Nguyễn Du: Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Độc Đáo

van te 0921 1
0
(0)

Tác phẩm “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” của Nguyễn Du, dù thời điểm ra đời còn là ẩn số, luôn gợi lên những suy tư sâu sắc về nhân tình thế thái. Những trang viết của đại thi hào, thấm đẫm trải nghiệm cá nhân về gian truân và mất mát, đã lay động lòng trắc ẩn đối với những phận đời khốn khó. Khám phá vẻ đẹp độc đáo và ý nghĩa nhân văn sâu xa của bài văn tế này tại Chiasedaophat.

Đôi nét về tác phẩm Văn tế thập loại chúng sinh

Văn tế thập loại chúng sinh của đại thi hào Nguyễn Du 1

Văn tế thập loại chúng sinh, hiện chưa rõ thời điểm sáng tác.

Thời điểm ra đời chính xác của “Văn tế thập loại chúng sinh” vẫn còn là một ẩn số. Một số ý kiến cho rằng Nguyễn Du sáng tác tác phẩm này sau một trận dịch bệnh kinh hoàng, khi đất nước chìm trong không khí tang thương và các chùa chiền đều lập đàn cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Tuy nhiên, cũng có giả thuyết cho rằng tác phẩm này được viết trước cả “Truyện Kiều”, trong giai đoạn Nguyễn Du làm quan ở Quảng Bình.

Bản văn cổ nhất được biết đến là bản khắc ván năm 1895, lưu giữ tại chùa Hưng Phúc, tỉnh Bắc Ninh. Từ các bản văn khác nhau, các nhà nghiên cứu đã dày công hiệu đính, cho ra đời những văn bản có độ tin cậy cao hơn.

Trong giai đoạn “mười năm gió bụi” (1786-1795), cuộc sống của Nguyễn Du đầy gian truân, thể hiện rõ trong “Thanh Hiên Thi Tập”. Ông đã trải qua nhiều biến cố, cuộc sống nghèo khó, bệnh tật triền miên. Ngay cả khi ra làm quan dưới triều Nguyễn, ông vẫn giữ nếp sống giản dị, thanh tao. Những trải nghiệm này đã hun đúc nên sự đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Du đối với những phận đời thấp kém, điều này được thể hiện rõ nét trong “Văn tế chiêu hồn”.

Văn tế thập loại chúng sinh của đại thi hào Nguyễn Du 2

Tượng đài Đại thi hào Nguyễn Du

Tác phẩm được viết bằng thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ Nôm, chia thành bốn phần chính:

* **Phần một (20 câu):** Mở đầu bằng bức tranh thu buồn bã, gợi lòng thương cảm với những sinh linh đang bơ vơ nơi cõi âm, và lời kêu gọi lập đàn cầu siêu.
* **Phần hai (116 câu):** Liệt kê tên và nguyên nhân dẫn đến cái chết của mười loại cô hồn.
* **Phần ba (20 câu):** Miêu tả cuộc sống bi đát, thê lương của các cô hồn.
* **Phần cuối (28 câu):** Lời cầu nguyện vào sức mạnh Phật pháp để chúng sinh được siêu thoát, và lời mời các cô hồn nhận lễ vật để về cõi vĩnh hằng.

Nội dung bài Văn tế thập loại chúng sinh

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô.
Não người thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.

Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Dịp đường lê lác đác mưa sa.
Lòng nào lòng chẳng thiết tha,
Cõi dương còn thế, nữa là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,
Có khôn thiêng phảng phất u minh.
Thương thay thập loại chúng sinh,
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.

Hương lửa đã không nơi nương tựa,
Hồn mồ côi lần lữa bấy niên.
Còn chi ai khá ai hèn,
Còn chi mà nói ai hèn ai ngu!

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát,
Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi.
Muôn nhờ đức Phật từ bi,
Giải oan cứu khổ độ về Tây phương.

***

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh,
Chí những lăm cất gánh non sông.
Nói chi những buổi tranh hùng,
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở,
Khôn đem mình làm đứa thất phu.
Giàu sang càng nặng oán thù,
Máu tươi lai láng xương khô rụng rời.

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa.
Cho hay thành bại là cơ,
Mà cô hồn biết bao giờ cho tan.

