Trong Phật giáo, người ta thường phân biệt giữa “tu tâm” và “tu tướng”, hai khái niệm liên quan mật thiết đến sự thay đổi của con người. Liệu vẻ ngoài có phản ánh nội tâm hay chỉ là cái nhìn bề ngoài? Bài viết này sẽ khám phá sâu hơn về mối tương quan này, mời bạn cùng truy cập chiasedaophat.com để hiểu rõ hơn.
Thần thông có thắng được sức mạnh của nghiệp?

Trong nhà Phật, người ta thường nhắc đến nhóm từ “tu tâm” và “tu tướng”. Vậy thế nào là tu tâm và thế nào là tu tướng?
Trong cuộc sống, con người thường có xu hướng đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài. Một người có dung mạo ưa nhìn, ăn mặc chỉnh tề thường dễ tạo thiện cảm ban đầu. Ngược lại, người có vẻ ngoài thiếu chăm chút hay nét mặt u buồn đôi khi gặp bất lợi trong giao tiếp, dù không bị kỳ thị rõ ràng nhưng cũng khó nhận được sự ưu ái đặc biệt.
Khái niệm “tướng” ở đây đề cập đến tổng thể hình dáng, diện mạo bên ngoài của một người. Từ xa xưa, ông bà ta đã có câu “tuyệt vời sẽ làm thay đổi tướng mạo”, và ngày nay, khoa học cũng chứng minh rằng tướng mạo con người có thể thay đổi theo thời gian. Khi còn nhỏ, nhiều em bé trông rất kháu khỉnh, nhưng khi lớn lên, nét mặt và hình dáng có thể thay đổi, không còn giữ được vẻ đáng yêu ban đầu.
Sự thay đổi tướng mạo này có thể xuất phát từ sự biến đổi trong tính cách và tâm địa. Khi một người trở nên ganh tị, thù hằn, hoặc khi hoàn cảnh sống không thuận lợi khiến họ luôn ưu tư, phiền não, hoặc do ảnh hưởng của nghề nghiệp, những đường nét trên khuôn mặt, phong thái, cử chỉ và tướng trạng của họ cũng có thể thay đổi rõ rệt so với khi còn nhỏ. Ví dụ, người làm nghề sát sinh có thể có ánh mắt và nét mặt hung dữ hơn, trong khi các y tá, với tính nhẫn nại và lòng thương người, thường có lời nói dịu dàng và cử chỉ ân cần.
Một người dù có tướng mạo đẹp đẽ nhưng tâm địa độc ác thường khó được người đời yêu mến. Thay vào đó, họ có xu hướng bị xa lánh vì nét mặt thường lộ rõ sự hung dữ, tạo ra một rào cản vô hình khiến người khác e dè, không muốn tiếp xúc vì sợ phiền phức. Nguyên nhân là do tâm trí của họ luôn căng thẳng, đầy rẫy những suy nghĩ và mưu kế vụ lợi cá nhân mà không màng đến nỗi khổ của người khác.
Tâm lý thù hằn, oán giận thường xuyên tác động đến hệ thống nội tiết, dẫn đến việc tiết ra các chất hóa học như Norepinephrine (gây căng thẳng, phấn khích, nổi giận) và Epinephrine (gây chán nản, thất chí, buồn tủi, lo âu, trầm cảm). Sự kết hợp của hai chất này làm tăng nhịp tim, huyết áp, lượng đường và mỡ trong máu, có thể dẫn đến bệnh tiểu đường. Lượng lớn Norepinephrine và Epinephrine còn kích thích Cortisol tiết ra, ảnh hưởng đến não bộ và gây mất trí nhớ. Khi các chất này tràn vào máu, sắc mặt người đó có thể trở nên xám xịt, nhăn nhó, căng thẳng và xấu xí. Lâu dần, các bệnh lý tâm thể này có thể phát sinh, khiến người đó trở nên bực bội, khó chịu và ngại giao tiếp.
Ngược lại, người có tâm địa hiền lương, thường nghĩ điều lành, có tâm lý thoải mái và thư giãn. Nhờ sự tĩnh lặng này, hệ thống nội tiết của họ tiết ra các hormone có lợi như Acetylcholine, Dopamine, Serotonin, Melatonin, Endorphine, Insulin. Những hormone này giúp trung hòa tác động của Norepinephrine và Epinephrine, hạ huyết áp, phục hồi trí nhớ, tạo cảm giác hưng phấn, linh hoạt, an lạc, cân bằng đường máu, giảm đau nhức, giúp họ cảm thấy vui vẻ, yêu đời và có thái độ thân thiện với mọi người. Gương mặt của họ thường tươi sáng và dễ tạo thiện cảm.
Như vậy, tâm và tướng có mối liên hệ mật thiết. Tâm thế nào sẽ biểu lộ ra tướng mạo như thế ấy.
Phát tâm tu, khi nghiệp quả đến có thay đổi từ nặng sang nhẹ không?

“Tu” là cách tiếp thu pháp học và pháp hành phù hợp với căn cơ trình độ để có kết quả tốt trên thân và tâm. Nó đòi hỏi thời gian. Thời gian này có thể xem như thời gian “gieo trồng” để sau này được kết quả tốt vậy.
Chữ ‘tu’ trong nhà Phật
Trong Phật giáo, khái niệm “tu” mang nhiều ý nghĩa. Theo cách hiểu thông thường, “tu” có thể là hành động uống một hơi hết ly nước, “tu sửa” nhà cửa hay xe cộ bị hư hỏng, hoặc “tu nghiệp” để bổ sung kiến thức chuyên môn. Trong tiếng Anh, “tu” tương đương với “practice”, nghĩa là thực tập, làm đi làm lại một phương pháp nào đó.
Chữ “Tu” trong Phật giáo có gốc từ chữ “bhàvanà”, mang ý nghĩa “gieo trồng” để đạt được kết quả. Hiểu rộng hơn, “tu” là tu tập, thực tập, thực hành hoặc hành trì một pháp môn nào đó nhằm chuyển hóa những kiến thức lý thuyết thành kinh nghiệm thực tế trên thân và tâm. Nói cách khác, “tu” là một quá trình thực tập để thay đổi lời nói, suy nghĩ, hành vi trong sinh hoạt hàng ngày, biến những thói quen xấu thành thói quen tốt theo lời Phật dạy.
Tóm lại, “tu” là cách tiếp thu giáo lý và thực hành phù hợp với trình độ, căn cơ của mỗi người để đạt được kết quả tốt đẹp cho thân và tâm. Quá trình này đòi hỏi thời gian, giống như thời gian “gieo trồng” để chờ ngày gặt hái thành quả.
Tu tướng còn gọi là tu phước

Tu tướng còn có nghĩa là tu tập những việc làm có thể nhìn thấy được qua hình tướng bên ngoài còn gọi là tu phước.
Tu tướng là việc giữ gìn hình dáng bên ngoài một cách chỉnh tề, sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng, y phục trang nghiêm. Điều này không có nghĩa là chạy theo quần áo sang trọng, trang sức đắt tiền hay trang điểm lòe loẹt. Người tu tướng là người sống đạo đức, tự trọng, tuân thủ các quy lễ, văn hóa, phong tục tập quán của cộng đồng và xã hội. Sự trang nghiêm trong hình tướng giúp các mối quan hệ xã hội trở nên văn minh, lịch sự và nền nếp.
Đối với người xuất gia, tu tướng là tuân theo giới luật, giữ gìn oai nghi tế hạnh trong mọi hoàn cảnh, từ đi, đứng, nằm, ngồi. Người đời thường kính trọng những tu sĩ dù áo quần giản dị nhưng toát lên vẻ trang nghiêm của bậc tu hành giữ giới.
Một tu sĩ ăn mặc luộm thuộm, bê bối, hoặc quá lòe loẹt, khi nói chuyện thiếu chừng mực, có thể khó nhận được sự chấp nhận của mọi người. Do đó, tu tướng là điều cần thiết cho cả người tại gia và xuất gia để tạo niềm tin và ấn tượng tốt đẹp với những người xung quanh.
Tu tướng còn bao hàm việc tu tập những hành động có thể nhìn thấy qua hình tướng bên ngoài, còn gọi là tu phước. Ví dụ như đi chùa lễ Phật, quy y Tam Bảo, thọ trì giới luật, bái sám, tụng kinh, niệm Phật, tọa thiền, bố thí, cúng dường, đúc chuông, tạo tượng, xây chùa tháp, ấn tống kinh sách, hộ niệm, đóng góp công sức, tiền bạc giúp đỡ người nghèo khó, bệnh tật, thiên tai, bão lụt, đào giếng, đắp đường, xây cầu…
Nếu không có phương tiện vật chất, có thể bố thí thời gian, công sức, tham gia các hoạt động thiện nguyện bằng khả năng hoặc kiến thức chuyên môn như dạy học, xây nhà, dựng lều, phát thuốc, tiêm thuốc, băng bó vết thương, an ủi, khuyên lơn, xoa dịu nỗi đau của người bệnh. Thực hiện một hoặc nhiều việc làm trên đều là tu phước.
Tu phước đòi hỏi tinh thần “Bố thí Ba-La-Mật”, nghĩa là giúp đỡ, bố thí không vì danh lợi, không tính toán, không so đo, không đòi hỏi điều kiện, không phân biệt phe nhóm, chính trị, tôn giáo hay tín ngưỡng. Nếu bố thí có điều kiện, việc tu phước sẽ mất đi ý nghĩa “phụng sự Tam Bảo” hay “làm việc thiện với tinh thần quên mình vì người”.
Theo Hòa thượng Thích Thông Triệt, “Tu phước là cách ta cụ thể hóa thái độ, cử chỉ, và lời nói của ta đối với người hay thú vật với mục đích đem lại niềm an vui, hạnh phúc, sự an toàn hay làm vơi đi những nỗi lo âu, sợ hãi, những nỗi đau tâm lý và thân xác cho những đối tượng này.” (Trích Bản tin sinh hoạt Thiền Tánh Không tháng 9 – 2002, trang 4).
Nói chung, người tu phước là người tự nguyện hy sinh phần vật chất, tiền tài của mình để chia sẻ cho người khác với tâm không mong cầu danh lợi, chỉ mong mang lại sự an vui, hạnh phúc cho người khác.
Phương pháp tu tập để triệt tiêu sắc dục
Giá trị của tu phước
Tu phước mang lại hai loại phước báo: Phước hữu lậu và Phước vô lậu.
– Phước hữu lậu: Khi làm việc bố thí, cúng dường, góp công góp của xây dựng chùa chiền hay tham gia cứu trợ với tâm mong cầu làm phước nhiều sẽ được hưởng phước báo nhiều trong đời này hoặc đời sau. Điều này không trái với quy luật Nhân Quả Nghiệp Báo trong đạo Phật. Theo quy luật này, làm điều gì thì sẽ hưởng quả đó khi hội đủ duyên. Làm việc thiện lành sẽ hưởng quả thiện lành, làm việc ác sớm muộn gì cũng nhận quả báo ác, không thể trốn tránh.
– Phước vô lậu: Thực hiện các việc thiện, kể cả việc giảng pháp, mà không màng đến công đức đã làm, không cầu mong nhận lại phước báo tốt lành ở đời này hay đời sau. Điều này được kinh điển nhắc đến qua câu “Tam luân không tịch”, nghĩa là không có chủ thể trao truyền Pháp hay vật tặng, không có người nhận, cũng không có lời giảng Pháp hay vật trao truyền. Tất cả chỉ là sự trao truyền. Tuy người làm việc thiện không mong muốn nhận lại gì, nhưng quả báo thiện lành sẽ tự nhiên xuất hiện khi duyên đến.

Tu phước hữu lậu hay tu phước vô lậu tuỳ quan niệm của mỗi người, tu thế nào cũng được nhưng là người Phật tử, dứt khoát tu phước là điều vô cùng cần thiết.
Trong cuộc sống, người tu phước hữu lậu hay vô lậu thường gặp nhiều may mắn trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt trên con đường tâm linh sẽ gặp được những thiện tri thức giúp đỡ tiến tu.
Những người sống ích kỷ, keo kiệt, không biết bố thí, không quan tâm giúp đỡ người khác, chỉ biết gom lợi về mình, được xem là thiếu lòng từ thiện. Do đó, họ sẽ không hưởng được phước báo. Nếu có chút phước báo trong đời này thì cũng đã hưởng hết, nên khi gặp tai nạn sẽ không còn phước báo để may mắn thoát khỏi. Vì vậy, các bậc tôn túc thường khuyên chúng ta nên để dành phước báo, không nên hưởng hết mà cần bồi đắp thêm phước báo bằng những việc thiện lành mỗi ngày. Điều này giống như tiền gửi trong ngân hàng, nếu rút ra xài hết thì khi cần sẽ không còn tiền để tiêu.
