Ngoài những nỗi đau về thể chất, con người còn đối diện với những bi lụy tinh thần sâu sắc, trong đó có sự chia cách với những người mình yêu thương. Dù là do hoàn cảnh trớ trêu hay sự ra đi vĩnh viễn, những cuộc ly biệt này để lại những vết thương lòng khó lành. Khám phá sâu hơn về nỗi khổ này và cách đối diện được chia sẻ trên Website Chia sẻ Đạo Phật.
Yêu thương xa lìa khổ
Bên cạnh những khổ đau về thể chất, đạo Phật còn chỉ ra bốn nỗi khổ tinh thần, cộng chung với thân và tâm là tám nỗi khổ. Thứ năm trong tám nỗi khổ này là “yêu thương xa lìa khổ”. Đây là nỗi khổ phát sinh khi những người thân yêu, gắn bó phải chia ly hoặc mất mát. Tình cảm vợ chồng, con cái, anh em đang nồng ấm bỗng chốc tan vỡ vì chia ly, sự mất mát này mang đến nỗi đau không gì sánh bằng. Sự chia ly này được phân thành hai loại: sinh ly và tử biệt.

Trong đạo Phật đau khổ gây ra bởi tham sân si, mà tham sân si do từ vô minh mà phát triển và lớn lên.
Sinh ly khổ: Nỗi khổ này xảy ra khi hoàn cảnh, tai họa bất ngờ như chiến tranh, thiên tai buộc các thành viên trong gia đình phải xa cách. Cảnh chia ly trong ấm êm gia đình, người ở mong ngóng, người đi trông đợi, nỗi lòng xót xa, tiếc thương vô hạn. Trong thời chiến loạn, ta càng thấy rõ điều này qua hình ảnh những người lính trẻ xa nhà, dấn thân nơi chiến trường khốc liệt, không còn ngày gặp mặt. Nỗi nhớ thương của người ở nhà, nỗi sầu khổ của người nơi xa xứ tạo nên một vòng luẩn quẩn của đau thương. Gốc rễ của nỗi khổ này chính là tham ái – sự khao khát, mong muốn được gần gũi người mình yêu thương, khi không đạt được, ta đành chịu đựng nỗi đau xa cách.
Tử biệt khổ: Nếu như sinh ly còn có hy vọng ngày đoàn tụ, thì tử biệt là sự chia ly vĩnh viễn, mang đến nỗi đau sâu sắc hơn. Khi đối diện với cái chết, người ở lại không khỏi ngậm ngùi, thương tiếc. Nỗi đau này có thể khiến con người suy sụp, quên ăn, bỏ ngủ, thậm chí tuyệt vọng muốn đi theo người đã khuất. Trong vòng luân hồi sinh tử, cái chết là hiện tượng đáng sợ nhất, ngay cả khi đối mặt với bệnh tật nan y, con người vẫn mong muốn được sống. Cảnh hấp hối, thân xác đau đớn, hơi thở yếu ớt, cơ thể cứng đờ sau khi chết là minh chứng rõ ràng nhất cho sự đáng sợ của cái chết. Mặc dù tình yêu thương gắn bó là điều mong muốn, nhưng sự chia ly vì hoàn cảnh trớ trêu lại mang đến nỗi khổ sâu sắc. Nỗi khổ này tương tự như nỗi khổ khi phải đối mặt với kẻ thù, người mình ghét bỏ.
Oán ghét gặp nhau khổ
Thứ sáu là “oán ghét gặp nhau khổ”, trái ngược với tình yêu thương. Khi phải đối diện thường xuyên với người mình ghét bỏ, ta sinh ra bực bội, khó chịu, chỉ mong họ biến mất. Trớ trêu thay, người mình thương thì lại xa cách, còn người mình ghét thì lại thường xuyên chạm mặt. Nỗi khổ này bắt nguồn từ sân hận, khiến ta khổ sở khi phải làm việc chung với người mình không ưa.

Ai nắm được chiếc chìa khóa của sự yêu thương và ghét bỏ nhờ biết tin sâu nhân quả, tin chính mình là chủ nhân của bao điều họa phúc
Ngay cả trong gia đình, giữa vợ chồng, anh em, khi bất hòa xảy ra, việc phải nhìn mặt nhau mỗi ngày khi muốn tránh né càng làm tăng thêm sự khó chịu. Dù cố gắng không nói chuyện, đôi khi vẫn phải giao tiếp, mang lại cảm giác ngượng ngùng, bức bối. “Oán tăng hội khổ” là nỗi khổ khi phải đối diện với người mình không ưa, muốn tránh xa nhưng hoàn cảnh bắt buộc phải làm việc và sống chung. Trong cuộc đời, ai cũng có người mình yêu quý và người mình thù ghét.
Sự thù hận, ghét bỏ đối nghịch hoàn toàn với tình yêu thương. Khi tình yêu không trọn vẹn, ích kỷ và hẹp hòi có thể dẫn đến oán giận, thù hằn. Tâm niệm oán giận khiến ta luôn mong muốn người kia gặp điều xấu, đau khổ, thậm chí mong họ sớm chết. Trước tiên, chính người mang tâm niệm thù ghét đã tự hủy hoại bản thân, trở nên xấu xí, bực tức, không bằng lòng với hiện tại. Thay vì cảm thông, tha thứ, ta lại mong muốn người khác phải giống mình, thậm chí ép buộc họ thay đổi.
Khi trưởng thành, ta cần học cách bình tĩnh suy xét, nhận định vấn đề thay vì để thói quen ích kỷ, hẹp hòi dẫn đến thù ghét. Thế giới con người, do thiếu vắng tình thương chân thật, thường chìm trong oán giận, thù hằn, dẫn đến chiến tranh, tàn sát. Nhân danh thần linh, con người tạo ra vô số khổ đau. Tình yêu thương ích kỷ, thiếu hiểu biết khiến ta dễ dàng hành hạ người thân khi không kiểm soát được cơn giận. Người mang tâm niệm thù ghét sẽ không bao giờ tìm thấy an lạc nội tâm, bởi lòng luôn chất chứa phiền muộn.
Khi ta yêu thương chân thành, ta sẽ tìm cách bảo vệ, gìn giữ mối quan hệ. Nhưng khi cảm thấy bị phụ bạc, ta có thể tìm đến người khác, cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, dẫn đến tiếc nuối, khóc lóc, hờn giận, cuối cùng là thù hằn, ghét bỏ. Cảm xúc thù ghét giống như lưỡi dao bén cứa vào tim, gây thất vọng, đau khổ tột cùng, khiến ta mất đi sự sáng suốt, chìm trong vô vọng. Nếu không chuyển hóa được cảm xúc này, ta sẽ rơi vào hố sâu tội lỗi.
Thay vì chìm đắm trong thù ghét, ta hãy mở lòng yêu thương, thấu hiểu, tha thứ và cảm thông. Khi nhận ra mình là chủ nhân của họa phúc, sở hữu trái tim đẹp đẽ, tại sao ta lại tự trói buộc mình bởi tâm niệm thù ghét, ngăn cản tình yêu thương giữa mọi người? Khi mang trong mình sự thù ghét, thế giới rộng lớn bỗng trở nên chật hẹp, tối tăm. Gặp lại người mình oán ghét bấy lâu nay, dù muốn tránh xa cũng không thể, đặc biệt đau khổ hơn nếu đó là người thân.
Tình thương và sự ghét bỏ là hai yếu tố quyết định hạnh phúc hay khổ đau. Yêu thương quá nhiều dẫn đến nhớ nhung, bi lụy. Ghét bỏ mà cứ gặp nhau thì càng khổ hơn. Thật khó để yêu thương một người chưa từng yêu mình, thậm chí họ còn thù ghét và làm ta đau khổ. Bản chất con người là yêu thương, nhưng đa số chỉ yêu thương trong sự ích kỷ, hẹp hòi, có điều kiện, thiếu lòng khoan dung, độ lượng, cảm thông và tha thứ. Chính sự thương yêu hạn hẹp này dẫn đến ghen tuông, ganh ghét và gây khổ đau cho nhau.
Ai thấu hiểu được quy luật của yêu thương và ghét bỏ, tin sâu vào nhân quả, nhận ra mình là chủ nhân của mọi sự, sống chân thật, sẻ chia, tôn trọng lẫn nhau bằng tình người, sẽ biến thế gian này thành thiên đường hạnh phúc.