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ,
Những cậy mình cung quế Hằng Nga.
Một phen thay đổi sơn hà,
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

Trên lầu cao dưới dòng nước chảy,
Phận đã đành trâm gãy bình rơi.
Khi sao đông đúc vui cười,
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

Đau đớn nhẽ không hương không khói,
Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.
Thương thay chân yếu tay mềm,
Càng năm càng héo, một đêm một dài.

Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,
Ngọn bút son thác sống ở tay.
Kinh luân găm một túi đầy,
Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,
Trăm loài ma mồ nấm chung quanh.
Ngàn vàng khôn đổi được mình,
Lầu ca viện hát tan tành còn đâu?

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,
Biết lấy ai bát nước nén nhang?
Cô hồn thất thểu dọc ngang,
Nặng oan khôn lẽ tìm đường hóa sinh?

Kìa những kẻ bài binh bố trận,
Đổi mình vào cướp ấn Nguyên Nhung.
Gió mưa sấm sét đùng đùng,
Phơi thây trăm họ nên công một người.

Khi thất thế tên rơi đạn lạc,
Bãi sa trường thịt nát máu rơi.
Mênh mông góc bể chân trời,
Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,
Khí âm huyền mờ mịt trước sau.
Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,
Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú,
Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn.
Ruột rà không kẻ chí thân,
Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,
Của phù vân dẫu có như không.
Sống thời tiền chảy bạc ròng,
Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm,
Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm.
Ngẩn ngơ trong quãng đồng chiêm,
Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý,
Dẫn mình vào thành thị lân la.
Mấy thu lìa cửa lìa nhà,
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.

Dọc hàng quán gặp tuần mưa nắng,
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng.
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,
Anh em thiên hạ láng giềng người dưng.

Bóng phần tử xa chừng hương khúc,
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang.
Cô hồn nhờ gửi tha phương,
Gió trăng hiu hắt lửa hương lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,
Cánh buồm mây chạy xế gió đông.
Gặp cơn giông tố giữa dòng,
Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán,
Đòn gánh tre chín dạn hai vai.
Gặp cơn mưa nắng giữa trời,
Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,
Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan.
Nước khe cơm vắt gian nan,
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

Buổi chiến trận mạng người như rác,
Phận đã đành đạn lạc tên rơi.
Lập lòe ngọn lửa ma trơi,
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp,
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa.
Ngẩn ngơ khi trở về già,
Ai chồng con tá biết là cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não,
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa.
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi.
Thương thay cũng một kiếp người,
Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc,
Gửi mình vào chiếu rách một manh.
Nắm xương chôn rấp góc thành,
Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?

Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé,
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.
Lấy ai bồng bế xót xa,
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,
Cũng có người sẩy cối sa cây.
Có người leo giếng đứt dây,
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

Người thì mắc sơn tinh thủy quái,
Người thì sa nanh sói ngà voi.
Có người hay đẻ không nuôi,
Có người sa sẩy có người khốn thương.

***

Gặp phải lúc đi đường lỡ bước,
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau.
Mỗi người một nghiệp khác nhau,
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi,
Hoặc là nương ngọn suối chân mây.
Hoặc là điếm cỏ bóng cây,
Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ.

Hoặc là nương Thần từ, Phật tự,
Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông.
Hoặc là trong quãng đồng không,
Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

Sống đã chịu một bề thảm thiết,
Ruột héo khô dạ rét căm căm.
Dãi dầu trong mấy mươi năm,
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương.

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,
Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra.
Lôi thôi bồng trẻ dắt già,
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe Kinh.

***

Nhờ phép Phật siêu sinh Tịnh Độ,
Phóng hào quang cứu khổ độ u.
Rắp hòa tứ hải quần chu,
Não phiền trút sạch oán thù rửa không.

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,
Chuyển pháp luân tam giới thập phương.
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương,
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh,
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao.
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe Kinh.

Kiếp phù sinh như hình như ảnh,
Có chữ rằng: ”Vạn cảnh giai không”.
Ai ơi lấy Phật làm lòng,
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Đàn chẩn tế vâng lời Phật Giáo,
Của có khi bát cháo nén nhang.
Gọi là manh áo thoi vàng,
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đây dưới trên ngồi lại,
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.
Phép thiêng biến ít thành nhiều,
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.

Phật hữu tình từ bi phổ độ,
Chớ ngại rằng có có không không.
Nam-mô chư Phật, Pháp, Tăng,
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.

*Bài này còn gọi là “Văn chiêu hồn” hay “Văn tế chiêu hồn”.*

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang