ Đạo Phật.
Chùa Vồm, còn được biết đến với tên chữ là Đại Khánh tự và Đại Hùng tự, là một di tích lịch sử có niên đại từ thời nhà Trần. Ngôi chùa tọa lạc tại làng Vồm, phường Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa, dưới chân núi Bàn A. Khu vực này từng là trung tâm hành chính quan trọng như thành Tư Phố thời Bắc thuộc, lỵ sở Dương Xá của đất Ái Châu và Thanh Hóa qua nhiều triều đại phong kiến. Vị trí địa lý tiếp giáp với Ngã Ba Đầu, nơi sông Mã và sông Chu hợp lưu trước khi đổ ra biển, đã ban tặng cho chùa một bề dày lịch sử cùng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng.
Chùa Vồm qua ghi chép sử sách và văn thơ cổ
Là một trong những ngôi chùa danh tiếng nhất xứ Thanh, vẻ đẹp và sự uy nghiêm của chùa Vồm đã được khắc họa trong nhiều sách cổ. Sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn mô tả: “Chùa Đại Hùng ở xã Đại Khánh, huyện Đông Sơn, nhân đá núi Bàn A làm tường chùa, ở giữa khắc tượng lớn, không rõ có từ đời nào, phía trước chùa có tấm bia đá, dựng từ đời vua Lê Quang Thuận (1460-1469), văn bia bị rêu phủ mờ, phía sau chùa có bình phong đá, có khắc ba chữ lớn “Sa lung biển”, do Trần Bá Tân là Đô Ngự sử đời Lê khắc và một số bài thơ nay vẫn còn”. Tác giả Lê Quang Định trong “Hoàng Việt nhất thống dư địa chí” cũng ghi nhận: “…Nhánh bên Tây tục gọi là sông Lương, sông rộng 290 tầm, chảy đến bến đò Trịnh, nước trong và ngọt, phía bờ Nam thuộc xã Đại Khánh, huyện Đông Sơn, ở đó có núi Bàn A nhìn xuống bờ sông, trong núi ấy có ngôi chùa cổ rất đẹp và nổi tiếng, ngày xưa có nhiều người đến đây vãn cảnh và khắc thơ vào vách…”. Sách “Đồng Khánh địa dư chí” bổ sung: “Phía dưới bên phải núi (Bàn A) có ngôi chùa, gọi là chùa Đại Hùng. Chùa này xếp đá làm vách, giữa có pho tượng Phật nét mặt uy nghiêm, thân Phật lấp loáng khi ẩn khi hiện. Trước chùa có khắc bia vào niên hiệu Quang Thuận (1460-1469) đời Lê Thánh Tông, chữ đã mờ mòn đến quá nửa”.
Núi Bàn A, chùa Đại Hùng và dòng sông Lương đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều tao nhân mặc khách thời bấy giờ, bao gồm Vua Lê Thần Tông, Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm, các Tiến sĩ Trần Bá Tân, Ngô Thì Sỹ, Bùi Dị, cùng Tổng đốc Thanh Hóa Vương Duy Trinh, Hiến sát sứ Trần Công Lỵ. Ngô Thì Sĩ, khi còn tại nhiệm ở Thanh Hóa, đã miêu tả cảnh sắc nơi đây qua 10 cảnh đẹp và phổ thành thơ:
1. Khánh Bằng liệt chướng (Núi Khánh, núi Bằng giăng hàng)
2. Lương Mã giao khâm (Sông Lương, sông Mã xen nhau)
3. Thạch tượng dục hà (Voi đá tắm sông)
4. Lĩnh quy xuất thủy (Rùa núi vờn nước)
5. Cổ độ kỳ đình (Đình treo cờ ở bến cũ)
6. Viễn sầm yên thụ (Non xa cây mờ)
7. Cô thôn mao điếm (Quán tranh thôn vắng)
8. Cách ngạn thiền lâm (Chùa cổ bên sông)
9. Sơn hạ ngư ky (Ghềnh đỗ thuyền chài dưới núi)
10. Giang trung mục phố (Bãi tắm trâu giữa sông)
Hiện nay, trên vách núi trong khuôn viên chùa vẫn còn lưu giữ hai bài thơ của danh sĩ đời Lê Trung Hưng là Trần Công Lỵ và Tiến sĩ Trần Bá Tân, ghi lại cảm xúc khi thưởng ngoạn cảnh trí nơi đây. Dưới đây là bản dịch của hai bài thơ:

Toàn cảnh chùa Vồm (Đại Khánh tự) phường Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa. (Ảnh: Lê Thành Hiểu)

Am và bia Đức công thành đạo tháp thờ Hải Oánh Thiền sư. (Ảnh: Vũ Ngọc Định)
Bài thơ thứ nhất (của Trần Công Lỵ):
Phiên âm Hán:
Phật đà Sa Lung biển
Chí Linh – Điền Trì. Thừa tướng Trần Công Lỵ. Hiến sứ đề tử. Thự tham chính tiến truy thuyên vu thạch.
Kì thi vân:
Tầm chân phỏng cổ đáo thiền quynh,
Trắc bỉ thôi nhôi nhãn giới minh.
Điểu cách liễn phi kim điện vũ,
Hoa hoàn thuỷ nhiễu chính bồng doanh.
Càn khôn kính khí khung thư cốt,
Kim tích kì quan trọng đắc danh.
Thừa hữu kim tương trần bà đoạn,
Ức niên bi định nghiễm như sinh.
Thanh Trì, Linh Đường Nguyễn tả.
Cảnh Hưng Giáp Thân hạ ngũ thượng cát nhật chí.
Dịch nghĩa:
Tại đất Chí Linh – Điền Trì, Thừa tướng Trần Công Lỵ, với chức Hiến sứ, đã đề thơ và được quan Thự tham chính tiến dâng khắc vào đá. Thơ rằng:
Tìm về cội nguồn, chiêm ngưỡng cổ xưa, đến chốn thiền môn cảnh giới nhiệm mầu.
Cảnh vật hùng vĩ, hiển hiện trước mắt, mở ra cõi tâm thanh tịnh.
Chim bay lượn như phượng múa trong điện vũ, cảnh tượng huy hoàng.
Hoa nở rộ, nước chảy quanh co, tạo nên khung cảnh bồng lai.
Khí thiêng sông núi bao trùm, khiến tâm hồn thư thái, cốt cách an nhiên.
Nơi đây vốn là kỳ quan tráng lệ, đã nổi danh từ muôn thuở.
Thêm vào đó là pho tượng Phật vàng, như chia cắt cõi trần ai.
Bia đá ghi dấu muôn năm, như còn nguyên vẹn, sống mãi với thời gian.
Bài thơ do người họ Nguyễn ở Linh Đường, huyện Thanh Trì viết.
Được khắc vào ngày tốt đầu tháng 5 năm Giáp Thân, triều Cảnh Hưng (1764).
Bài thơ thứ hai (của Trần Bá Tân):
Phiên âm Hán:
Đại Khánh đồn tiền Đại Khánh sơn,
Sơn tiền tuấn bích khải thiền quan.
Kim thân bán hiện khan triều đại,
Cổ đạo khoa lâm dịch thế gian.
Trác tích tăng bàn nguy thạch toạ,
Thúc tân tiều phụ tịch dương hoàn.
Trùng du ức khởi niên tiền sự,
Lăng cốc vô cùng nhất ỷ lan.
Tân Dậu mạnh hạ mang chủng hậu nhị nhật
Đông Sơn An Hoạch Dương Xuyên hầu trần thư.
Dịch nghĩa:
Trước làng Đại Khánh là núi Đại Khánh,
Trước núi, vách đá cao mở ra cửa Thiền.
Pho tượng Phật vàng ẩn hiện, chứng kiến bao thời đại,
Con đường xưa, cảnh chùa cổ, chiêm nghiệm sự biến đổi thế gian.
Dưới chân núi, các vị tăng ngồi trên đá vững chãi,
Bóng chiều buông, tiều phu đội củi trở về.
Trở lại nơi đây, bao nhiêu chuyện xưa ùa về trong ký ức,
Lòng sảng khoái vô cùng khi được đến thăm.
Được khắc vào tháng 4 mùa hạ năm Tân Dậu (1741), sau tiết Mang chủng 2 ngày.
Bởi Dương Xuyên hầu Trần Bá Tân, người An Hoạch, Đông Sơn, viết.
Kiến trúc chùa Vồm
Trải qua những biến thiên của lịch sử, chiến tranh và sự khắc nghiệt của thời tiết, chùa Vồm dù không còn giữ được nguyên vẹn như xưa, nhưng những dấu tích kiến trúc còn sót lại từ thời Trần, Lê sơ, Nguyễn, đặc biệt là các mộ tháp từ thời Lê Trung Hưng, đã cho phép chúng ta hình dung phần nào về quy mô, nghệ thuật kiến trúc bề thế và những giá trị văn hóa, lịch sử tiềm ẩn của ngôi chùa.
