Quy luật nhân quả chi phối mọi khía cạnh trong cuộc sống, từ đọa lạc đến giác ngộ, không chỉ là một bài học nhỏ mà là nền tảng căn bản. Hiểu rõ điều này giúp chúng ta hướng đến sự chuyển hóa vận mệnh tích cực, tránh xa những kiến chấp sai lầm khi tiếp cận giáo lý cao siêu, như lời dạy từ kinh điển uyên thâm mà bạn có thể khám phá thêm tại Chia sẻ Đạo Phật.
Ác giả ác báo và câu chuyện về gian thần Tần Cối cùng vợ, những người bị phỉ nhổ qua nhiều thế hệ.
Chính vì một câu trả lời này mà vị Thiền sư đã phải đọa làm kiếp chồn suốt 500 năm, mãi đến khi gặp ngài Bá Trượng mới được giải thoát.
Từ câu chuyện trên, các bậc cổ đức khuyên nhủ người học Phật cần ưu tiên tìm hiểu các kinh điển về nhân quả tội phước, chú trọng rèn luyện giới hạnh và thấu hiểu về luân hồi trong ba cõi sáu đường, sau đó mới nghiên cứu đến các kinh điển cao siêu hơn. Nếu đi ngược lại thứ tự này, đặc biệt khi mới bắt đầu đọc những kinh như Kim Cang, Pháp Bảo Đàn mà không có căn lành vững chắc, người học rất dễ sinh tâm khinh mạn và rơi vào chấp kiến về “không”. Thực tế, nhân quả không phải là vấn đề nhỏ nhặt, bởi lẽ từ chúng sinh đọa vào tam đồ cho đến khi chư Phật thành bậc Chính Giác, tất cả đều không nằm ngoài quy luật nhân quả. Chính vì sự kiện này, người viết đã tiến hành phiên dịch quyển kinh này.

Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng: “Lòng tin là bước đầu của đạo, và là mẹ của mọi công đức”.
Vì kinh Nhân quả chỉ tóm lược trong vài trang, người viết đã bổ sung thêm một số câu chuyện, tạm gọi là “Nhân quả luân hồi tạp lục”.
Ở Việt Nam cũng có nhiều câu chuyện về luân hồi nhân quả, nhưng tiếc là chưa được ghi chép thành sách nên dần mai một. Do đó, người viết đã tìm và dịch các câu chuyện từ Trung Hoa, những câu chuyện này đều có thật. Một hạn chế phổ biến của người tu Phật là thường thích bàn luận về những điều huyền diệu mà lại ít khi thực hành những việc nhỏ nhặt, thường ngày. Nhớ lại khi sư cụ Khánh Hòa còn tại thế, có một Phật tử hỏi về đạo lý “vô thủy vô chung”. Sư Cụ mỉm cười đáp: “Sao phải hỏi những điều xa vời vậy? Cứ chăm chỉ ăn chay và niệm Phật đều đặn là đã rất tốt rồi!”. Điều này cho thấy, dù đã nghiên cứu nhiều giáo điển, người xưa vẫn không muốn nói những lời huyền bí mà tập trung vào việc thực hành những điều bình dị, thiết thực.
Kinh Hoa Nghiêm đã khẳng định: “Lòng tin là bước đầu của đạo, và là mẹ của mọi công đức”. Mong rằng những ai hữu duyên khi đọc quyển sách này sẽ bắt đầu tin vào sự tồn tại của linh hồn, ma quỷ, tin vào sự tương ứng giữa tội phước và quả báo, tin vào sự chuyển kiếp luân hồi và sự linh thiêng của Phật pháp. Từ đó, dần dần tiếp tục tìm hiểu những kinh điển cao hơn. Lúc ấy, những vấn đề về “không không, sắc sắc”, hay “thị phi” sẽ được làm sáng tỏ khi đối diện với Phật Đà và đạt được sự tỉnh ngộ.
———
Một ngày nọ, tại hội Linh Sơn, Tôn giả A Nan Đà cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Đại Tỳ Kheo đã tề tựu.