Tóm lại, tu phước được xem là cách “để dành tài nguyên công đức”. Tu phước hữu lậu hay vô lậu tùy thuộc vào quan niệm của mỗi người, nhưng là người Phật tử, việc tu phước là vô cùng cần thiết.
Tu tâm dưỡng tánh
Bên cạnh tu tướng, người Phật tử còn phải tu tâm, hay nói đủ là “Tu tâm Dưỡng Tánh”. Tu tâm là làm cho tâm ý được trong sạch, không còn ô nhiễm bởi tam độc: tham, sân, si. Dưỡng tánh là làm cho các tánh hiển lộ, đó là tánh thấy, tánh nghe, tánh xúc chạm và sâu sắc nhất là tánh nhận thức, gọi chung là tánh giác. Khi tánh giác hiển lộ, ta mới có cơ hội phát huy trí tuệ tâm linh. Do đó, tu tâm còn gọi là tu tuệ hay tu huệ. Người tu huệ là người hướng về tâm linh giải thoát, giác ngộ, nên công đức vô cùng lớn.
Trong cuộc sống, chúng ta thường nghe những lời than thở về khổ đau. Thật ra, ai cũng có khổ đau, dù là người nghèo hay giàu, ngu dốt hay có học thức cao, địa vị tốt trong xã hội. Nguyên nhân sâu xa của khổ đau thường là do chính chúng ta tự gây ra, bắt nguồn từ sự vô minh.
Đức Phật dạy rằng người sống trong đau khổ triền miên là người vô minh, bất kể giàu nghèo hay học thức. Vì vô minh nên ta chấp thủ đủ thứ, trước hết là chấp thân ngũ uẩn này là có thật, là “Ta”. Khi có “cái Ta”, “Ngã Kiến” luôn đúng, dễ dàng xung đột với “Ngã Kiến” của người khác, gây khổ cho mình và người khác. Vì chấp ngã nên ta thương yêu, bảo vệ nó, khi có bộ phận nào trên thân đau yếu là ta khổ. Cũng vì chấp ngã nên ta ích kỷ, muốn ôm hết tài, sắc, danh, thực, thuỳ về cho mình, muốn chiếm đoạt tất cả và được phục vụ khi ngũ dục đòi hỏi. Lòng tham ái vô đáy khiến ta không bao giờ đủ, luôn muốn nhiều hơn, dẫn đến khổ đau triền miên.
Khi không được toại nguyện, ta nổi sân, nóng giận. Người có tâm sân là người hay chấp nhặt những điều không vừa ý, khắc ghi những điều người khác làm tổn thương danh dự hoặc chạm tự ái, oán thù những ai cạnh tranh hoặc phá hỏng kế hoạch làm ăn của mình, ôm mối hận thù dai dẳng, chỉ mong có dịp trả thù. Từ sân hận dẫn đến si, phát ra những lời nói hàm hồ, hành động thiếu suy nghĩ, làm khổ mình khổ người.
Ngoài ra, do vô minh, con người tin tưởng những điều mê tín dị đoan, cố chấp những phong tục tập quán lỗi thời, bất công, đòi hỏi những điều vô lý quá đáng, tuân theo những lời răn cấm vô nhân và tàn ác. Nói chung, ta bị sợi dây kiết sử trói buộc tâm trí, khiến ta u mê và gây nhiều nghiệp xấu.
Để sống thảnh thơi, an lạc và hạnh phúc, không khổ mình khổ người, ngoài việc tu phước, người Phật tử còn phải biết tu tâm dưỡng tánh để loại trừ gốc vô minh. Do đó, tu tâm còn gọi là tu tuệ hay tu huệ.
Thế nào là tu huệ?
Tu tâm hay tu huệ là làm thanh sạch tâm bằng cách rèn luyện tâm có thói quen mới, từ lăng xăng dao động trở nên tĩnh lặng, sáng suốt, làm giảm hoặc dứt hẳn tham, sân, si, đi đến chỗ hoàn toàn thanh tịnh, tức ba nghiệp thân, khẩu, ý được thanh tịnh tuyệt đối.
Đức Phật phân loại tâm con người thành ba nhóm: tâm phàm phu, tâm bậc thánh và tâm Phật. Thực ra, con người chỉ có một tâm, nhưng nếu trạng thái tâm lộn xộn, phiền não thì đó là tâm phàm phu. Nếu tâm tĩnh lặng, trầm lắng, sáng suốt với dòng biết không lời thì đó là tâm bậc thánh, còn gọi là chân tâm hay tánh giác. Còn khi tâm hoàn toàn định tĩnh, nhu nhuyễn, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, ngoài lý luận (Atakkàvacara), dễ sai khiến và hoàn toàn Vô ngã thì đó là tâm Phật.
