Khám phá chiều sâu của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, một tác phẩm kinh điển định hình nền tảng đạo đức Phật giáo, với cấu trúc gồm ba quyển và mười ba phẩm đầy ý nghĩa. Tác phẩm này không chỉ đề cao hiếu thảo và sự tôn kính thầy cô, mà còn mở ra con đường giác ngộ và giải thoát qua những giáo lý dễ tiếp cận. Tìm hiểu thêm về kho tàng Phật pháp tại Website Chia sẻ Đạo Phật.
Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện là một bộ kinh căn bản, giúp định hình đời sống đạo đức cho người đệ tử Phật. Nội dung cốt lõi nhấn mạnh lòng hiếu thảo với cha mẹ và sự phụng sự tôn sư. Bộ kinh gồm ba quyển Thượng, Trung, Hạ, với 13 phẩm, chứa đựng những giáo lý nền tảng cho hành trình giác ngộ và giải thoát.
Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.
Cấu trúc của bộ kinh bao gồm:
1. Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện quyển Thượng:
- Phẩm thứ nhất: Thần thông trên cung trời Đao Lợi.
- Phẩm thứ hai: Phân thân tập hội.
- Phẩm thứ ba: Quán chúng sanh nghiệp duyên.
- Phẩm thứ tư: Nghiệp cảm của chúng sanh.
2. Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện quyển Trung:
- Phẩm thứ năm: Danh hiệu của địa ngục.
- Phẩm thứ sáu: Như lai tán thán.
- Phẩm thứ bảy: Lợi ích cho kẻ còn người mất.
- Phẩm thứ tám: Các vua Diêm La khen ngợi.
- Phẩm thứ chín: Xưng danh hiệu chư Phật.
3. Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện quyển Hạ:
- Phẩm thứ mười: So sánh nhân duyên công đức của sự bố thí.
- Phẩm thứ mười một: Địa thần hộ Pháp.
- Phẩm thứ mười hai: Thấy nghe được lợi ích.
- Phẩm thứ mười ba: Dặn dò cứu độ nhân thiên.
Mười ba phẩm này mang tính biểu tượng cao, gần gũi với các đệ tử Phật, giúp dễ dàng thẩm thấu, đọc tụng và ứng dụng vào cuộc sống, mang lại công đức và phước báu lớn lao.
Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện
(Quyển Thượng)
PHẨM THỨ NHẤT: THẦN THÔNG TRÊN CUNG TRỜI ĐAO LỢI
1. PHẬT HIỆN THẦN THÔNG
Đức Phật thuyết pháp tại cung Trời Đao Lợi vì Thánh Mẫu. Lúc này, vô lượng chư Phật và đại Bồ Tát từ vô lượng thế giới ở mười phương hội về. Các Ngài đồng khen ngợi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể ở trong đời ngũ trược ác mà hiện sức đại trí tuệ thần thông, điều phục chúng sinh cang cường, giúp họ thấu hiểu “Pháp khổ pháp vui”. Sau khi khen ngợi, chư Phật sai thị giả đến thăm Đức Thế Tôn.
Đức Như Lai mỉm cười, phóng ra trăm nghìn vầng mây sáng rực, mang các ý nghĩa như: đầy đủ, đại từ bi, đại trí tuệ, đại Bát Nhã, đại Tam muội, đại cát tường, đại phước đức, đại công đức, đại quy y, đại tán thán. Cùng lúc, Đức Phật phát ra các tiếng vi diệu như: Bố thí độ, Trì giới độ, Nhẫn nhục độ, Tinh tấn độ, Thiền định độ, Bát Nhã độ, Từ bi, Hỷ xả, Giải thoát, Vô lậu, Trí huệ, Sư tử hống, Mây sấm…
2. TRỜI RỒNG HỘI HỌP
Khi Đức Phật phát ra những tiếng vi diệu ấy, vô lượng ức hàng Trời, Rồng, Quỷ, Thần từ cõi Ta Bà và các cõi khác cũng đến hội họp tại cung Trời Đao Lợi. Bao gồm các vị Trời Tứ Thiên Vương, Đao Lợi, Tu Diệm Ma, Đâu Suất Đà, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại, Phạm Chúng, Phạm Phụ, Đại Phạm, Thiểu Quang, Vô Lượng Quang, Quang Âm, Thiểu Tịnh, Vô Lượng Tịnh, Biến Tịnh, Phước Sanh, Phước Ái, Quảng Quả, Nghiêm Sức, Vô Lượng Nghiêm Sức, Nghiêm Sức Quả Thiệt, Vô Tưởng, Vô Phiền, Vô Nhiệt, Thiện Kiến, Thiện Hiện, Sắc Cứu Cánh, Ma Hê Thủ La, cho đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
Cùng với các vị Thần cai quản biển, sông, rạch, cây, núi, đất, lúa mạ, ngày, đêm, hư không, ăn uống, cây cỏ… và các Đại Quỷ Vương như: Ác Mục, Đạm Huyết, Đạm Tinh Khí, Đạm Thai Noãn, Hành Bịnh, Nhiếp Độc, Từ Tâm, Phước Lợi, Đại Ái Kính…
3. ĐỨC PHẬT PHÁT KHỞI
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi: “Ông xem tất cả chư Phật, Bồ Tát và Trời, Rồng, Quỷ, Thần tụ họp nơi đây, ông có biết số lượng không?”. Ngài Văn Thù Sư Lợi thưa: “Bạch Thế Tôn, dùng thần lực của con tính ngàn kiếp cũng không biết số!”.
Đức Phật nói: “Ta dùng Phật nhãn xem cũng không đếm xiết. Số lượng này đều là chúng sanh mà Ngài Địa Tạng Bồ Tát đã hoặc đang hoặc chưa độ thoát, đã hoặc đang hoặc chưa thành tựu.”
Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch: “Bạch Đức Phật, con tin lời Phật nói. Nhưng những người tiểu quả Thanh Văn, Trời, Rồng, tám bộ chúng và chúng sanh đời sau, dầu nghe lời thật của Như Lai, có lẽ vẫn còn nghi ngờ. Kính mong Đức Thế Tôn nói rõ nhân địa của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, Ngài tu hạnh gì, lập nguyện gì mà thành tựu sự không thể nghĩ bàn này?”.
Đức Phật ví dụ: “Như cỏ, cây, lùm, rừng, lúa, mè… trong cõi tam thiên đại thiên, mỗi vật là một sông Hằng, mỗi cát trong sông là một cõi nước, mỗi bụi nhỏ là một kiếp. Ngài Địa Tạng Bồ Tát tu hành từ lúc chứng quả Thập Địa đến nay đã trải qua nghìn lần số kiếp tỉ dụ trên, huống chi là những lúc Ngài còn ở bậc Thanh Văn và Bích Chi Phật!”.
Đức Phật dạy thêm: “Oai thần thệ nguyện của Bồ Tát đó không thể nghĩ bàn. Nếu có thiện nam, thiện nữ nào nghe danh hiệu Ngài Địa Tạng Bồ Tát, hoặc khen ngợi, chiêm ngưỡng, vái lạy, xưng danh, cúng dường, cho đến vẽ, khắc, đắp, sơn hình tượng Ngài, người đó sẽ được trăm lần sanh lên cõi Trời Đao Lợi, vĩnh viễn không còn đọa vào ác đạo.”
4. TRƯỞNG GIẢ TỬ PHÁT NGUYỆN
Đức Phật kể về tiền kiếp của Ngài Địa Tạng Bồ Tát: Thuở xưa, Ngài là một vị Trưởng giả tử, thấy Đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai có tướng mạo tốt đẹp, bèn hỏi Ngài tu hạnh nguyện gì. Đức Phật đáp: “Muốn được thân tướng tốt đẹp này, cần phải trải qua thời gian dài độ thoát tất cả chúng sanh khổ đau”. Nghe vậy, Trưởng giả tử phát nguyện: “Từ nay đến đời sau vô số kiếp, con sẽ vì chúng sanh tội khổ trong sáu đường mà giảng bày nhiều phương tiện làm cho chúng được giải thoát hết, rồi tự thân con mới chứng thành Phật Đạo”. Vì lập nguyện rộng lớn đó, Ngài vẫn còn là Bồ Tát cho đến ngày nay.
5. BÀ LA MÔN NỮ CỨU MẸ
Đức Phật kể tiếp tiền kiếp khác: Thuở xưa, có Đức Phật hiệu là Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai. Trong thời tượng pháp, có một Thánh nữ dòng Bà La Môn, mẹ của nàng mê tín tà đạo, khinh khi Tam Bảo. Sau khi mẹ mất, thần hồn đọa vào Vô Gián địa ngục. Thánh nữ bán tài sản, sắm lễ vật cúng dường Đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương. Thấy hình tượng Phật, nàng càng kính ngưỡng và buồn tủi. Bỗng nghe tiếng trên hư không bảo: “Ta là Đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương, thấy ngươi thương nhớ mẹ nên đến chỉ bảo”. Đức Phật dạy nàng về nhà, ngồi niệm danh hiệu Ngài. Thánh nữ bỗng thấy mình đến một bờ biển sôi sục, đầy thú dữ, Quỷ Dạ Xoa hành hạ chúng sanh tội lỗi. Nàng gặp Quỷ Vương Vô Độc, được biết đây là biển nghiệp dẫn đến địa ngục. Quỷ Vương cho biết mẹ nàng, tên Duyệt Đế Lợi, nhờ phước con gái hiếu thuận cúng dường Tam Bảo nên đã thoát khỏi địa ngục và sanh về cõi Trời. Thánh nữ bèn phát nguyện rộng lớn: “Từ nay đến đời vị lai, những chúng sanh mắc tội khổ, tôi sẽ lập nhiều phương chước làm cho chúng được giải thoát”. Đức Phật cho biết Quỷ Vương Vô Độc chính là Bồ Tát Tài Thủ, còn Thánh Nữ Bà La Môn chính là Địa Tạng Bồ Tát.
PHẨM THỨ HAI: PHÂN THÂN TẬP HỘI
1. HÓA THÂN CÙNG QUYẾN THUỘC
Các phân thân của Địa Tạng Bồ Tát từ vô lượng thế giới có địa ngục đến hội họp tại cung Trời Đao Lợi. Nhờ thần lực của Như Lai, các phân thân này cùng những chúng sanh đã được giải thoát từ mười phương cũng đến đông đảo, cúng dường Phật. Tất cả đều nhờ Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa, trụ nơi đạo Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
2. ĐỨC NHƯ LAI AN ỦI ỦY THÁC
Đức Phật xoa đảnh các phân thân Địa Tạng Bồ Tát và dạy: “Ta ở đời ác ngũ trược giáo hóa chúng sanh cang cường, nhưng vẫn còn một hai phần quen tánh ác. Ta phân nghìn trăm ức thân lập nhiều phương chước để độ thoát. Hoặc hiện thân trai, gái, Trời, Rồng, Quỷ, Thần, rừng, núi, sông, ngòi… hoặc hiện thân Thiên Đế, Phạm Vương, Chuyển Luân Vương, Quốc Vương, Cư Sĩ, Tể Phụ, quan thuộc, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di… Nhẫn đến hiện thân Thanh Văn, La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát để hóa độ.”
Đức Phật nói thêm: “Địa Tạng! Ta đã trải qua bao kiếp nhọc nhằn độ thoát chúng sanh cang cường đầy tội khổ. Những kẻ chưa điều phục được, thời theo nghiệp mà thọ báo. Nếu họ đọa vào đường dữ chịu thống khổ, ông nên nhớ Ta ở đây phó chúc, gắng độ chúng sanh cõi Ta Bà này đến lúc Phật Di Lặc ra đời, đều được giải thoát, gặp Phật và được thọ ký.”
Các phân thân Địa Tạng Bồ Tát thương cảm, bạch Phật: “Từ kiếp lâu xa, con nhờ Thế Tôn tiếp độ, được thần lực, trí huệ rộng lớn. Con phân thân khắp nơi hóa độ chúng sanh, làm cho họ quy kính Tam Bảo, khỏi vòng sanh tử. Cúi mong Thế Tôn chớ vì chúng sanh ác nghiệp đời sau mà lo lắng!” Ngài Địa Tạng Bồ Tát bạch ba lần như vậy. Đức Phật khen: “Hay thay! Ta hộ trợ ông thành tựu nguyện lớn.”
PHẨM THỨ BA: QUÁN CHÚNG SANH NGHIỆP DUYÊN
1. PHẬT MẪU THƯA HỎI
Đức Phật Mẫu Ma Gia Phu Nhân hỏi Ngài Địa Tạng Bồ Tát: “Thánh giả! Chúng sanh cõi Diêm Phù Đề tạo nghiệp sai khác, cảm quả báo ra sao?”. Ngài Địa Tạng đáp: “Trong nghìn muôn thế giới, có nơi có địa ngục, có nơi không; có nơi có hàng nữ nhơn, có nơi không; có nơi có Phật pháp, có nơi không… tất cả đều sai khác.”
Bà Ma Gia Phu Nhân bạch: “Tôi muốn nghe tội báo cõi Diêm Phù Đề chiêu cảm ác đạo.” Ngài Địa Tạng đáp: “Xin Thánh Mẫu lắng nghe, tôi sẽ lược nói.”
2. BỒ TÁT LƯỢC THUẬT
Ngài Địa Tạng Bồ Tát trình bày các tội báo:
- Không hiếu thảo, giết hại cha mẹ: Đọa Vô Gián địa ngục nghìn muôn ức kiếp.
- Làm thân Phật chảy máu, khinh chê Tam Bảo, không kính Kinh điển: Đọa Vô Gián địa ngục nghìn muôn ức kiếp.
- Xâm tổn của thường trụ, ô phạm Tăng Ni, dâm loạn trong chùa, giết hại: Đọa Vô Gián địa ngục nghìn muôn ức kiếp.
- Giả làm Sa Môn, lạm dụng của thường trụ, trái giới luật, gạt gẫm bá tánh: Đọa Vô Gián địa ngục nghìn muôn ức kiếp.
- Trộm cắp của thường trụ: Đọa Vô Gián địa ngục nghìn muôn ức kiếp.
Ngài Địa Tạng nói: “Tội nhân phạm các tội trên sẽ đọa Vô Gián địa ngục, cầu tạm ngừng khổ đau một niệm cũng không được.”
Bà Ma Gia Phu Nhân hỏi: “Thế nào là Vô Gián địa ngục?”. Ngài Địa Tạng giải thích về Vô Gián địa ngục, nơi có 18 ngục lớn, 500 ngục nhỏ, tường bằng sắt cao ngàn dặm, lửa cháy khắp nơi, có rắn sắt, chó sắt phun lửa. Trong ngục, người tội thấy thân mình nằm đầy giường, dù có nghìn muôn người cũng vậy. Quỷ Dạ Xoa hành hạ bằng chĩa sắt, mổ mắt, rắn sắt cắn, đóng đinh vào thân, luộc bằng dầu sôi, uống nước sắt sôi… Trải qua ức kiếp không thoát ra được.
Ngài Địa Tạng giải thích Vô Gián có năm nghĩa: 1. Khổ không ngừng ngớt. 2. Thân đầy khắp ngục. 3. Khí cụ hành hình nối tiếp. 4. Tất cả tội nhân đồng chịu khổ. 5. Khổ liên miên không lúc nào tạm ngừng. Ngài nói thêm, nếu nói rộng ra các tội hình thì nói cả kiếp cũng không hết.
Bà Ma Gia Phu Nhân nghe xong, vô cùng lo sợ, chắp tay đảnh lễ Bồ Tát rồi lui ra.
PHẨM THỨ TƯ: NGHIỆP CẢM CỦA CHÚNG SANH
1. BỒ TÁT VÂNG CHỈ
Ngài Địa Tạng Bồ Tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, con nương oai thần của Ngài mà phân thân khắp thế giới cứu vớt chúng sanh tội khổ. Nếu không nhờ oai thần của Ngài, con chẳng thể biến hóa được. Nay con lại được Ngài phó chúc: từ nay đến khi Phật Di Lặc thành Phật, làm cho chúng sanh sáu đường đều được độ thoát. Con xin vâng! Xin Thế Tôn chớ lo!”
Đức Phật bảo Ngài Địa Tạng: “Chúng sanh chưa giải thoát, tánh thức không định, quen làm dữ kết nghiệp dữ, quen làm lành kết quả lành. Lăn mãi trong năm đường không ngừng nghỉ, mê lầm chướng nạn. Như cá bơi trong lưới. Ta lo nghĩ đến chúng sanh đó. Ông đã lập nguyện độ hết chúng sanh tội khổ, Ta còn lo gì!”
2. ĐỊNH TỰ TẠI VƯƠNG BẠCH HỎI
Ngài Định Tự Tại Vương Bồ Tát hỏi Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, Ngài Địa Tạng Bồ Tát đã phát thệ nguyện gì mà được Ngài ngợi khen? Kính mong Đức Thế Tôn lược nói.”
3. ÔNG VUA NƯỚC LÂN CẬN
Đức Phật kể: Thuở xưa, có Đức Phật Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, khi chưa xuất gia làm vua, kết bạn cùng vua nước lân cận. Hai vua cùng thực hành mười hạnh lành. Dân chúng nước lân cận phần nhiều tạo ác. Một vua phát nguyện: “Tôi nguyện sớm thành Phật sẽ độ dân chúng ấy”. Vua kia phát nguyện: “Nếu tôi chẳng trước độ kẻ tội khổ làm cho đều được an vui chứng quả Bồ Đề, thời tôi nguyện chưa chịu thành Phật”. Đức Phật cho biết, vua nguyện sớm thành Phật là Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, vua nguyện độ chưa hết kẻ tội khổ là Địa Tạng Bồ Tát.
4. QUANG MỤC CỨU MẸ
Đức Phật kể tiếp: Thuở xưa, có Đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai. Trong thời mạt pháp, có vị La Hán gặp người nữ tên Quang Mục. Quang Mục muốn cứu mẹ đã mất, đọa địa ngục. La Hán thấy mẹ Quang Mục tội khổ vì ăn cá con. La Hán khuyên Quang Mục niệm danh hiệu Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, vẽ đắp tượng Phật. Quang Mục làm theo, đêm thấy Phật bảo mẹ nàng sắp sanh lại làm người. Đứa con gái của nàng sau khi sanh ra đã biết nói, là mẹ nàng, cho biết vì tội giết hại sinh vật và chê bai mắng nhiếc mà đọa địa ngục. Quang Mục đau khổ, phát nguyện: “Nguyện cho mẹ tôi khỏi địa ngục, khi mãn 13 tuổi không còn tội. Xin chư Phật chứng minh, vì mẹ tôi phát nguyện rộng lớn: Từ nay đến vô số kiếp, chúng sanh tội khổ nơi địa ngục và ba ác đạo, tôi nguyện cứu vớt làm cho tất cả thành Phật cả rồi, tôi mới thành Chánh Giác.” Đức Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai khen Quang Mục có lòng từ mẫn, cho biết mẹ nàng sẽ sanh làm người Phạm Chí, rồi về cõi Vô Ưu, sau thành Phật. Đức Phật cho biết, vị La Hán là Vô Tận Ý Bồ Tát, mẹ Quang Mục là Giải Thoát Bồ Tát, còn Quang Mục chính là Địa Tạng Bồ Tát.
Đức Phật dặn dò Ngài Định Tự Tại Vương: “Đời sau, chúng sanh không làm lành, làm ác, không tin nhân quả, tà dâm, vọng ngữ… nếu gặp thiện tri thức khuyên quy y Địa Tạng Bồ Tát, chỉ trong khoảng khảy móng tay là thoát khỏi ác đạo. Nếu quy kính, chiêm ngưỡng, ngợi khen, cúng dường, người đó hưởng sự vui thắng vi diệu ở cõi trời, rồi sanh làm Đế Vương, nhớ cội nguồn nhân quả.”
5. TỨ THIÊN VƯƠNG HỎI PHẬT
Bốn vị Thiên Vương hỏi Phật: “Ngài Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện rộng lớn như thế, tại sao nay vẫn chưa độ hết? Cúi mong Thế Tôn dạy rõ.”
6. PHƯƠNG TIỆN GIÁO HÓA
Đức Phật giải thích: Ngài Địa Tạng Bồ Tát vì thương xót chúng sanh tội khổ đời này và vô lượng kiếp sau, nên phát nguyện lớn. Ngài dùng trăm nghìn phương chước giáo hóa chúng sanh cõi Diêm Phù Đề.
Phật kể các tội và quả báo: Sát sanh bị yểu, trộm cắp bị nghèo khổ, tà dâm làm chim sẻ, nói ác khẩu quyến thuộc kình chống, khinh chê bị câm ngọng, giận dữ thân hình xấu xí, bỏn xẻn cầu không được toại ý, săn bắn bị điên cuồng mất mạng, trái nghịch cha mẹ bị trời đất tru lục, đốt rừng bị cuồng mê, cha ghẻ mẹ ghẻ độc ác bị roi vọt, bắt chim non cốt nhục chia lìa, hủy báng Tam Bảo bị đui điếc câm ngọng, khinh chê giáo pháp đọa ác đạo, phá của thường trụ luân hồi địa ngục, ô nhục Tăng già súc sanh, dùng lửa nước giết hại luân hồi mạng lẫn nhau, phá giới phạm trai bị đói khát, phá của bị thiếu hụt, kiêu mạn bị hèn hạ, gây gỗ bị không lưỡi, tà kiến bị sanh nơi hẻo lánh.
Phật kết luận: “Chúng sanh cõi Diêm Phù Đề tạo ác nghiệp trăm nghìn báo ứng như thế. Nay chỉ nói sơ lược. Những nghiệp cảm sai khác đó, Địa Tạng Bồ Tát dùng trăm nghìn phương chước giáo hóa. Chúng sanh ấy sau khi chịu quả báo còn đọa địa ngục. Vì thế, các ông là bậc hộ vệ, chớ để nghiệp chướng mê hoặc chúng sanh.”
Bốn vị Thiên Vương nghe xong, rơi lệ, lễ Phật rồi lui ra.
— HẾT QUYỂN THƯỢNG —
Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện
Quyển Trung
PHẨM THỨ NĂM: DANH HIỆU CỦA ĐỊA NGỤC
1. PHỔ HIỀN HỎI
Ngài Phổ Hiền Bồ Tát hỏi Ngài Địa Tạng Bồ Tát: “Nhơn giả! Xin Ngài vì Trời, Rồng, bát bộ và chúng sanh đời sau, nói danh hiệu các địa ngục, quả báo không lành, để chúng sanh mạt pháp biết rõ.”
Ngài Địa Tạng đáp: “Nhơn giả! Nay tôi nương oai thần Đức Phật và oai lực của Ngài mà nói danh hiệu các địa ngục, tội báo và ác báo.”