Mong cầu không được như ý khổ
Thứ bảy là “mong cầu không được như ý khổ”. Khi những điều ta mong muốn không thành hiện thực, ta sẽ khổ đau. Ví dụ, mong muốn thi đậu nhưng lại rớt, đó là nỗi khổ. Ngoài thi cử, còn vô số mong cầu khác trong công việc, tình cảm… Nhiều người tuyệt vọng, tự tử vì không đạt được điều mình mong muốn. Con người khổ đau khi tham muốn, khao khát quá đáng những nhu cầu cá nhân. Khi đói, ta mong có đủ ăn mặc; khi no, ta lại mong giàu sang, phú quý.
Cuộc sống luôn có những điều như ý và bất như ý. Khi mọi việc thuận theo ý muốn, ta vui vẻ, ngược lại, ta buồn bã, và buồn bã chính là khổ. Ai trong chúng ta cũng từng trải qua những điều không như ý. Người may mắn thì ít gặp bất hạnh, nhưng ai cũng có lúc đối diện với sự việc trái ý. Khi đối diện với những thứ không thích hoặc oán ghét, ta cũng chịu khổ.
Hy vọng càng nhiều, thất vọng càng lớn. Trong bất kỳ vấn đề nào, số người toại nguyện rất ít, còn số người bất như ý lại vô kể. Để đạt được kết quả tốt đẹp, con người phải lao tâm, tổn trí, mất ăn, mất ngủ, chỉ mong đến ngày thành công. Nhưng nếu những mong ước ấy không thành, nỗi đau khổ sẽ không có điểm dừng. Dưới đây là một vài ví dụ về những thất vọng phổ biến trong đời:
Thất vọng vì công danh: Danh vọng là miếng mồi ngon mà nhiều người khao khát. Tuy nhiên, để đạt được nó không hề dễ dàng. Ngay cả những người cầu danh vọng một cách chính đáng, bằng năng lực và tài trí của mình, cũng phải nếm trải nhiều thất bại trước khi thành công.
Thất vọng vì phú quý: Số người thất vọng vì công danh đã nhiều, nhưng số người thất vọng vì phú quý cũng không ít. Nhiều người tìm mưu mẹo bất chính để làm giàu nhanh chóng, nhưng cuối cùng lại mất hết tài sản, thậm chí phải vào tù, gia đình nhục nhã, đó là một nỗi khổ lớn.
Thất vọng vì tình duyên: Tình duyên cũng là một nguyên nhân khiến bao người điêu đứng, khổ sở. Trong tình yêu, mấy ai được toại nguyện? Hằng ngày, báo chí đăng tải không ít câu chuyện tình trắc trở dẫn đến bi kịch, đó là minh chứng cho nỗi khổ “cầu không được cho nên khổ”.
Thân năm ấm không hòa hợp nhau khổ
Điều thứ tám là “ngũ ấm xí thạnh khổ”, tức nỗi khổ do sự hưng thịnh của năm ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc ấm thuộc về thân, bốn ấm còn lại thuộc về tâm lý hay tinh thần.

Người biết tiết chế được lòng tham thì cuộc sống an nhàn và thảnh thơi không bị cuộc sống ràng buộc.
Nỗi khổ này bao hàm bảy nỗi khổ trước đó: thân thể trải qua sinh, già, bệnh, chết, đói, khát, nóng, lạnh, vất vả nhọc nhằn; tâm trí buồn giận, thương ghét, oán trách, phân biệt tốt xấu, đúng sai, trăm điều phiền lụy. Tất cả những khổ đau này phát sinh từ sự kết hợp của thân và tâm, do các nhân duyên trái nghịch, mâu thuẫn nội tại.
Nhiều người trẻ tuổi không tin rằng thân thể mình là khổ, vì họ nghĩ đến tương lai tươi sáng. Họ cho rằng chỉ khi gặp điều trái ý mới khổ, còn điều thuận theo ý thì đâu có khổ. Tuy nhiên, Đức Phật dạy rằng thân này là gốc của khổ đau bởi lẽ nó vô thường, luôn thay đổi và cuối cùng sẽ già, bệnh, chết. Chúng ta thường hoài niệm về tuổi trẻ mà quên đi sự thật về già nua, bệnh tật và cái chết. Thân này biến hoại vô thường nên là khổ, không có niềm vui lâu dài.