Khi đó, Tôn giả A Nan Đà chắp tay đảnh lễ Đức Phật, nhiễu quanh ba vòng, rồi quỳ xuống cung kính thỉnh cầu Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn rằng:
– Bạch Thế Tôn! Vào thời mạt pháp, chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Đề phần nhiều sinh tâm chẳng lành, không kính trọng Tam Bảo, không hiếu thảo với cha mẹ, thiếu vắng tam cang. Ngũ giới bị xáo trộn, cuộc sống nghèo khó, thân phận thấp hèn, sáu căn không đầy đủ, ngày ngày sát sinh hại mạng. Dẫn đến sự chênh lệch giàu nghèo, sang hèn giữa mọi người. Xin Thế Tôn chỉ rõ, do nhân duyên quả báo nào mà dẫn đến tình trạng này?

Vì vậy, tất cả chúng sinh cần ưu tiên hiếu kính cha mẹ, kế đến là tin kính Tam Bảo, thứ ba là từ bỏ sát sinh để phóng sinh, và cuối cùng là ăn chay, bố thí để gieo trồng phước điền cho tương lai.
Cúi xin Đức Thế Tôn từ bi, chỉ dạy cho chúng con rõ tường mọi việc.
Đức Phật bảo Tôn giả A Nan Đà cùng các vị Đại đệ tử: “Lành thay! Lành thay! Các ông hãy lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà giải thích một cách tường tận”.
Tất cả nam nữ ở thế gian, dù giàu sang hay nghèo hèn, chịu khổ vô biên hay hưởng phước vô lượng, đều là do nhân duyên từ đời trước mà cảm nhận quả báo.
Vì vậy, tất cả chúng sinh cần ưu tiên hiếu kính cha mẹ, kế đến là tin kính Tam Bảo, thứ ba là từ bỏ sát sinh để phóng sinh, và cuối cùng là ăn chay, bố thí để gieo trồng phước điền cho tương lai.
Làm sao để hạt giống nghiệp xấu không trổ quả?
Đức Phật liền nói bài kệ về nhân quả:
Giàu sang đều từ nhân duyên của đời trước,
Kiếp trước đã tu hành tích đức nhân.
Ai thọ trì bộ kinh này,
Đời đời kiếp kiếp hưởng phước lộc đầy.
Thiện nam, tín nữ hãy lắng nghe lời ta dạy:
Hãy suy ngẫm về kinh Nhân Quả ba đời.
Nhân quả ba đời là việc quan trọng,
Lời Phật dạy, chớ nên xem thường.
1. Đời này làm quan là do nhân gì?
Kiếp trước đã cúng dường vàng ròng để tô tượng Phật.
Đời này hưởng phước báu là do nhân xưa,
Được đeo đai vàng, mặc áo tía, tất cả đều cầu nơi Phật.
Việc trang nghiêm cho Phật cũng là trang nghiêm cho chính mình.
Làm đẹp cho Như Lai cũng là làm đẹp cho bản thân.
Đừng cho rằng làm quan là chuyện dễ dàng,
Nếu không tu phước ấy thì lấy đâu ra?
2. Cưỡi ngựa, ngồi kiệu là do nhân gì?
Kiếp trước đã làm cầu, sửa đường cho người đi.
3. Mặc gấm vóc là do nhân duyên gì?
Đời trước đã bố thí áo quần giúp đỡ Tăng Ni.
4. Có ăn, có mặc là do nhân gì?
Thuở xưa đã giúp đỡ người nghèo khó, cho họ ăn uống.
5. Ăn mặc thiếu thốn là do nhân gì?
Kiếp trước chỉ cho đi một nửa, không xả thí phần còn lại.
6. Có nhà lầu cao, nhà lớn là do nhân gì?
Thuở xưa đã cúng dường gạo cho chùa am.
7. Phước lộc đầy đủ là do nhân gì?
Thuở xưa đã xây dựng chùa am, cất nhà mát (1).
8. Tướng mạo xinh đẹp là do nhân gì?
Đời trước đã dâng hoa tươi cúng dường Đức Phật.
9. Thông minh trí tuệ là do nhân gì?
Kiếp trước đã ăn chay, thường xuyên niệm Phật.
10. Người khác nhìn thấy vui mừng là do nhân gì?
Thuở xưa đã kết duyên lành với mọi người.
