Sau khi quy y Tam Bảo, mỗi người con Phật đều tìm thấy nơi nương tựa vững chắc. Quá trình sám hối giúp tịnh hóa những nghiệp chướng che mờ, mở ra con đường Bồ đề đầy hỷ lạc. Dù đối mặt với vô vàn nghịch cảnh trong vòng luân hồi, từ địa ngục đến những cõi trời xa vời, điều quan trọng nhất không nằm ở hoàn cảnh mà ở tâm thế. Ngay cả trong thời Mạt pháp, việc không trực tiếp diện kiến Phật không hề làm giảm đi giá trị của sự tu tập, bởi lẽ, mọi khổ đau hay an lạc đều khởi nguồn từ tâm. Hãy cùng khám phá cách chuyển hóa mọi nghịch cảnh thành cơ hội trên <a href="Website Chia sẻ Đạo Phật“>Website Chia sẻ Đạo Phật.

Chương Mười: Tự Vui Mừng
Trong Đạo tràng, mỗi người chúng ta, kể từ ngày quy y, đã nhận ra đâu là nơi nương tựa tối thượng. Khi thực hành nghi thức sám hối, những lỗi lầm do mê lầm che lấp đều được tiêu trừ. Tiếp đó, với tâm Bồ đề, chúng ta cùng nhau dìu dắt trên con đường tu tập, từ đó hóa giải oán thù và đạt đến sự tự tại an lạc.
Vậy, chẳng lẽ Đại chúng lại không có lý do để hân hoan vui mừng sao?
Kinh điển đã chỉ ra rằng có tám loại nạn khổ mà chúng sinh thường đắm chìm trong biển luân hồi sinh tử, không thể thoát ra: Địa ngục, Ngã quỷ, Súc sinh, Biên địa (nơi không có Phật pháp, thiếu văn hóa, lễ nghi), Trường thọ Thiên (cõi trời Phi phi tưởng, nơi tà kiến ngoại đạo), thân người nhưng lại câm điếc, ngọng líu, tàn tật, sinh vào nhà có tà kiến, và sinh vào thời kỳ trước hoặc sau khi Đức Phật giáng thế.
Tuy chúng ta sinh vào thời Mạt pháp, không trực tiếp gặp Phật, nhưng vẫn có nhiều điều đáng mừng:
Nạn khổ hay không khổ phần lớn là do tâm. Nếu tâm sinh nghi ngờ, ngay cả điều không phải nạn cũng trở thành nạn. Ngược lại, nếu tâm không nghi ngờ, thì mọi nạn khổ đều hóa thành không nạn.
Hãy xem xét nạn thứ tám: sinh trước hay sau Phật. Bà lão ở thành Đông, dù sống cùng thời và cùng xứ với Đức Phật, nhưng vì tâm nghi ngờ mà không thể thấy Phật. Điều này cho thấy, tâm nghi ngờ chính là nạn thực sự, chứ không phải việc sinh cùng thời hay không.
Ma Ba Tuần, với tâm ác độc, khi còn sống đã đọa vào địa ngục. Ngược lại, Rồng nghe pháp còn ngộ đạo Bồ đề. Điều này chứng tỏ, dù ở cõi trời hay cõi người, không có gì là tuyệt đối không có nạn. Quan trọng là tâm có hướng về điều thiện hay không, vì quả báo là bình đẳng.
Cõi trời Lục dục cao quý là vậy mà vẫn có thể đọa vào địa ngục. Loài súc sinh thấp hèn lại có thể chứng quả đạo tràng. Điều này cho thấy, tâm tà kiến khiến nạn nhỏ trở thành nạn lớn, còn tâm chánh kiến khiến nạn lớn hóa thành không ngại.
Trong Đạo tràng, nếu chúng ta vì tâm nghi ngờ mà gặp việc không phải nạn lại thành nạn. Ngược lại, nếu giữ tâm chánh kiến, mọi nạn khổ đều hóa thành không nạn.
Chỉ cần nhìn vào một khía cạnh này, chúng ta đủ hiểu rằng, dù sinh trước hay sau Phật, tất cả đều là Chánh pháp. Biên địa hay súc sinh cũng có thể là Đạo tràng. Nếu tâm còn nghi ngờ, nạn khổ sẽ vô lượng. Nếu tâm chánh, nạn khổ sẽ không còn.
Những niềm vui mừng này thực sự không ít. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường không nhận ra những công đức của chính mình.