Đức Phật không dạy chúng ta ôm ấp nỗi khổ, mà chỉ ra nguyên nhân để chúng ta chuyển hóa khổ đau thành an vui, hạnh phúc. Khổ đau không tự nhiên sinh ra mà do “tập đế” – những gốc rễ của phiền não, là nhân tạo thành quả khổ. Sáu căn bản phiền não là: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Nếu diệt trừ được sáu thứ này, ta sẽ hết khổ.
Ngã mạn, tức là thấy mình cao cả, quan trọng, dẫn đến khổ đau khi sắp mất. Nếu ta thấy mình hư giả, tạm bợ, thì còn gì để vênh váo, còn gì để sợ hãi khi thân này sắp hoại? Sự khinh người thường bắt nguồn từ việc thấy mình cao quý, quan trọng. Khi thấy mình tạm bợ, giả dối, ta sẽ không còn coi trọng bản thân quá mức, từ đó không khinh người. Chỉ cần có chút trí tuệ để thấy đúng như thật, nỗi khổ về sinh, già, bệnh, chết sẽ dần giảm bớt.
Lý giải bằng trí tuệ, thân này không có gì quan trọng, chỉ là sự tụ hợp của các nhân duyên. Khi nói “tôi”, ta không thể chỉ rõ “cái tôi” là gì. Nếu da thịt là “tôi”, khi nó bệnh tật, bác sĩ cắt bỏ, “cái tôi” đó sẽ ra sao? Khi da thịt lành lặn, ta quý trọng, nhưng khi nó hoại tử, bốc mùi, ta muốn bỏ đi. Rõ ràng, cái ta không phải là những gì ta đang mang trên mình.
Chúng ta khổ đau vì chấp ngã, cho rằng ngã là thật, là quý giá. Nếu biết ngã không thật, không quý, ta sẽ dễ dàng buông bỏ mà không đau khổ. Ngã mạn vì chấp thân là thật, khi hết ngã mạn, ta sẽ hết đau khổ. Đó là “ngũ ấm xí thạnh khổ”. Con người vì lòng ham muốn vô đáy, khi chưa được thì tìm mọi cách để đạt được, khi được rồi lại nhàm chán, muốn tìm thứ khác. Người biết tiết chế lòng tham sẽ sống an nhàn, thảnh thơi, không bị ràng buộc bởi cuộc sống.
Kinh bảy cách dứt trừ khổ đau
Từ nghiệp nhân ngu si mê muội, con người đã tạo ra vô số lỗi lầm từ vô thủy kiếp. Nếu không gặp được thầy lành bạn tốt, cuộc đời ta có thể rơi vào ngõ cụt. Do si mê, tham đắm chấp thân-tâm làm ngã, ta muốn chiếm hữu về mình, dẫn đến suy nghĩ, hành động sai lầm, thấy có ta, người và muôn loài, muôn vật. Ý thức là đầu mối của phiền não, nó suy tư, nhớ nghĩ về quá khứ, hiện tại, tưởng tượng, mơ mộng và có khả năng phân biệt, hiểu biết.
Do phân biệt sai lầm, ý thức không nhận ra thực tướng của vạn pháp là vô ngã, không có chủ thể cố định, từ đó sinh ra chấp ngã, chấp nhân, chấp chúng sinh. Sự bám víu vào “cái ta” dẫn đến “cái của ta” như vợ ta, con ta, nhà ta, tài sản của ta, đất nước của ta. Dưới cái nhìn thế gian, điều này có vẻ bình thường, nhưng nếu không bám víu vào “cái ta” và “của ta”, con người sẽ sống ra sao?
Thân này sẽ sinh, già, bệnh, chết, ta không thể chống lại điều đó. Khi quán chiếu về thân như vậy và sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi có duyên, tâm niệm tham, sân, si sẽ dần vơi bớt. Khi ý không còn suy nghĩ xấu, chỉ làm điều thiện lành và không bám chấp vào việc làm tốt đó, ta sẽ thành tựu viên mãn công hạnh Bồ tát.
Để hiểu sâu hơn về giáo lý và con đường giải thoát khổ đau, hãy cùng khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.