2. DANH HIỆU CỦA ĐỊA NGỤC
Ngài Địa Tạng Bồ Tát liệt kê các địa ngục tại núi Thiết Vi, phía Đông Diêm Phù Đề: Cực Vô Gián, Đại A Tỳ, Tứ Giác, Phi Đao, Hõa Tiễn, Giáp Sơn, Thông Thương, Thiết Xa, Thiết Sàng, Thiết Ngưu, Thiết Y, Thiên Nhẫn, Thiết Lư, Dương Đồng, Bảo Trụ, Lưu Hỏa, Canh Thiệt, Tỏa Thủ, Thiên Cước, Đạm Nhãn, Thiết Hoàn, Tránh Luận, Thiết Thù, Đa Sân… Cùng các địa ngục: Kiếu Oán, Bạt Thiệt, Phẩn Niếu, Đồng Toả, Hỏa Tượng, Hỏa Cẩu, Hỏa Mã, Hỏa Ngưu, Hỏa Thạch, Hỏa Sàng, Hỏa Lương, Hỏa Ưng, Cứ Nha, Bác Bì, Ẩm Huyết, Thiêu Thủ, Thiêu Cước, Đảo Thích, Hỏa Ốc, Thiết Ốc, Hỏa Lang… Mỗi ngục lớn lại có ngục nhỏ, danh hiệu không đồng.
Ngài Địa Tạng nói: “Đó là do chúng sanh cõi Diêm Phù Đề làm ác mà cảm chiêu nghiệp báo. Nghiệp lực rất lớn, có thể sánh núi Tu Di, sâu như biển cả, ngăn đạo Thánh.” Ngài khuyên chớ khinh điều quấy nhỏ, vì sau khi chết đều phải chịu quả báo.
Ngài Phổ Hiền đáp: “Dầu tôi đã rõ tội báo ba đường ác, nhưng muốn Ngài nói ra để chúng sanh mạt pháp biết quy hướng về Giáo Pháp Phật.”
3. TỘI BÁO TRONG ĐỊA NGỤC
Ngài Địa Tạng Bồ Tát mô tả tội báo: Kéo lưỡi cho trâu cày, moi tim cho Quỷ Dạ Xoa ăn, nấu trong vạc dầu sôi, ôm cột đồng cháy đỏ, lửa lớn bay vào thân, băng giá, phân tiểu, gai sắt, giáo lửa, đập vai lưng, đốt chân tay, rắn sắt quấn, chó sắt cắn, lừa sắt đóng ách… Ngài nói, mỗi ngục có trăm nghìn khí cụ hành hình, đều do nghiệp ác cảm vời. Nói hết tội báo địa ngục thì cả kiếp cũng không hết.
PHẨM THỨ SÁU: NHƯ LAI TÁN THÁN
1. PHẬT PHÓNG QUANG DẶN BẢO
Đức Thế Tôn phóng ánh sáng lớn soi khắp các cõi Phật, bảo: “Tất cả đại Bồ Tát, Trời, Rồng, Quỷ, Thần lắng nghe! Ta khen ngợi Ngài Địa Tạng Bồ Tát dùng từ bi oai thần cứu giúp chúng sanh tội khổ. Sau khi Ta diệt độ, các ông nên giữ gìn kinh này, làm cho chúng sanh khỏi khổ, chứng Niết Bàn.”
2. PHỔ QUẢNG THƯA THỈNH
Ngài Phổ Quảng Bồ Tát bạch Phật: “Nay con nghe Đức Thế Tôn ngợi khen Ngài Địa Tạng Bồ Tát. Kính mong Ngài vì chúng sanh mạt pháp tuyên nói lợi ích của Ngài Địa Tạng Bồ Tát.”
3. PHẬT DẠY SỰ LỢI ÍCH
Đức Phật dạy: “Trong đời sau, thiện nam, thiện nữ nào nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, chắp tay, ngợi khen, đảnh lễ, luyến mộ, sẽ qua khỏi tội khổ ba mươi kiếp. Nếu họa vẽ, chiêm ngưỡng, đảnh lễ tượng Ngài, sẽ được sanh Trời Đao Lợi trăm lần, không đọa ác đạo. Phước trời hết, sanh nhân gian vẫn làm Quốc Vương, không mất lợi lớn.”
4. KHỎI NỮ THÂN
Nếu người nữ chán thân gái, chí tâm cúng dường tượng Địa Tạng Bồ Tát (bằng đất, đá, gỗ, đồng, sắt…), bằng hoa, hương, đồ ăn, y phục, tiền bạc… Sau khi mãn thân gái hiện tại, trăm nghìn kiếp sau không sanh thân nữ, trừ khi cần thọ thân nữ để độ chúng sanh.
5. THÂN XINH ĐẸP
Nếu người nữ chán thân xấu xí, nhiều bệnh, chí tâm chiêm ngưỡng, đảnh lễ tượng Địa Tạng Bồ Tát trong khoảng một bữa ăn, trong nghìn vạn kiếp sẽ được thân hình tướng mạo xinh đẹp, không bệnh tật. Nếu không nhàm thân gái, sẽ làm con gái Vua, Vương Phi, quan lớn, tướng mạo đoan trang.
6. QUỶ THẦN HỘ VỆ
Nếu thiện nam, thiện nữ nào đối trước tượng Địa Tạng Bồ Tát ca hát, ngâm vịnh, cúng dường, khuyến hóa người khác cùng làm, sẽ được trăm nghìn vị Quỷ Thần hộ vệ ngày đêm, không cho việc dữ, tai nạn đến gần.
7. KHINH CHÊ MẮC TỘI
Nếu người ác, ác thần, ác quỷ thấy người cúng dường Địa Tạng Bồ Tát mà khinh chê, cười nhạo, chê bai, khuyên người khác cùng chê, hoặc chỉ trong một niệm chê bai, thời sau khi nghìn Đức Phật trong Hiền Kiếp nhập diệt, còn ở địa ngục A Tỳ chịu khổ nặng. Qua khỏi Hiền kiếp mới thọ thân Ngạ Quỷ, rồi súc sanh, rồi mới làm người, nhưng ở hạng bần cùng, hèn hạ, tật nguyền, thiếu sứt, lại bị nghiệp ác ràng buộc, không lâu lại đọa ác đạo. Khinh chê người khác cúng dường đã mắc tội, huống chi tự mình phá diệt!
8. TIÊU DIỆT TỘI CHƯỚNG
Nếu người nam, người nữ đau bệnh nằm giường, hoặc chiêm bao thấy Quỷ dữ, bóng đè, đi đường nguy hiểm… Đều do nghiệp đạo chưa quyết. Cần đối trước tượng Phật, Bồ Tát, đọc tụng kinh này một biến, hoặc lấy vật người bệnh ưa tiếc, cúng dường, xướng bạch lớn tiếng ba lần cho người bệnh nghe. Nếu người bệnh chết, dầu có tội nặng, ngũ nghịch, cũng thoát khỏi, sanh nơi nào cũng nhớ việc đời trước. Huống chi người tự biên chép kinh, vẽ tượng Bồ Tát.
9. SIÊU ĐỘ VONG LINH
Nếu đời sau chúng sanh chiêm bao thấy Quỷ Thần, hình lạ, khóc lóc, sợ hãi… là do quyến thuộc đời trước đọa ác đạo chưa thoát, cầu cứu. Cần đối trước tượng Phật, Bồ Tát, đọc kinh này ba hoặc bảy biến. Quyến thuộc đó sẽ được giải thoát, không còn hiện về trong mơ.
10. KHỎI NÔ LỆ
Nếu người hạ tiện, tớ trai, tớ gái, rõ biết do tội đời trước, cần sám hối. Chí tâm chiêm ngưỡng, đảnh lễ tượng Địa Tạng Bồ Tát, niệm danh hiệu Ngài một muôn biến trong bảy ngày. Sau khi mãn thân hạ tiện, nghìn muôn đời sau làm người tôn quý, không đọa ác đạo.