Từ cổng Tam Quan, du khách sẽ đi qua chiếc cầu cong xây bằng gạch bắc qua hồ bán nguyệt, sau đó là khoảng sân rộng dẫn đến chính điện. Toàn bộ ngôi chùa được xây dựng trên 40 cột gỗ lớn, vững chắc, trên mỗi cột đều khắc các dòng chữ Hán. Qua khảo sát, những dòng chữ này chính là “văn bia”, ghi lại công lao đóng góp của những người đã trùng tu, xây dựng chùa trong đợt đại trùng tu vào năm Đồng Khánh thứ 3 (1887). Kiến trúc độc đáo của chùa là việc dựa lưng vào vách núi, lấy chính vách đá làm tường bao che. Mái chùa vút cong theo kiến trúc mũi thuyền truyền thống, tạo nên dáng vẻ thanh thoát, mềm mại, gợi cảm giác bay bổng. Bờ nóc được trang trí hình mặt nguyệt. Kết cấu vì, kèo của chùa là sự kết hợp tinh tế giữa giá chiêng, kẻ chuyền và chồng rường, tạo nên một bộ khung vững chắc cho mái chùa. Các kèo được liên kết chặt chẽ bằng xà thượng và xà hạ.
Dấu ấn nghệ thuật trong kiến trúc gỗ của chùa thể hiện sự giao thoa giữa phong cách thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn. Tại các điểm nối giữa xà thượng, xà hạ và hiên chùa, những bức ván nong được chạm khắc tinh xảo các hình ảnh hoa sen, cúc dây, vân mây, rồng, phượng, rùa ngậm hoa sen… Đây là những minh chứng cho nghệ thuật trang trí mang đậm dấu ấn thời Lê Trung Hưng. Hậu cung của chùa được xây dựng sát vào vách núi, sử dụng vách đá làm tường và trần hang núi làm mái. Trên vách đá này là pho tượng Phật A Di Đà lớn, được tạc trực tiếp vào vách núi theo kỹ thuật phù điêu nổi, có niên đại từ thời Trần. Đây được xem là pho tượng phù điêu cổ, tạc trực tiếp vào vách núi, có kích thước lớn nhất từng được phát hiện tại Thanh Hóa. Với những đường nét chạm khắc tinh xảo và giàu tính nghệ thuật, tượng A Di Đà đã trở thành một di sản vô giá, một tác phẩm điêu khắc độc đáo và nổi tiếng bậc nhất của chùa Vồm.
Phía bên ngoài, về phía hữu của chùa, còn sót lại dấu tích của tòa tháp Phổ Minh cao 9 tầng, nơi tôn thờ Xá Lợi của Tỳ kheo Phổ Đường Thông Tuệ thiền sư, được xây dựng vào ngày mồng 1 tháng 2 năm Tân Sửu (1900) dưới triều vua Thành Thái. Phía sau chùa, bên trái, có hai ngôi tháp đá nằm sát vách núi. Các tháp có mái nhỏ, đỉnh tháp chạm khắc hoa sen, tất cả đều được chế tác từ đá. Trên thân tháp có khắc các văn bản bằng chữ Hán.

Am và Văn bia Tuệ Minh am chùa Vồm khắc năm Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717), đời vua Lê Dụ Tông. (Ảnh: Vũ Ngọc Định)
Ngôi tháp thứ nhất là am Tuệ Minh, thờ Thiền sư Chân Hỷ, pháp hiệu Tuệ Minh. Văn bia tại đây được khắc vào mùa xuân năm Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717), đời vua Lê Dụ Tông. Ngôi tháp thứ hai là am và tháp thờ Hải Oánh Thiền sư, với văn bia “Đức công thành đạo tháp” có niên đại đời vua Minh Mệnh thứ 1 (1820). Ngoài ra, còn có văn bia “Đại Tuệ viên thông tháp” khắc vào đầu tháng 8 năm Giáp Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 14 (1754), thờ Thiền sư Tính Không, pháp hiệu Vô Tướng Huyền Diệu thiền sư. Văn bia “Ký điền kỵ văn” khắc năm Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717) ghi chép về ruộng phúc điền của chùa. Với kiến trúc hình chữ Đinh, kết cấu gỗ, mái hiên thấp và cong hình mũi thuyền truyền thống, chùa Vồm là một trong số ít những ngôi chùa còn bảo tồn được các giá trị mỹ thuật kiến trúc, đặc biệt là kiến trúc gỗ và đá từ đầu thế kỷ XVIII, thời kỳ nhà Lê Trung Hưng.