Tâm phàm phu được chia thành ba trạng thái: Ý (Ý Căn), Thức (Ý Thức) và Tâm (Trí Năng). Khi Ý Căn có mặt, ta suy nghĩ về chuyện đã qua, rồi buồn phiền, lo lắng, tạo tác ý xấu hoặc tốt, hình thành ý nghiệp. Kinh Kim Cang xếp đây là tâm quá khứ. Khi Ý Thức có mặt, ta phân biệt, so sánh đối tượng trong hiện tại, thường dính mắc với ngũ dục: tài, sắc, danh, thực, thuỳ… sinh lòng khát ái, tham dục, thương yêu hay thù ghét, nói ra lời và hành động tạo khẩu nghiệp và thân nghiệp. Đây là tâm hiện tại.
Trạng thái tâm thứ ba là Trí Năng. Trí năng là sự thông minh, bén nhạy của con người, là công cụ của ý căn và ý thức. Khi ý căn và ý thức phát tín hiệu, trí năng là cơ chế suy luận, suy diễn, tưởng tượng để thực hiện trong tương lai. Kinh ví trí năng như một thợ vẽ tài ba, vẽ ra đủ thứ không có thật ở hiện tại, nên được xếp là tâm tương lai.
Cả ba tâm này, Đức Phật gọi là hồ nước đục. Nước đục vì chứa đủ thứ phiền não, khổ đau của tâm ba thời: Quá Khứ, Hiện Tại, Vị Lai. Những ô nhiễm trong tâm là lậu hoặc/tập khí, kiết sử, tuỳ miên, mà gốc rễ chính là tam độc tham, sân, si. Những ô nhiễm này khiến tâm lúc nào cũng xao động, làm hồ nước tâm bị đục ngầu, mắt không thấy rõ những gì bên dưới đáy hồ. Do đó, Tu Tâm là tu tập làm sao cho tâm yên lặng. Muốn tâm yên lặng thì phải dẹp màn Vô Minh. Khi Vô Minh biến mất thì mặt trời Trí Huệ mới xuất hiện.
Ban đầu, hành giả cần sử dụng Trí Năng tỉnh ngộ, tức là “cái Ta” tỉnh ngộ. Khi Trí Năng tỉnh ngộ muốn tu tập, nó sẽ không còn nghe lời xúi giục của Ý Căn và Ý Thức nữa, mà trở thành ông chủ của hai tâm kia. Khi nó yên lặng thì hai tâm kia cũng yên lặng. Khi nó muốn học hỏi Phật pháp, hai tâm kia cũng phải học hỏi theo.
Phật pháp dạy theo công thức Giới-Định-Tuệ, Văn-Tư-Tu, với các phương pháp tu tập như Quán, Chỉ, Định và Huệ. Pháp nào cũng nhằm triệt tiêu tham sân si, dẹp màn Vô Minh để ngọn đèn Trí Tuệ tự phát sáng.
Bước đầu, hành giả học những lời dạy của Đức Phật qua các bài kinh Tứ Thánh Đế để hiểu rõ bốn chân lý về Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Học kinh Vô Ngã Tướng để nhận ra Tam Pháp Ấn: Vô thường, Khổ, Vô Ngã. Học giáo lý Duyên Khởi để biết vạn pháp đều không tự sinh ra mà do nhiều duyên hợp thành, hết duyên thì tan rã. Học giáo lý Nhân Quả để biết gieo nhân nào thì nhận quả nấy, không mất đi đâu.
Khi học thuộc và hiểu nhuần nhuyễn giáo lý của Đức Phật, hành giả thành tựu Tuệ Tri, tức có trí thông hiểu sự thành hoại của hiện tượng thế gian, bao gồm cả con người. Hiểu được nguyên nhân con người khổ đau và cách tận diệt khổ đau. Giai đoạn này có thể gọi là tu Thiền Quán (Anupassanà).
Kết quả của giai đoạn này là giúp hành giả gia tăng sự biết lặng lẽ, chuyển đổi nhận thức, chuyển tâm, chuyển nghiệp. Học, suy tư để hiểu rõ lời Phật dạy cũng có thể xem là thời gian của văn tuệ và tư tuệ.