11. SANH CON DỄ NUÔI
Nếu trong cõi Diêm Phù Đề, người nhà Sát Đế Lợi, Bà La Môn, Trưởng Giả, Cư Sĩ… có con mới sinh, nội trong bảy ngày tụng kinh này, niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát một muôn biến. Đứa trẻ sẽ thoát tội nghiệp, an ổn, dễ nuôi, sống lâu. Nếu là do phước sanh, sẽ càng an vui, sống lâu hơn.
12. NGÀY THẬP TRAI TỤNG KINH ĐƯỢC PHƯỚC
Mùng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30 âm lịch là ngày nghiệp tội định nặng nhẹ. Nếu ai trong 10 ngày này, đối trước tượng Phật, Bồ Tát, đọc kinh này một biến, chung quanh chỗ ở trong trăm do tuần không tai nạn. Nhà cửa không bị ác đạo, đến trăm nghìn năm xa khỏi ác đạo. Mỗi ngày tụng một biến, đời này không bệnh tật, đồ ăn mặc dư dật.
Đức Phật kết luận: Địa Tạng Bồ Tát có vô lượng oai thần lực lớn, nhiều lợi ích cho chúng sanh. Chúng sanh cõi Diêm Phù Đề có nhân duyên lớn với Ngài. Ai nghe danh hiệu, thấy hình tượng, nghe kinh, dù chỉ một niệm, được an vui lạ thường, nghìn muôn đời làm người tôn quý, thân hình xinh đẹp.
13. DANH HIỆU CỦA KINH
Ngài Phổ Quảng hỏi tên kinh. Đức Phật dạy: Kinh này có ba tên: 1. Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh. 2. Địa Tạng Bổn Hạnh Kinh. 3. Địa Tạng Bổn Thệ Lực Kinh. Bảo Ngài Phổ Quảng lưu hành truyền bá.
PHẨM THỨ BẢY: LỢI ÍCH CẢ KẺ CÒN NGƯỜI MẤT
1. KHUYÊN TU THÁNH ĐẠO
Ngài Địa Tạng Bồ Tát bạch Phật: “Con xem chúng sanh cõi Diêm Phù, tâm niệm không định, quen làm ác. Gặp việc lành phần nhiều thối thất. Như người mang đá nặng đi trong bùn lầy, càng nặng càng khốn đốn. Nếu gặp thiện tri thức giúp đỡ, khuyên gắng, rồi ra khỏi bùn lầy đến đất bằng, cần nhớ con đường hiểm đó mà tránh.”
Ngài nói: “Chúng sanh quen thói ác, bắt đầu từ mảy mún đến vô lượng. Khi mạng chung, thân quyến vì đó tu phước lành, hoặc treo phan, thắp đèn, đọc kinh, cúng dường tượng Phật, niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát. Dầu người chết có tội, nhờ tu nhân duyên Thánh đạo, tội đều tiêu sạch. Sau 49 ngày, nếu thân quyến tu phước, người chết khỏi ác đạo, sanh Trời, Người hưởng vui.”
Ngài khuyên: “Lúc lâm chung, chớ giết hại, tế lễ Quỷ Thần. Việc đó không lợi ích, chỉ thêm tội. Dầu người chết có phước sanh cõi Trời, Người, cũng vì thân quyến làm nghiệp chẳng lành mà bị ương lụy, chậm sanh chốn lành. Huống chi người chết chưa làm phước, chỉ theo nghiệp ác đọa ác đạo. Thân quyến lại làm tội nghiệp nặng thêm!” Ngài ví như người đói ba ngày, gặp người gởi thêm đồ vật nặng, càng khổ hơn.
Ngài kết luận: “Chúng sanh cõi Diêm Phù, trong Phật pháp làm chút phước lành nhỏ như sợi lông, giọt nước, hột cát, đều tự được lợi ích.”
2. TRƯỞNG GIẢ BẠCH HỎI
Trưởng giả Đại Biện hỏi Ngài Địa Tạng: “Thưa Đại Sĩ! Chúng sanh cõi Diêm Phù Đề sau khi mạng chung, thân quyến vì đó tu công đức, cúng dường, có đặng lợi ích lớn và giải thoát chăng?”
3. KẺ CÒN, NGƯỜI MẤT ĐỀU ĐƯỢC LỢI
Ngài Địa Tạng đáp: “Này Trưởng giả! Chúng sanh nghe danh hiệu một Đức Phật, Bồ Tát, Bích Chi Phật, hoặc nghe một câu kinh, liền được giải thoát. Nếu người sanh tiền không tu phước, chỉ gây tội ác, sau khi chết, thân quyến tu tạo phước lợi, người chết hưởng một phần, thân quyến hưởng sáu phần. Vì thế, nên cố gắng tu hành. Quỷ dữ vô thường không hẹn, thần hồn mê mờ, trong 49 ngày trông ngóng thân quyến tu phước. Sau 49 ngày, theo nghiệp thọ báo. Nếu phạm ngũ nghịch, đọa địa ngục nghìn kiếp. Thân quyến làm chay cúng dường, nếu không giữ gìn tinh sạch, không lợi ích. Nếu giữ gìn tinh sạch cúng dường Phật, Tăng, người chết hưởng một phần.”
Ngài Địa Tạng nói: “Vì thế, người thân quyến chết, nếu làm chay cúng dường, chí tâm cầu khẩn, kẻ còn lẫn người mất đều được lợi ích.”
Nghe lời này, vô lượng Quỷ Thần cõi Diêm Phù Đề phát tâm Bồ Đề. Trưởng giả Đại Biện vui mừng, lễ Phật rồi lui.
PHẨM THỨ TÁM: CÁC VUA DIÊM LA KHEN NGỢI
1. DIÊM LA VƯƠNG CÙNG QUỶ VƯƠNG VÂN TẬP
Vô lượng Quỷ Vương và Vua Diêm La đến cung trời Đao Lợi, đứng một bên.
2. VUA DIÊM LA BẠCH PHẬT
Vua Diêm La bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, chúng con nhờ oai thần Phật và Địa Tạng Bồ Tát mới đến đây. Chúng con có điều nghi ngờ, kính mong Phật chỉ dạy.”
Đức Phật cho phép hỏi.
Vua Diêm La hỏi: “Con thấy Ngài Địa Tạng Bồ Tát dùng trăm nghìn phương chước cứu độ chúng sanh sáu đường, không mệt nhọc. Sao chúng sanh vừa thoát ác đạo, không lâu lại đọa vào? Tại sao họ không nương về đường lành để giải thoát mãi mãi?”
3. PHẬT GIẢNG SỞ NHƠN
Đức Phật đáp: “Chúng sanh cõi Diêm Phù tánh tình cứng cỏi, khó dạy. Địa Tạng Bồ Tát trong trăm nghìn kiếp cứu độ họ, nhổ sạch gốc nghiệp duyên, làm họ nhớ việc đời trước. Nhưng vì nghiệp dữ, tội nặng, nên vừa ra khỏi ác đạo, lại trở vào. Làm nhọc Địa Tạng Bồ Tát. Như người lạc đường hiểm, gặp thiện tri thức dẫn ra khỏi, rồi dặn chớ đi vào nữa. Nếu còn đi vào, là còn mê lầm, hoặc mất mạng.”
Đức Phật ví dụ: “Chúng sanh tội khổ, Địa Tạng Bồ Tát cứu thoát sanh Trời, Người, rồi lại trở vào ác đạo. Nếu nghiệp quá nặng, ở mãi địa ngục không thoát.”
4. QUỶ VƯƠNG BÀY THIỆN NGUYỆN
Ác Độc Quỷ Vương bạch Phật: “Chúng con là Quỷ Vương, có vị làm lợi, có vị làm hại. Vì nghiệp báo, chúng con đi qua thế giới, ác nhiều lành ít. Nếu gặp người làm phước lành nhỏ, dù sợi lông, hột cát, cúng dường Phật, Bồ Tát, chúng con kính lễ như Phật. Chúng con truyền các Tiểu Quỷ, Thần chức trách ủng hộ, không cho tai nạn, bệnh tật đến gần.”
Đức Phật khen: “Hay thay! Các ông ủng hộ người thiện nam, thiện nữ. Ta cũng truyền Trời Phạm Vương, Đế Thích hộ vệ các ông.”
5. CHỦ MẠNG TRÌNH THƯA
Chủ Mạng Quỷ Vương bạch Phật: “Bổn nghiệp của con là cai quản tuổi thọ. Con muốn cho mọi người sanh tử an ổn. Nhưng chúng sanh không hiểu ý con, nên không an ổn. Tại sao?”
6. KHI SANH NỞ NÊN LÀM LÀNH KIÊNG ÁC
Chủ Mạng Quỷ Vương giải thích: Lúc sanh, nên làm phước lành, Thổ Địa sẽ ủng hộ mẹ con an vui. Nếu giết hại sinh vật, ăn thịt, uống rượu, ca hát… Quỷ dữ, ma quái muốn ăn huyết tanh. Nếu làm vậy, mẹ con tổn hại. Nên làm phước đền ơn Thổ Địa.
7. LÚC CHẾT NÊN TU PHƯỚC
Lúc chết, không luận lành dữ, con muốn họ không đọa ác đạo. Nếu người lúc sống biết tu phước, tăng oai lực. Lúc lâm chung, Quỷ thần ác đạo biến hóa hình cha mẹ, thân quyến dắt thần hồn đọa ác đạo. Huống chi người tạo nghiệp ác. Thân quyến nên làm cúng dường lớn, đọc kinh, niệm Phật, Bồ Tát, tu phước lành. Có thể giúp người chết thoát ác đạo, Quỷ thần lui tan.
Chủ Mạng Quỷ Vương nói: “Chúng sanh lúc lâm chung, thần thức hôn mê. Thân quyến nên làm cúng dường, đọc kinh, niệm Phật. Nếu nghe danh hiệu Phật, Bồ Tát, một câu kệ Đại thừa, trừ ngũ nghịch và tội sát hại, nghiệp ác khác đều tiêu sạch.”
8. ĐỨC PHẬT CĂN DẶN
Đức Phật bảo Chủ Mạng Quỷ Vương: “Ông có lòng đại từ, phát nguyện cứu độ chúng sanh. Về đời sau, lúc người lâm chung, ông chớ quên lời nguyện, làm cho họ giải thoát an vui.”
Chủ Mạng Quỷ Vương bạch: “Xin Đức Thế Tôn chớ lo! Con luôn ủng hộ chúng sanh cõi Diêm Phù Đề lúc sanh lúc tử an vui. Chỉ mong chúng sanh tin theo lời con nói.”
9. ĐỨC PHẬT THỌ KÝ CHO QUỶ MẠNG
Đức Phật bảo Địa Tạng Bồ Tát: “Vị Đại Quỷ Vương cai quản tuổi thọ đây, đã trải trăm nghìn đời làm Quỷ Vương ủng hộ chúng sanh. Đó là Bồ Tát Đại Sĩ vì từ bi mà hiện thân Quỷ. Sau 170 kiếp, ông sẽ thành Phật hiệu Vô Tướng Như Lai.”
PHẨM THỨ CHÍN: XƯNG DANH HIỆU CHƯ PHẬT
Ngài Địa Tạng Bồ Tát bạch Phật: “Con vì chúng sanh đời sau mà bày tỏ lợi ích, làm cho trong sanh tử đặng nhiều lợi ích. Kính mong Đức Thế Tôn cho phép con nói.”
Đức Phật bảo: “Ông nên nói đi. Xong nguyện đó, Ta vào Niết Bàn cũng không còn lo ngại cho chúng sanh.”
Ngài Địa Tạng Bồ Tát lần lượt nêu danh hiệu các Đức Phật trong quá khứ và công đức khi nghe danh hiệu của các Ngài:
- Phật Vô Biên Thân: Nghe danh hiệu, cung kính, siêu việt tội sanh tử 40 kiếp.
- Phật Bửu Thắng: Nghe danh hiệu, phát tâm quy y, không thối chuyển Bồ Đề.
- Phật Ba Đầu Ma Thắng: Nghe danh hiệu qua lỗ tai, sanh 6 tầng trời cõi Dục 1000 lần.
- Phật Sư Tử Hống: Nghe danh hiệu, phát tâm quy y, gặp vô lượng chư Phật thọ ký.
- Phật Câu Lưu Tôn: Nghe danh hiệu, chiêm ngưỡng, lễ bái, tán thán, làm Đại Phạm Thiên Vương trong 1000 hiền kiếp, được Phật thọ ký.
- Phật Tỳ Bà Thi: Nghe danh hiệu, không đọa ác đạo, sanh Trời, Người hưởng vui vi diệu.
- Phật Đa Bảo: Nghe danh hiệu, không đọa ác đạo, sanh cõi trời hưởng vui vi diệu.
- Phật Bửu Tướng: Nghe danh hiệu, cung kính, không lâu đặng quả A La Hán.
- Phật Ca Sa Tràng: Nghe danh hiệu, siêu thoát tội sanh tử 100 đại kiếp.
- Phật Đại Thông Sơn Vương: Nghe danh hiệu, gặp hằng hà chư Phật nói pháp mầu, thành đạo Bồ Đề.
Cùng các vị Phật khác như Tịnh Nguyệt, Sơn Vương, Trí Thắng, Vô Thượng, Diệu Thinh, Mãn Nguyệt, Nguyệt Diện… Đức Phật dạy: Chúng sanh trong hiện tại và vị lai, chỉ niệm một danh hiệu Phật cũng được vô lượng công đức, huống chi niệm nhiều.
Đức Phật kết luận: “Chúng sanh niệm danh hiệu chư Phật, lúc sanh lúc tử đặng phước lợi, không đọa ác đạo. Nếu sắp mạng chung, người khác niệm lớn tiếng danh hiệu một Đức Phật, trừ ngũ nghịch, các nghiệp khác tiêu sạch. Huống chi tự mình xưng niệm!”
— HẾT QUYỂN TRUNG —
Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện
Quyển Hạ
PHẨM THỨ MƯỜI: SO SÁNH NHÂN DUYÊN CÔNG ĐỨC CỦA SỰ BỐ THÍ
Ngài Địa Tạng Bồ Tát hỏi Đức Phật về sự bố thí có nặng có nhẹ, phước hưởng một đời, mười đời, trăm đời là sao.
Đức Phật giải thích: Quốc Vương, Tể Phụ, Trưởng Giả, Sát Đế Lợi, Bà La Môn… gặp kẻ nghèo túng, tật nguyền, mù, điếc, câm, ngọng… Nếu có tâm từ bi lớn, vui vẻ, tự tay hoặc bảo người đem bố thí, dùng lời ôn hòa an ủi, phước lợi bằng cúng dường 100 hằng hà sa chư Phật. Vì phát tâm đại từ bi với kẻ nghèo cùng, tàn tật.
Đức Phật nêu ví dụ: Bố thí cúng dường chùa tháp, hình tượng Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Bích Chi Phật. Quốc Vương đó sẽ làm trời Đế Thích ba kiếp. Nếu hồi hướng cho chúng sanh pháp giới, làm trời Đại Phạm Thiên Vương mười kiếp.
Nếu sửa sang chùa tháp, kinh điển cũ hư rách, hoặc tự mình làm, hoặc khuyến hóa người khác. Người làm sẽ làm vua nước nhỏ trăm nghìn đời. Người khuyến hóa trăm nghìn người, người đó làm vua nước nhỏ. Vị đàn việt chính làm Vua Chuyển Luân, giáo hóa vua nước nhỏ. Nếu hồi hướng đạo Bồ Đề, tất cả đều thành Phật.
Nếu thấy người già yếu, bệnh tật, phụ nữ sanh đẻ, trong một niệm sanh tâm từ lớn, đem thuốc men, cơm nước, giường chiếu bố thí, làm họ an vui. Phước đức này không thể nghĩ bàn. Trong 100 kiếp làm trời Tịnh Cư, 200 kiếp làm vua cõi Trời Dục, không đọa ác đạo, rốt ráo thành Phật.
Đức Phật kết luận: Bố thí như thế được vô lượng phước lành. Hồi hướng đạo Bồ Đề, rốt ráo thành Phật. Huống chi quả trời Phạm Vương, Đế Thích, Vua Chuyển Luân. Nên khuyến hóa chúng sanh học theo.
Đức Phật nói: Thiện nam, thiện nữ nào ở trong Phật pháp gieo trồng chút ít phước lành, bằng sợi lông, mảy bụi, hột cát, giọt nước… Nếu hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh, phước lợi hưởng trong nghìn đời. Nếu chỉ hồi hướng cho thân quyến hoặc tự mình, hưởng phước ba đời. Làm một phần lành, hưởng báo tốt muôn lần.
Cúng dường hình tượng Phật, Bồ Tát, Bích Chi Phật, Vua Chuyển Luân, được vô lượng phước lành, thường sanh cõi người, trời hưởng vui vi diệu. Hồi hướng pháp giới, phước lợi không thể ví dụ.
Nghe thấy Kinh điển Đại thừa, một bài kệ, một câu kinh, phát tâm cung kính, ngợi khen, bố thí cúng dường, được quả báo lớn vô lượng. Hồi hướng pháp giới, phước lợi không thể ví dụ.
Gặp chùa tháp, kinh điển Đại thừa, bố thí cúng dường, chiêm ngưỡng lễ lạy, ngợi khen, chắp tay cung kính. Gặp kinh tháp cũ, tu bổ, hoặc tự làm, hoặc khuyến hóa người khác. Người khác làm vua nước nhỏ 30 đời. Đàn việt chính làm Vua Chuyển Luân.
PHẨM THỨ MƯỜI MỘT: ĐỊA THẦN HỘ PHÁP
Kiên Lao Địa Thần bạch Phật: “Con từng chiêm ngưỡng vô lượng đại Bồ Tát, thần thông lớn không thể nghĩ bàn. Ngài Địa Tạng Bồ Tát thệ nguyện sâu rộng, có nhân duyên lớn với chúng sanh Diêm Phù Đề. Các Ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Di Lặc hóa hiện thân độ chúng sanh, nguyện có lúc mãn. Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa chúng sanh sáu đường, trải kiếp số như cát sông Hằng. Nguyện của Ngài chưa mãn.”
Địa Thần nói: “Chúng sanh đời sau, nơi chỗ sạch sẽ, dựng khám thất, họa vẽ, đúc hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, đốt hương cúng dường, chiêm lễ ngợi khen, được 10 điều lợi ích: 1. Đất tốt. 2. Nhà cửa an ổn. 3. Người chết sanh trời. 4. Người sống hưởng lợi. 5. Cầu gì toại ý. 6. Trừ tai lửa nước. 7. Trừ hư hao. 8. Dứt ác mộng. 9. Quỷ Thần hộ vệ. 10. Gặp Thánh nhân.”
Địa Thần lại bạch: “Nếu người thiện nam, thiện nữ có Kinh điển này, hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, đọc tụng, cúng dường, con dùng thần lực hộ vệ, trừ tai họa…”
Đức Phật khen Địa Thần: “Thần lực ông lớn, ít ai bằng. Đất đai Diêm Phù Đề nhờ ông hộ trợ. Nay ông tuyên bày lợi ích Địa Tạng Bồ Tát, công đức lại thêm trăm nghìn lần. Ông nên ủng hộ người này, chớ để tai họa, không vừa ý đến gần.”
Đức Phật nói thêm: “Không phải chỉ ông hộ trì, mà các vị trời Phạm Vương, Đế Thích, quyến thuộc chư Thiên cũng hộ trì. Vì người này tu hành theo Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, rốt ráo xa lìa biển khổ, chứng đạo Niết Bàn an vui.”
PHẨM THỨ MƯỜI HAI: THẤY NGHE ĐƯỢC LỢI ÍCH
1. ĐỨC PHẬT PHÓNG QUANG TUYÊN CÁO
Đức Thế Tôn phóng trăm nghìn tia sáng lớn từ đỉnh đầu, nói tiếng vi diệu: “Tám bộ chúng Trời, Rồng, người, phi nhân… lắng nghe! Hôm nay Ta ở cung trời Đao Lợi tuyên bày ngợi khen oai thần, từ bi, trí tuệ, nhơn hạnh, đạo quả của Ngài Địa Tạng Bồ Tát.”
2. QUÁN THẾ ÂM CẦU THỈNH
Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật: “Ngài Địa Tạng Bồ Tát có từ bi lớn, thương xót chúng sanh tội khổ, hóa hiện vô lượng thân. Công đức, oai thần không thể nghĩ bàn. Con đã nghe Đức Thế Tôn cùng chư Phật khen Ngài. Cúi mong Đức Thế Tôn vì chúng sanh đời sau mà tuyên nói những sự lợi ích của Ngài Địa Tạng Bồ Tát.”
3. ĐỨC PHẬT TÁN THÁN VÀ HỨA KHẢ
Đức Phật bảo Ngài Quán Thế Âm: “Ông có nhân duyên lớn với chúng sanh cõi Ta Bà. Ai nghe danh hiệu, thấy hình tượng, mến tưởng, khen ngợi ông, đều không thối chuyển Bồ Đề, sanh Trời, Người hưởng vui vi diệu, được Phật thọ ký. Nay ông muốn nghe lợi ích Địa Tạng Bồ Tát, hãy lắng nghe kỹ.”
4. THẤY NGHE THÊM PHƯỚC TRỜI
Đức Phật dạy: Nếu vị trời hưởng phước hết, năm tướng suy hao, hoặc sắp đọa ác đạo, thấy hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, nghe danh hiệu Ngài, rồi chiêm ngưỡng, đảnh lễ, sẽ thêm phước trời, hưởng vui nhiều, không đọa ác đạo. Nếu cúng dường hương hoa, y phục, đồ ăn, vật báu, người này được vô lượng công đức.
5. NGƯỜI BỊNH ĐƯỢC LỢI
Nếu chúng sanh sắp mạng chung, nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát thoáng qua tai, không đọa ác đạo. Nếu thân quyến đem của cải, nhà cửa tô vẽ, họa vẽ tượng Địa Tạng Bồ Tát cho người bệnh thấy, nghe biết. Nếu nghiệp bệnh nặng, nhờ công đức này lành mạnh, sống lâu. Nếu nghiệp hết, tội chướng, nhờ công đức này sanh Trời, Người, hưởng vui vi diệu, tội chướng tiêu sạch.
6. TIÊN VONG ĐƯỢC PHƯỚC
Nếu đời sau, trẻ em chết sớm, lớn lên nhớ cha mẹ, thân quyến không biết đọa đâu. Nếu tô vẽ tượng Địa Tạng Bồ Tát, nghe danh hiệu, chiêm ngưỡng, đảnh lễ, cúng dường liên tục bảy ngày. Quyến thuộc đã khuất, nếu đọa ác đạo, nhờ công đức này được giải thoát, sanh Trời, Người hưởng vui. Nếu đã sanh Trời, Người, nhờ công đức này thêm nghiệp Thánh, hưởng vui vô lượng. Nếu niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát 1000 biến mỗi ngày trong 1000 ngày, sẽ được Bồ Tát hiện thân mách cho biết nơi cõi quyến thuộc. Hoặc trong mơ thấy Bồ Tát dắt đi thấy quyến thuộc. Nếu niệm 1000 biến mỗi ngày, được Bồ Tát sai Quỷ Thần hộ vệ trọn đời, đồ ăn mặc dư dật, không bịnh tật, tai họa. Rốt ráo được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký.