Am và Văn bia Tuệ Minh am chùa Vồm khắc năm Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717), đời vua Lê Dụ Tông. (Ảnh: Vũ Ngọc Định)
Sự truyền thừa của Thiền phái Lâm Tế tại chùa Vồm – Đại Khánh tự
Trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVI đến XVII, do nhiều yếu tố, đặc biệt là cuộc nội chiến Lê – Mạc, Phật giáo đã trải qua giai đoạn phát triển bị kìm hãm. Phật giáo Thanh Hóa cũng không nằm ngoài tình hình chung đó. Tuy nhiên, vào năm 1630, Thiền sư Chuyết Công cùng đệ tử là Minh Hành đã từ phương Nam ra Bắc, dừng chân tại chùa Trạch Lâm, Thanh Hóa, để truyền bá chánh pháp. Từ đây, Thiền phái Lâm Tế Việt Nam bắt đầu hình thành và lan tỏa. Mặc dù vậy, trải qua thời gian dài, do những biến động lịch sử – xã hội, Thiền phái Lâm Tế dường như ít được nhắc đến tại vùng đất Thanh Hóa. Chỉ qua những văn bia còn sót lại tại chùa Đại Khánh và một số chùa khác trên địa bàn tỉnh, như “Trùng tu Đại Khánh tự bi”, “Tuệ Minh am”, “Đại Tuệ viên thông tháp”, “Đức công thành đạo tháp”, “Phổ Minh tháp chí”, “Thái Bình tự bi ký”, “Mật Đa thiền tự bi ký”, chúng ta mới có thể khái quát về sự tồn tại và truyền thừa của dòng Lâm Tế chính tông tại chùa Đại Khánh trong giai đoạn đầu thế kỷ XVIII – XIX.
Dựa trên các tư liệu văn bia, có thể phác thảo sự truyền thừa của Thiền phái Lâm Tế tại chùa Đại Khánh như sau:
1. Đời thứ nhất: Thiền sư Chân Dung và Thiền sư Chân Hỷ (thờ tại Tuệ Minh tháp) là những vị trụ trì đầu tiên của chùa Đại Khánh.
2. Đời thứ hai: Thiền sư Như Ngọ (thờ tại Vô Niệm tháp), đệ tử của Thiền sư Chân Hỷ, kế nhiệm trụ trì chùa Đại Khánh. Sau đó, Ngài chuyển đến trụ trì chùa Mật Đa (phường Nam Ngạn, thành phố Thanh Hóa) và chùa Thái Bình (xã Thiệu Hợp, huyện Thiệu Hóa).
3. Đời thứ ba: Bao gồm các đệ tử của Thiền sư Như Ngọ: Thiền sư Tính Không, Thiền sư Tính Chúng, Thiền sư Tính Hoành, Thiền sư Tính Hoàn, và Thiền sư Tính Ân. Trong số đó, Thiền sư Tính Không (thờ tại Huyền Diệu tháp) kế nhiệm trụ trì chùa Đại Khánh và kiêm nhiệm trụ trì chùa Thái Bình. Thiền sư Tính Ân trụ trì chùa Vạn Linh (xã Quảng Văn, huyện Quảng Xương).
4. Đời thứ tư: Là các đệ tử của Thiền sư Tính Không (người trụ trì chùa Đại Khánh và chùa Thái Bình), bao gồm Thiền sư Hải Oánh, Thiền sư Hải Sơn (chùa Thái Bình, Thiệu Hóa), Thiền sư Hải Khuê (chùa Thái Bình, Thiệu Hóa), Thiền sư Hải Ngạn (chùa Thái Bình, Thiệu Hóa), Thiền sư Hải Nhuận (chùa Thái Bình, Thiệu Hóa). Thiền sư Hải Oánh là người kế nhiệm trụ trì chùa Đại Khánh.