Giai đoạn tiếp theo là tu tập để chuyển đổi tâm lăng xăng trở nên yên lặng. Bước đầu là tu Thiền Chỉ, áp dụng các kỹ thuật:
– Nghe tiếng chuông, giữ niệm Biết không lời về âm thanh, nghĩa là khi nghe mà trong não không khen chê âm thanh, không phân biệt âm thanh ngân dài hay ngắn, trong hay đục.
– Khi làm việc gì, biết đang làm việc đó, không suy nghĩ chuyện khác.
– Thực tập mắt nhìn đối tượng, giữ tâm yên lặng trong não, không khen chê, chỉ biết đó là bình hoa, là cái chuông hay là cái bàn.
– Thư giãn lưỡi.
– Thiền hành… Đây là những cách tu thiền chỉ. Hành trì như vậy một thời gian sẽ giúp tâm quen với thói quen mới, bớt suy nghĩ, bớt dao động.
Trong Thiền Sử, các Tổ thường nói: “Nghe như điếc, thấy như mù”. Điều này có nghĩa là nghe, thấy rõ ràng nhưng tâm không dao động, không phản ứng vì không dính mắc, nên không biểu lộ vui buồn. Do đó, người nghe thấy này được ví như người điếc, người mù.
Tâm được yên lặng tức là có định ở mức độ ban đầu. Dù chưa vững chắc, tâm ta cũng được thanh thản, có tuệ tri nhận rõ chân tánh của hiện tượng thế gian. Sống trong đời, ta sẽ bớt khổ vì đã bớt dính mắc, bớt chấp trước, bớt buồn phiền người khác.

Tu tướng hay tu phước, tu tâm hay tu huệ… cả hai đều cần thiết cho cuộc đời tu tập của người Phật tử. Nếu chúng ta chỉ muốn cuộc sống của chúng ta bớt khổ được an lạc trong đời này và đời sau thì nên tập tu phước.
Ba căn lành chẳng thể cùng tận
Ở mức độ cao hơn, hành giả thực tập Pháp Như Thật, nghĩa là đối tượng như thế nào thì thấy, nghe, xúc chạm biết như thật về đối tượng đó. Tâm hoàn toàn yên lặng vì “không dán nhãn đối tượng”, tức không gán ghép hay chụp mũ đối tượng là thế này thế kia, “không định danh đối tượng”, tức không đặt tên hay gọi tên đối tượng theo quy ước thế gian.
Dần dần, hành giả Nhận Thức Như Thật về các đối tượng của giác quan, trong đó không có ý niệm “Ta”. Lúc bấy giờ, trí năng vẽ vời, ý thức phân biệt đã hoàn toàn yên lặng, nhường năng lực hoạt động cho các tánh. Mắt thấy mà không nói thầm trong đầu là tánh thấy nó thấy. Tai nghe mà không nói thầm trong đầu là tánh nghe nó nghe. Thân nóng lạnh tự biết mà không phàn nàn, suy diễn gì trong đầu thì đó là tánh xúc chạm đang biết xúc chạm.
Giai đoạn này, hành giả đang thực tập thiền Huệ (Vipassanà tức Tuệ Minh Sát). Qua đó, mạng lưới của tưởng sẽ không hoạt động. Tầm tứ yên lặng, tức ngôn hành tịnh chỉ, hành giả lọt vào trạng thái “Định không tầm không tứ”. Tâm hoàn toàn an tịnh với sự thầm nhận biết không lời. Khi xả thiền, hành giả sống trong chánh niệm, đi đứng nằm ngồi giữ niệm biết không lời, thì những phiền não xung quanh khó mà xâm nhập vào tâm hành giả.
Ở mức độ cao hơn nữa, qua các chủ đề trừu tượng của Thiền Định (Samàdhi) như Không, Chân Như, Huyễn…, tiềm năng giác ngộ sẽ bộc phát. Lúc này, hành giả kinh nghiệm Định-Huệ đồng thời. Hành giả có sự hiểu biết chân thật của chính mình, không phải hiểu biết qua học hỏi của Đức Phật. Trí huệ này là trí huệ tự phát từ nhận thức, tạm gọi là Phật Tánh bên trong hành giả. Hành giả sẽ có những nhận thức mới về hiện tượng thế gian và nắm vững những pháp hành để ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày qua bốn oai nghi.