11. Chồng vợ sống bền lâu là do nhân gì?
Đời trước đã làm tràng phan để trang nghiêm cúng dường Đức Phật.
12. Cha mẹ song toàn là do nhân gì?
Đời trước đã kính trọng những người cô độc.
13. Không cha mất mẹ là do nhân gì?
Kiếp trước là người chuyên đi đánh bẫy chim.
14. Con cháu đông nhiều là do nhân gì?
Đời trước đã mở lồng phóng sinh chim thú.
15. Nuôi con không được là do nhân gì?
Thuở xưa đã sinh con gái và nhẫn tâm dìm chết (2).
16. Đời này không có con là do nhân gì?
Kiếp trước đã bẻ gãy, hủy hoại trăm hoa.
17. Đời này sống lâu là do nhân gì?
Kiếp trước đã mua vật để phóng sinh với số lượng lớn.
18. Đời này mạng yểu là do nhân gì?
Kiếp trước đã xẻ thịt, giết hại chúng sinh.
19. Đời này không vợ là do nhân gì?
Kiếp trước đã tham mưu, gian díu với vợ người.
20. Đời này ở góa là do nhân gì?
Kiếp trước đã buông lung, khinh rẻ chồng.
21. Làm thân tôi đòi là do nhân gì?
Kiếp trước đã quên ơn, phụ nghĩa với người.
22. Đời này mắt sáng là do nhân gì?
Kiếp trước đã cúng dường dầu để thắp đèn Phật.

23. Đời này đui mù là do nhân gì?
Kiếp trước đã chỉ đường nhưng không phân minh, rõ ràng.
24. Môi miệng sứt mẻ là do nhân gì?
Kiếp trước đã thổi tắt đèn cúng dường Đức Phật.
25. Đời này câm điếc là do nhân gì?
Thuở xưa đã dùng lời ác mắng chửi cha mẹ.
26. Đời này lưng gù là do nhân gì?
Kiếp trước đã chê cười người đang lễ Phật.
27. Tay bị cong quẹo là do nhân gì?
Đời trước đều là người tạo nghiệp ác.
28. Chân bị co rút là do nhân gì?
Kiếp trước đã chặn đường, cướp bóc của người.
29. Làm thân trâu ngựa là do nhân gì?
Thuở xưa đã thiếu nợ người mà không chịu trả.
30. Đọa làm heo chó là do nhân gì?
Kiếp trước đã lừa gạt, phỉnh gạt, làm hại người.
31. Đời này nhiều bệnh là do nhân gì?
Thuở xưa đã dùng rượu thịt để bày biện cúng dường Đức Phật.
32. Đời này không bệnh là do nhân gì?
Thuở xưa đã thí thuốc men để cứu giúp người bệnh.
33. Hằng bị lao tù là do nhân gì?
Kiếp trước đã làm điều ác, không dung thứ cho người khác.
34. Đời này chết đói là do nhân gì?
Kiếp trước đã thường xuyên lấp hang rắn, chuột.
35. Bị thuốc độc chết là do nhân gì?
Kiếp trước đã giăng lưới, giết hại cá.
36. Nổi trôi cơ khổ là do nhân gì?
Do tâm ác, lấn hiếp, mưu hại người.
37. Đời này lùn bé là do nhân gì?
Kiếp trước đã xem kinh mà đặt dưới đất (3).
38. Nay thường thổ huyết là do nhân gì?
Thuở xưa đã ăn thịt rồi mới đi tụng kinh (4).
39. Đời này ngu điếc là do nhân gì?
Kiếp trước đã tụng kinh nhưng không chịu lắng nghe.
40. Ghẻ lác, phong điên là do nhân gì?
Đã xông hơi thịt cá trước bàn thờ Phật.
41. Thân có mùi hôi là do nhân gì?
Thuở xưa đã bán hương thơm nhưng lại gian dối.
42. Đời này chết treo là do nhân gì?
Kiếp trước đã dùng dây để săn bắt thú.
43. Quan, quả, cô độc là do nhân gì?
Thuở xưa đã thường ganh ghét, hiềm khích, mắng chửi người.
44. Sét đánh, lửa thiêu là do nhân gì?
Cân non, già, thiếu đều dùng lòng gian xảo.