Ngoài ra, còn có một nhóm các vị sư là đệ tử của các Thiền sư thuộc dòng Tính khác (chưa xác định rõ là đệ tử của ai), bao gồm: Thiền sư Hải Thiềm, Thiền sư Hải Khoan, Thiền sư Hải Kiểu, Thiền sư Hải Khánh, Thiền sư Hải Ngoạn, Thiền sư Hải Giai, Thiền sư Hải Vịnh, Thiền sư Hải Thoan, Thiền sư Hải Tuy, Thiền sư Hải Văn, Thiền sư Hải Viện, Thiền sư Hải Niệm, Thiền sư Hải Bồi, Thiền sư Hải Thực, Thiền sư Hải Du, Thiền sư Hải Hồng, Thiền sư Hải Tập, Thiền sư Hải Thụy, Thiền sư Hải Nhạ, Thiền sư Hải Thuận, Thiền sư Hải Ngân…
5. Đời thứ năm: Thiền sư Phổ Đương Thông Tuệ (thờ tại Phổ Minh tháp) giữ chức Giám tự chùa Đại Khánh. Không rõ Ngài thuộc dòng Thiền sư Minh Hành hay Minh Lương. Theo văn bia “Phổ Minh tháp chí”, Thiền sư họ Phạm, tên Nguyên Lưu, quê ở xã Đào Xá, tổng Ngọc Cục, huyện Đường An, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Trước khi xuất gia, Ngài theo học Nho giáo và từng du học tại Tràng An (Trung Quốc). Năm 30 tuổi, Ngài xuất gia, trở thành đệ tử chân truyền của Đại giác Tôn sư Linh Quang hòa thượng. Sau hơn 10 năm thọ giới Tỳ Kheo, vào năm Ất Tỵ (1845), Ngài được nhân dân xã Đại Khánh mời về làm Giám tự chùa. Sau khi Ngài viên tịch, để tưởng nhớ công ơn, nhân dân địa phương và các đệ tử đã xây dựng tháp Phổ Minh để tôn thờ Xá Lợi của Ngài. Như vậy, Thiền sư Phổ Đương Thông Tuệ không phải là đệ tử tại gia của chùa Đại Khánh mà là người từ nơi khác được mời về trụ trì.
Nghiên cứu về sự truyền thừa của dòng Lâm Tế tại chùa Đại Khánh thời Lê Trung Hưng, có hai vấn đề cần làm sáng tỏ: Thứ nhất, Thiền sư Chân Hỷ và Chân Nguyên là đệ tử của ai? Thứ hai, các vị này thuộc sơn môn nào? Dựa trên các tư liệu lịch sử và chứng tích Phật giáo còn lại, có thể giải thích như sau: Theo bài Kệ truyền tông Lâm Tế do tổ Minh Hành – Tại Tại truyền lại, rất có thể ngài Chân Hỷ là đệ tử của ngài Minh Hành, và ngài Chân Nguyên là đệ tử của ngài Minh Lương. Đệ tử của ngài Chân Hỷ có pháp tính là Như Ngọ, và đệ tử của ngài Như Ngọ có pháp tính là Tính Không, đệ tử của ngài Tính Không có pháp tính là ngài Hải Oánh. Như vậy, từ ngài Minh Hành đến ngài Hải Oánh trải qua năm đời liên tiếp, với pháp tính được đặt theo Kệ truyền tông: Minh – Chân – Như – Tính – Hải. Các vị thiền sư tại chùa Đại Khánh đã kế thừa liên tục qua bốn đời (Chân – Như – Tính – Hải) trong khoảng hơn 100 năm, với sự gián đoạn hai đời (dòng Kim và dòng Tường) trước khi Thiền sư Phổ Đương Thông Tuệ từ nơi khác đến trụ trì. Với hơn 30 vị Tăng Ni, truyền thừa liên tục 4 đời và lan tỏa chánh pháp của tông Lâm Tế đến 3 ngôi chùa, mặc dù chưa thể coi là một trung tâm Phật giáo lớn, nhưng chùa Đại Khánh xứng đáng được xem là một chốn tùng lâm quan trọng của tông Lâm Tế tại xứ Thanh trong thế kỷ XVIII, đồng thời là minh chứng rõ nét cho giai đoạn hưng thịnh của Phật giáo Thanh Hóa nói riêng và Phật giáo miền Bắc Việt Nam nói chung.
Quần thể di tích chùa cổ Đại Khánh, sông Chu, thắng cảnh Bàn A Sơn, chùa Thái Bình, nền văn hóa Núi Đọ và đình làng Thanh Dương đã tạo nên một không gian văn hóa cổ kính, linh thiêng và thơ mộng. Việc gìn giữ và phát huy các giá trị của quần thể di tích này không chỉ là bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc mà còn góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của con người.
Chùa Vồm với những giá trị lịch sử, kiến trúc và sự truyền thừa độc đáo của Thiền phái Lâm Tế đã góp phần tạo nên bức tranh văn hóa Phật giáo phong phú của Thanh Hóa, mời bạn đọc khám phá thêm về những nét đẹp này trong chuyên mục Đạo phật.