7. NGUYỆN LỚN SỚM THÀNH
Nếu người muốn phát tâm từ rộng lớn cứu độ chúng sanh, tu đạo Vô thượng, thoát tam giới, thấy hình tượng, nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, quy y, cúng dường, chiêm ngưỡng, đảnh lễ, khen ngợi. Nguyện cầu mau thành tựu, không chướng ngại. Cầu trăm nghìn điều nguyện, đều thành tựu. Được Bồ Tát ủng hộ, trong mơ được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký.
8. ĐƯỢC TRÍ HUỆ
Nếu người muốn tụng Kinh Đại thừa, nhưng nghiệp chướng đời trước chưa trừ, đọc rồi quên. Nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, cung kính bày tỏ, cúng dường hương hoa, y phục, đồ ăn, vật dụng. Dùng nước trong để trước tượng Bồ Tát một ngày một đêm, uống, cữ ngũ tân, rượu, thịt, tà dâm, vọng ngữ, giết hại bảy ngày hoặc hai mươi mốt ngày. Trong mơ thấy Bồ Tát rưới nước trên đảnh. Thức dậy, liền đặng thông minh, nghe Kinh Đại thừa nhớ mãi, không quên.
9. TAI NẠN TIÊU TRỪ
Nếu người ăn mặc không đủ, cầu không toại ý, bệnh tật, hung suy, nhà cửa không yên, quyến thuộc chia lìa, tai vạ quấy nhiễu, chiêm bao kinh sợ. Nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, thấy hình tượng, chí tâm niệm 10000 biến. Tai họa tiêu sạch, an vui, đồ ăn mặc dư dật, chiêm bao an ổn.
10. KHỎI HIỂM NGUY
Nếu người đi rừng núi, sông biển, đường hiểm trở, gặp nước lụt, thú độc. Trước khi đi, niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát 10000 biến. Đi đến đâu cũng được Quỷ Thần hộ vệ, đi đứng, nằm ngồi đều an ổn. Hùm sói, rắn độc, ác thần, ác quỷ không phạm đến.
Đức Phật kết luận: Địa Tạng Bồ Tát có nhân duyên lớn với cõi Diêm Phù Đề. Lợi ích thấy hình nghe tên Ngài, nói trong trăm nghìn kiếp không hết. Bảo Ngài Quán Thế Âm tuyên truyền kinh này, làm cho chúng sanh cõi Ta Bà được an vui trăm nghìn kiếp.
Đức Phật nói kệ tán thán công đức Địa Tạng Bồ Tát và lợi ích khi chiêm ngưỡng, cúng dường, nghe danh hiệu Ngài.
PHẨM THỨ MƯỜI BA: DẶN DÒ CỨU ĐỘ NHƠN THIÊN
1. ĐỨC PHẬT GIAO PHÓ
Đức Thế Tôn xoa đảnh Địa Tạng Bồ Tát, bảo: “Địa Tạng! Thần lực, từ bi, trí tuệ của ông không thể nghĩ bàn. Các Đức Phật mười phương khen ngợi ông trăm nghìn kiếp không hết. Hôm nay Ta ở đây, nơi pháp hội này, giao phó các chúng sanh chưa ra khỏi ba cõi, chưa được giải thoát, cho ông. Ông chớ để họ đọa vào ác đạo, huống chi Vô Gián, A Tỳ.”
Đức Phật nói: “Tánh tình chúng sanh Diêm Phù cứng cỏi, ác nhiều lành ít, thối thất nhanh. Ta phải phân thân hóa độ. Nay Ta ân cần giao phó Trời, Người cho ông. Nếu thiện nam, thiện nữ trồng chút căn lành, ông nên ủng hộ, làm họ tu đạo Vô thượng, chớ thối thất.”
Đức Phật lại dạy: “Nếu Trời, Người theo nghiệp đọa ác đạo, đến cửa địa ngục, nếu niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát, hay một câu kệ Đại thừa. Ông nên dùng thần lực cứu vớt, phá tan địa ngục, làm họ sanh Trời hưởng vui vi diệu.”
Đức Phật nói kệ dặn dò Địa Tạng Bồ Tát.
2. BỒ TÁT TUÂN CHỈ
Ngài Địa Tạng Bồ Tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, xin Ngài chớ lo. Trong đời sau, nếu người thiện nam, thiện nữ đối với Phật pháp có một niệm cung kính, con cũng dùng trăm nghìn phương tiện độ thoát, làm họ mau giải thoát. Huống chi người luôn tu hành, tự nhiên ở đạo Vô thượng không thối chuyển.”
3. HƯ KHÔNG TẠNG BẠCH HỎI
Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật: “Con nghe Đức Như Lai ngợi khen oai thần Địa Tạng Bồ Tát. Trong đời sau, người, Trời, Rồng, Quỷ… nghe Kinh này, danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, chiêm lễ hình tượng, được phước lợi gì? Kính mong Đức Thế Tôn nói lược.”
4. HAI MƯƠI TÁM ĐIỀU LỢI
Đức Phật dạy: Người thiện nam, thiện nữ thấy hình tượng, nghe Kinh, đọc tụng, cúng dường, ngợi khen, chiêm lễ Địa Tạng Bồ Tát, được 28 điều lợi ích:
- Trời, Rồng hộ niệm.
- Phước lành tăng trưởng.
- Nhơn Thánh tăng thêm.
- Không thối chuyển Bồ Đề.
- Đồ ăn, mặc dư dật.
- Bệnh tật không đến.
- Trừ tai lửa, nước.
- Không bị trộm cướp hại.
- Người khác kính trọng.
- Quỷ Thần hộ trì.
- Thân gái chuyển thành trai.
- Làm con gái Vua, quan.
- Thân tướng xinh đẹp.
- Thường sanh cõi Trời.
- Làm bậc vua chúa.
- Biết việc đời trước.
- Mong cầu toại ý.
- Quyến thuộc an vui.
- Tai vạ bất ngờ dứt sạch.
- Nghiệp ác đạo trừ hẳn.
- Đi đến đâu không trở ngại.
- Chiêm bao an ổn.
- Thân quyến tội khổ được khỏi.
- Phước lành sanh cõi vui.
- Bậc Thánh ngợi khen.
- Căn tánh thông minh.
- Giàu lòng từ mẫn.
- Rốt ráo thành Phật.
5. BẢY ĐIỀU LỢI
Hàng Trời, Rồng, Quỷ, Thần nghe danh hiệu, đảnh lễ tượng, ngợi khen, chiêm lễ Địa Tạng Bồ Tát, được 7 điều lợi ích:
- Mau chứng bậc Thánh.
- Nghiệp ác tiêu diệt.
- Chư Phật ủng hộ.
- Không thối thất Bồ Đề.
- Bổn lực tăng trưởng.
- Việc đời trước rõ biết.
- Rốt ráo thành Phật.
6. ĐẠI HỘI TÁN THÁN
Vô lượng chư Phật, đại Bồ Tát, tám bộ chúng Trời, Rồng… nghe Đức Phật ngợi khen oai thần Địa Tạng Bồ Tát, đều khen là việc chưa từng có. Trời Đao Lợi rưới hương hoa, thiên y, chuỗi ngọc cúng dường. Đại chúng chiêm lễ, lui ra.
Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
— HẾT QUYỂN HẠ —
Kinh Pháp Cú với 423 bài kệ và hình vẽ minh hoạ
Hán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Pháp Đăng
Việt dịch: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
> Xem thêm video về Kinh Địa Tạng (có chữ) tại đây:
Hy vọng những giáo lý sâu sắc từ Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện sẽ soi sáng và dẫn dắt quý độc giả trên con đường tu tập, phụng sự. Để khám phá thêm nhiều nội dung hữu ích khác về Phật pháp, xin mời quý vị ghé thăm chuyên mục Đạo phật.