Kết quả của sự hành trì này giúp cân bằng thân-tâm của chính hành giả, đưa đến sự hài hòa giữa hành giả với người xung quanh và môi trường. Lúc bấy giờ, hành giả cảm thấy thân tâm thực sự an lạc và hạnh phúc. Sự an lạc và hạnh phúc đó không đến từ bên ngoài mà đến từ bên trong nhận thức của hành giả đối với chân tánh của hiện tượng thế gian.
Về cơ bản, khi bắt đầu nhận rõ chân tánh của hiện tượng là hành giả đã bắt đầu có trí huệ, biết rõ mọi hiện tượng đều vô thường, đều thay đổi. Nó có mặt do nhiều duyên hợp lại, khi duyên tan rã thì nó biến mất, vì vậy không dại gì mà dính mắc với nó để rồi khổ.
Ngoài ra, thông qua việc ứng dụng pháp học (giáo lý) và pháp hành là Thiền Định, hành giả có khả năng khai triển các năng lực bên trong cơ chế tánh giác để phát huy trí huệ tự phát, trong kinh gọi là trí huệ bát nhã hay trí huệ tâm linh. Nhờ huệ tự phát mà hành giả dẹp được tham sân si, cho nên nói tu tâm là tu huệ, còn tu tập để phát huy năng lực của các tánh gọi là dưỡng tánh. Tu tâm dưỡng tánh có nghĩa là như thế!
Tu tướng hay tu phước, tu tâm hay tu huệ… cả hai đều cần thiết cho cuộc đời tu tập của người Phật tử. Nếu chúng ta chỉ muốn cuộc sống của chúng ta bớt khổ, được an lạc trong đời này và đời sau thì nên tập tu phước.
Tuy nhiên, tu phước vẫn còn phải chịu lặn ngụp trong vòng sinh tử để nhận phước báo mình đã gieo trồng hoặc những nghiệp xấu đã tạo ra trong nhiều đời kiếp trước, hoặc do sơ suất trong đời này mà lỡ gây ra.
Tu huệ là chúng ta cần phải học giáo lý để hiểu rõ và thâm nhập nhận thức của Đức Phật về con người và vũ trụ, rồi hành trì các pháp Chỉ, Quán, Định, Huệ, theo đúng con đường tu tập Đức Phật đã phác họa là: Văn, Tư, Tu (tam Tuệ) để mở mang trí huệ. Tu hành với mục đích thoát khổ, giải thoát, giác ngộ… thành Phật thì phải tu theo thứ tự Giới-Định-Huệ (tam Vô Lậu học), dẹp sạch lậu hoặc thì mới vượt thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.
Đường tu còn dài, dài vô cùng tận… nhưng nếu không bắt đầu thì bao giờ mới tới đích? Trong khoảng thời gian dài ba a-tăng-kỳ kiếp hoặc hơn đó, chúng ta hãy cứ tu phước và tu huệ. Được bao nhiêu quý bấy nhiêu. Tu phước là chúng ta sẵn sàng làm những việc thiện có lợi cho người cũng có lợi cho ta.
Giúp người bớt khổ hẳn tâm ta cũng nhẹ nhàng an vui. Tu phước là chúng ta không làm việc ác mà làm việc lành. Bên cạnh việc tu phước, chúng ta cũng tu huệ bằng cách học những phương pháp thanh lọc cho tâm ý được thanh tịnh. Ứng dụng sự thanh tịnh tuyệt đối của tâm để phát huy trí huệ từ thấp đến cao theo các chủ đề trong thiền Quán (Anupassanà), thiền Chỉ (Samatha), thiền Định (Samàdhi) và thiền Huệ (Vipassanà).
Đó là chúng ta tu tập cả hai: Phước và huệ, gọi là “Phước huệ song tu”. Cả hai phương pháp tu này hỗ trợ lẫn nhau, giúp cho đời sống hiện tại của chúng ta được an ổn, hạnh phúc. Và những đời sống kế tiếp ở tương lai, ít nhiều gì cũng hưởng được phước báo thiện lành, tiếp tục gặp Phật Pháp để tiến tu cho đến khi nào trọn thành Phật đạo.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Để hiểu rõ hơn về hành trình tu tập và những lợi ích mà các phương pháp “tu tâm” và “tu tướng” mang lại, mời bạn khám phá thêm nội dung chi tiết trong chuyên mục Đạo phật.