45. Rắn cắn, cọp ăn là do nhân gì?
Kiếp trước đã gây oán thù, tạo ra đối đầu.
Mọi việc mình làm thì mình phải gánh chịu,
Thọ khổ nơi địa ngục thì trách ai?
Đừng nói rằng nhân quả người không thấy,
Xa thì trả cho con cháu, gần thì trả cho chính mình.
46. Chỉ nhìn thấy trước mắt người đang hưởng phước,
Sẽ tin vào việc bố thí và giữ trai giới.
Kiếp trước đã tu nhân thì nay hưởng quả,
Đời này tu tích để dành cho tương lai.
Nếu ai hủy báng kinh Nhân Quả,
Kiếp sau sẽ đọa lạc, mất đi thân người.
Kẻ nào thọ trì kinh Nhân Quả,
Chư Phật, Bồ Tát đều chứng giám.
Kẻ nào biên chép kinh Nhân Quả,
Sẽ được truyền đời tu học, đạo nhà hưng thịnh.
Ai mang đội kinh Nhân Quả,
Tai họa hung hiểm sẽ không xâm nhập.
Nếu người giảng nói về kinh Nhân Quả,
Đời đời kiếp kiếp sẽ được thông minh.
Kẻ nào đề xướng kinh Nhân Quả,
Đời sau người thấy sẽ sinh lòng cung kính.
Người nào ấn tống kinh Nhân Quả,
Kiếp sau sẽ được làm thân Đế Vương.
Theo kinh Nhân Quả, hãy xem nhân đời trước,
Để biết sự hưởng thụ của đời này.
Theo kinh Nhân Quả, hãy xem quả đời sau,
Là do việc làm của kiếp này tạo nên.
Nếu như nhân quả không có sự cảm ứng,
Thì làm sao Mục Liên có thể cứu được mẹ?
Người nào tin sâu vào kinh Nhân Quả,
Sẽ đồng sinh về Tây Phương Cực Lạc.
Nhân quả ba đời nói không thể kể hết,
Thiên long hộ pháp cũng không bỏ qua ý người lành.
Hãy xem Tam Bảo như ruộng phước lớn,
Dù chỉ gieo một hạt nhân, sẽ gặt hái muôn ngàn.
Lưu giữ kho báu bền chắc, không hư mất (5),
Nhiều đời sẽ được hưởng thụ phước vô cùng.
Muốn biết nhân của đời trước,
Hãy xem sự hưởng thụ của đời này.
Muốn biết quả của đời sau,
Hãy xem việc làm của kiếp này.
Chú thích:
(1) Là các viện dưỡng lão, cô nhi viện.
(2) Thuở xưa, từ Ấn Độ đến Trung Hoa, những gia đình nghèo khó sinh nhiều con không đủ khả năng nuôi dưỡng nên đã nhẫn tâm dìm chết bớt con gái ngay từ khi mới sinh.
(3) Ngồi dưới đất để xem kinh là hành động thiếu tôn kính. Nên đặt kinh trên bệ cao. Sự khinh mạn này cũng là nguyên nhân dẫn đến tướng mạo thấp bé. Ngược lại, lễ Phật và giữ thái độ khiêm hạ là nhân của tướng mạo cao lớn.
(4) Sau khi ăn mặn mà muốn tụng kinh, cần súc miệng, rửa tay, rửa miệng thật sạch và trì chú Tịnh Tam Nghiệp: “Um Soa Pha Va Suýt Đà, sạt và đạt ma, soa phạ va suýt đa hàm” (7 lần). Aum! Syabhava sudaha, sarva drama svabhava suddhà hàma. Như vậy mới thanh tịnh, không có tội lỗi.
(5) “Gửi kho” ở đây không phải là việc đốt giấy tiền vàng bạc để gửi vào kho. Ý nói tiền bạc thế gian không bền vững, khi chết đi đều phải bỏ lại. Chỉ có việc tu phước, làm lành, ăn chay, tụng kinh, tham thiền, niệm Phật mới là “kho báu” thực sự.
Hiểu rõ giáo lý nhân quả ba đời là chìa khóa để chuyển hóa vận mệnh, bạn có thể đào sâu hơn về những lời Phật dạy trong chuyên mục Đạo phật.