Nay tôi xin sơ lược trình bày những niềm vui mừng theo thiển kiến của mình để Đại chúng cùng suy ngẫm. Nếu nhận ra được những niềm vui ấy, chúng ta cần phải tu tâm để xuất thế.
Chúng ta vui mừng vì những gì?
- Phật dạy: “Địa ngục khó thoát khỏi”. Nay chúng ta đã cùng nhau xa lìa khổ đau nơi Địa ngục. Đây là niềm vui mừng thứ nhất.
- Ngã quỷ khó thoát được. Nay chúng ta đã thoát khỏi sự đói khát thống khổ của Ngã quỷ. Đây là niềm vui mừng thứ hai.
- Súc sinh khó xả bỏ. Nay chúng ta đã thoát khỏi quả báo của loài súc sinh. Đây là niềm vui mừng thứ ba.
- Sinh ở Biên địa, không biết nhân nghĩa. Nay chúng ta lại được chung sống trong quốc độ có Phật pháp lưu hành, đích thân thừa hưởng giáo lý nhiệm màu của chư Phật. Đây là niềm vui mừng thứ tư.
- Sinh lên cõi trời Trường thọ, không biết trồng phúc. Nay chúng ta đều được trồng căn lành. Đây là niềm vui mừng thứ năm.
- Thân người khó được, mất đi khó tìm lại. Nay chúng ta đều được làm người. Đây là niềm vui mừng thứ sáu.
- Sáu căn không đầy đủ thì không thể trồng căn lành. Nay chúng ta đều được thanh tịnh, hướng về pháp môn thâm diệu của Phật. Đây là niềm vui mừng thứ bảy.
- Thế trí biện thông, tức là trí tuệ thế gian có thể biến nạn thành không nạn. Nay chúng ta nhất tâm nương về Chánh pháp. Đây là niềm vui mừng thứ tám.
- Trước hay sau Phật đều là nạn. Có người cho rằng không thấy Phật là đại nạn. Nay chúng ta đã cùng nhau phát đại nguyện, thệ độ hết thảy chúng sinh đến tận đời vị lai, không chấp việc không thấy Phật là nạn. Chỉ cần một lần thấy hình tướng Phật, nghe Chánh pháp, cũng như ngày xưa được thấy Đức Phật thuyết pháp tại Vườn Lộc Uyển. Việc làm của chúng ta là diệt tội, sinh phước, chứ không phải vì không thấy Phật mà cho là nạn.
- Phật dạy: “Thấy được Phật là khó”. Nay chúng ta đã cùng nhau chiêm ngưỡng hình tướng Phật. Đây là niềm vui mừng thứ chín.
- Phật dạy: “Nghe được pháp Phật là khó”. Nay chúng ta đã cùng nhau hưởng thụ Cam lồ pháp vị của Phật. Đây là niềm vui mừng thứ mười.
- Phật dạy: “Xuất gia được là khó”. Nay chúng ta đã từ bỏ gia đình, trở về với Đạo. Đây là niềm vui mừng thứ mười một.
- Phật dạy: “Lợi cho mình là dễ, lợi cho người là khó”. Nay chúng ta, trong mỗi lạy, mỗi bài, đều hồi hướng công đức cho tất cả chúng sinh khắp mười phương. Đây là niềm vui mừng thứ mười hai.
- Phật dạy: “Chịu khổ, chịu cực được là khó”. Nay chúng ta, ai nấy đều tinh tấn làm lành không ngừng nghỉ. Đây là niềm vui mừng thứ mười ba.
- Phật dạy: “Đọc tụng kinh điển được là khó”. Nay chúng ta đang đọc tụng kinh điển của Phật. Đây là niềm vui mừng thứ mười bốn.
- Phật dạy: “Tọa thiền là khó”. Nay chúng ta có người đã an định tâm ý. Đây là niềm vui mừng thứ mười lăm.
Ngày nay, Đại chúng trong Đạo tràng thấy có vô lượng niềm vui mừng như vậy, không thể nào kể hết bằng lời.
Người đời thường vui ít khổ nhiều. Được một điều mừng đã hớn hở, huống chi nay chúng ta có quá nhiều điều vui không ngại.
