Từ châu Cổ Pháp huyền thoại, một bậc minh sư đã xuất hiện, thấu suốt tam giáo và đóng vai trò then chốt trong biến cố lịch sử. Với trí tuệ uyên bác, Thiền sư Vạn Hạnh không chỉ dẫn dắt Lý Công Uẩn lên ngôi vị thiên tử mà còn định hình vận mệnh dân tộc bằng những lời tiên tri đầy linh ứng. Khám phá sâu hơn về cuộc đời và công lao của Ngài, cũng như hành trình lan tỏa tri thức Phật pháp tại Chia sẻ Đạo Phật.
Ngài Nguyễn, quê ở châu Cổ Pháp (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), từ nhỏ đã bộc lộ tư chất thông minh, am hiểu sâu sắc cả Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo. Năm 21 tuổi, Ngài xuất gia tu hành dưới sự dẫn dắt của Thiền sư Thiền Ông tại chùa Lục Tổ, cùng học đạo với Thiền sư Định Tuệ.
Trong giai đoạn vận động đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, Thiền sư Vạn Hạnh đã có vai trò quan trọng trong việc định hướng dư luận quần chúng bằng những lời sấm truyền đầy ý nghĩa. Tương truyền, tại làng Cổ Pháp đã xuất hiện một con chó trắng mang trên lưng hai chữ “Thiên Tử” được tạo nên từ lông đen. Sự kiện này được lan truyền rộng rãi, gắn liền với tín niệm về năm Tuất, cho rằng bậc thiên tử sẽ giáng thế vào năm Tuất. Điều này hoàn toàn trùng khớp với năm sinh của Lý Công Uẩn. Với vai trò là Thân vệ trong triều đình nhà Lê tại kinh đô Hoa Lư, Thiền sư Vạn Hạnh đã khéo léo vận dụng bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, khẳng định: “Gần đây tôi thấy lời sấm lạ, biết rằng nhà Lê tất phải mất mà nhà Nguyễn (Lý) tất phải lên.”
Vua Lý Nhân Tông (1072-1127) đã có bài kệ truy tán về công lao của Ngài:
Vạn Hạnh thông ba cõi
Thật hợp lời sấm xưa
Quê hương tên Cổ Pháp
Chống gậy trấn kinh vua.
Những lời dạy và hành động của Thiền sư Vạn Hạnh đã cộng hưởng với các lời sấm truyền trước đó. Quê hương Cổ Pháp của Ngài, cùng với cây Thiền trượng, đã trở thành biểu tượng cho sự bình yên của đất nước.
Mùa xuân năm 1010, chỉ vài tháng sau khi Triều Lý được thành lập và sau dịp Tết đầu tiên trên cương vị Hoàng đế tại kinh đô Hoa Lư, Lý Công Uẩn đã trở về thăm quê hương Cổ Pháp. Trên đường trở về Thăng Long, ý định dời đô của vua Lý Công Uẩn càng được củng cố. Quyết định này không chỉ dựa trên kinh nghiệm từ phương Bắc mà còn là sự đối chiếu với lịch sử, với những gì ông đã trải nghiệm tại kinh thành Hoa Lư trong suốt thời kỳ từ 968 đến 1009. Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn được xem là một bản tuyên ngôn chiến lược về chính trị và văn hóa, khẳng định tầm vóc của Đại La – Thăng Long.
Đáng chú ý, Chùa Dận, còn gọi là Cổ Pháp tự (古法寺), tọa lạc tại huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, chính là nơi sinh của Lý Công Uẩn, người sáng lập triều Lý, vào ngày 12 tháng Hai năm Giáp Tuất (tức ngày 8 tháng 3 năm 974 dương lịch). Vì vậy, ngôi chùa này còn được người dân địa phương gọi là chùa Dận. Khi Lý Công Uẩn chào đời, Thiền sư Lý Khánh Vân đang trụ trì tại chùa. Sư đã nhận nuôi và đặt tên cho cậu bé là Công Uẩn, mang họ Lý của mình.
Thiền sư Lý Khánh Vân đã nhận định về Lý Công Uẩn: “Đó là một người phi thường, lớn lên giúp đời yên dân, làm chủ thiên hạ. Tới lúc lớn, khẳng khái có chí lớn, không màng của cải, ưa xem hết kinh sử.” Một con người giàu nghị lực, xem thường danh lợi và ham học hỏi như Lý Công Uẩn thực sự hiếm có. Sau khi giúp vua Lê Đại Hành trị nước an dân, nhận thấy vua Lê Long Đĩnh không còn là minh quân và vận nước của triều Lê đã suy yếu, Thiền sư Vạn Hạnh cùng Đào Cam Mộc đã sắp xếp lại triều chính và đưa Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế.
Bài thơ sau đây thể hiện rõ quan điểm và sự vận động ý thức nhằm mong muốn đất nước có người lãnh đạo tài đức:
Chỉ trong ba tháng thôi
Thân vệ lên đỡ xã tắc
Lạc trà ấn có chữ Quốc
Mười khẩu xuống nước đất
Gặp thánh gọi thiên đức.
Thiền sư Vạn Hạnh, cùng với các quần thần, đã suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Lý Thái Tổ vào năm 1009. Ngài cũng là người đã tham mưu, hỗ trợ đắc lực cho Lý Thái Tổ trong việc dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, đặt nền móng cho sự phát triển của triều đại nhà Lý.
Thiền sư Vạn Hạnh đã cống hiến hết mình cho công cuộc xây dựng một triều đại mới an bình và thịnh trị. Ngài là một quốc sư mẫn tuệ, một nhà chiến lược tài ba, một nhà ngoại giao xuất sắc, một con người giàu nghị lực, không bao giờ nản chí, và là một bậc cao tăng Phật giáo với tâm nguyện lớn lao, đặt nền móng cho một triều đại mới. Thiền sư Vạn Hạnh, người cả đời tận tụy với sự nghiệp “Hộ quốc an dân”, đã được ca ngợi là “Chống gậy thiền trấn giữ kinh vua”.
Ngài đã đóng góp không nhỏ vào việc thiết lập một triều đại thịnh trị, chuẩn mực về đạo đức, và tạo dựng nền độc lập lâu dài cho đất nước (triều Lý kéo dài 200 năm). Đây là minh chứng cho tư duy toàn diện và khí phách của vua Lý Thái Tổ khi khai sáng kinh đô Thăng Long. Chúng ta không chỉ khâm phục tài năng và đức độ của Ngài mà còn học được “chất Phật” sâu sắc, thể hiện qua việc Ngài không màng danh lợi hay chức tước sau khi triều Lý được thành lập.
Trước năm 1975, tại miền Nam Việt Nam từng có một viện đại học mang tên Thiền sư là Viện Đại học Vạn Hạnh. Ngày nay, nhiều con đường ở các thành phố Việt Nam mang tên “Sư Vạn Hạnh” để tưởng nhớ một vị thiền sư đã để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử dân tộc, một nhân vật mà “phong thái uy đức” đã tạo tiền đề cho sự mở mang bờ cõi của dân tộc.
Trong bài kệ thị tịch, Thiền sư đã dạy: “An trú vào chỗ không an trú, an trú vào chỗ mà ý niệm vô trú không thể tựa vào.” Tóm lại, Vạn Hạnh đã nhập thế bằng những bước chân vô ngã, không bị ràng buộc bởi chấp trước hữu ngã, thể hiện rõ nhân sinh quan và phong thái hành đạo của Ngài:
Thân như sấm chớp có rồi không
Cỏ xuân tươi tốt, thu qua rụng rời
Nhìn cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi
Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành.
Nội dung bài kệ thể hiện tinh thần vô ngã, vô trụ, vô chấp của một bậc giác ngộ, có tầm nhìn bao quát về thế cuộc và trách nhiệm sâu sắc với dân tộc. Vạn Hạnh, một con người tài trí cao siêu, luôn chủ động nắm bắt tình thế, đề ra những phương thức hữu hiệu, kết hợp bác học và dân dã để tác động mạnh mẽ vào ý thức dân tộc của quần chúng, vốn bị ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo giáo điều về “trung quân, ái quốc”.
Quan trọng hơn, sau khi tìm được người hiền đức, Ngài đã vun đắp, bồi dưỡng và theo dõi từng bước đi của vị minh quân này. Thiền sư Vạn Hạnh đã trải qua năm triều đại khác nhau, từ Dương, Ngô, Đinh, Lê cho đến Lý. Với tư tưởng vô thường của lời Phật dạy và thực tiễn xã hội, Ngài nhận thức rõ sự phù du của cuộc đời, những thăng trầm và biến hoại. Nếu không làm chủ được quy luật phát triển của xã hội, con người dễ rơi vào hoang mang, sợ hãi, không biết ứng dụng thế nào trước những biến đổi vô thường của vạn vật.
Thiền sư Vạn Hạnh đã để lại bản di chúc nhắn nhủ các môn đồ phải làm chủ được quy luật thịnh suy (nhậm vận thịnh suy). Đó chính là sức mạnh vô úy trước những biến thiên được mất, thành bại, thể hiện thái độ dõng dạc của một thiền sư đầy đủ phẩm chất đạo lực và giác ngộ. Cho đến ngày nay, hương thơm của Cổ Pháp vẫn lưu giữ mãi về sau, hòa quyện với chiều dài lịch sử của Thăng Long – Hà Nội.
Thích Pháp Bảo
- Tài liệu tham khảo:
- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Văn học, Hà Năi, 2000.
- Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 2, Nhà xuất bản TP.HCM, 2001
- Thích Phước Đạt, Lý Công Uẩn vị vua “hộ pháp” đầu tiên của triều đại nhà Lý.
- Mật Thể, Việt Nam Phật giáo Sử lược. Nxb Minh Đức 1960.
-
Nghệ An: Quỹ khuyến học Vạn Hạnh tặng quà cho học sinh nghèo hiếu học
-
Bắc Ninh: Chùa Tiêu cúng Lễ giỗ Quốc sư Vạn Hạnh
-
Tp.HCM: Thiền viện Vạn Hạnh tổ chức Phật đản PL.2557
-
Lâm Đồng: Chùa Vạn Hạnh thăm tặng quà cho bà con nghèo
Khám phá thêm những câu chuyện và tư tưởng sâu sắc về Đạo phật, để hiểu rõ hơn về hành trình phụng sự dân tộc của Thiền sư Vạn Hạnh.