Niềm vui không ngại này đều nhờ sức oai thần của Tam bảo. Mỗi người chúng ta nên ghi nhớ công ơn của Phật, Pháp, Tăng. Đại chúng hãy tha thiết thành tâm đảnh lễ Tam bảo, nguyện xin thay thế cho tất cả Quốc vương, Đế chúa, Thổ thần, nhân dân, cha mẹ, sư trưởng, thượng tọa, tín thí, thiện ác tri thức, chư Thiên, chư Tiên, Hộ thế Tứ Vương, thông minh chánh trực, Thiên địa, hư không, chủ thiện phạt ác, thủ hộ trì chú, Ngũ phương Long vương, Long thần, Bát bộ, chư Đại Ma vương, Ngũ đế Đại ma, nhất thiết Ma vương, Diêm la vương, Thái sơn Phủ quân, Ngũ đạo Đại thần, Thập bát Ngục vương và các quan thuộc trong địa ngục; rộng ra cho đến vô cùng vô tận các loài hữu tình, có thần thức, có Phật tánh trong ba cõi sáu đường; nguyện vì tất cả chúng sinh ấy mà quy y tận hư không giới, hết thảy mười phương Tam bảo.
Nguyện xin Tam bảo dủ lòng từ bi, cùng gia tâm nhiếp thọ, cùng đem thần lực tự tại bất khả tư nghị mà che chở cứu vớt; làm cho tất cả chư Thiên, chư Tiên, hết thảy Thần vương, Thần tướng, rộng ra cho đến hết thảy chúng sinh trong sáu đường từ đây trở đi vượt khỏi biển sinh tử, đến bờ giải thoát bên kia, hạnh nguyện sớm viên mãn, đồng lên Thập địa, vào Kim cang tâm, thành bậc Chánh giác.
Chương Mười Một: Tưởng Nhớ Ơn Tam Bảo
Ngày nay, Đại chúng trong Đạo tràng đều nên tưởng nhớ ơn Tam bảo. Vì sao vậy?
Nếu không biết Tam bảo, làm sao có thể sinh tâm từ bi, thương xót chúng sinh? Nếu không biết Tam bảo, làm sao có thể sinh tâm bi mẫn, cứu hộ nhiếp thọ tất cả chúng sinh? Nếu không biết Tam bảo, làm sao có thể sinh tâm bình đẳng, quan sát oán thân như nhau? Nếu không biết Tam bảo, làm sao có được diệu trí chứng đạo vô thượng? Nếu không biết Tam bảo, làm sao hiểu rõ lý nhị không (nhân không, pháp không) là chân không chân thật, vô tướng mà tu hành?
Phật dạy:
“Thân người khó được, nay đã được, lòng tin khó sanh, nay đã sanh”.
Chúng ta ngày nay nhờ quy y Tam bảo, mắt không thấy cảnh lửa phun, lưỡi bị rút ra ở địa ngục, ngã quỷ; tai không nghe tiếng kêu la thống khổ ở cõi địa ngục, ngã quỷ; mũi không ngửi mùi máu mủ tanh hôi, lột da xẻ thịt ở cõi địa ngục, ngã quỷ; lưỡi không nếm mùi hôi thối, hư nát; thân không xúc chạm cảnh giá lạnh, lò than hồng, vạc dầu sôi ở địa ngục; ý thường biết Phật là Đấng Cha lành, từ bi vô thượng, là Đấng Đại Y Vương; ý biết tất cả Phật pháp là thuốc hay trị bệnh cho chúng sinh; biết các vị Hiền Thánh là từ mẫu săn sóc bệnh hoạn cho chúng sinh. Ý thường biết nghĩ tưởng Tam bảo là ba ngôi báu ủng hộ thế gian; ý thường tưởng nghĩ gì chúng ta đều biết được hết.
Chúng ta ngày nay tuy sinh ra không gặp Phật, nhằm đời mạt pháp, nhưng có đủ tín tâm, sáu căn thanh tịnh, không có suy não, đi lại vừa ý, đứng ngồi tự do, vô ngại. Những quả báo tốt đẹp ấy đều do duyên lành đời trước, nhờ ơn Tam bảo khiến phát tâm Bồ đề. Những lợi ích như thế vô lượng vô biên, không thể kể xiết. Vậy chúng ta há lại không lo báo ơn, cúng dường Tam bảo hay sao?
Ngày nay, Đại chúng trong Đạo tràng nên biết rằng: Cúng dường là công đức lớn hơn hết thảy trong các công đức.
Trong kinh Phật dạy: “Nhớ lại đời quá khứ chỉ cúng dường Tam bảo một mảy may, nhờ phước báo ấy, nay gặp được Phật Thế Tôn”.
Lại nữa, trong kinh cũng chép rằng: “Nếu muốn được quả báo tốt mà xây tháp, lập tịnh xá, cúng dầu đèn, tràng phan, bảo cái, hoa hương, nệm gối và bao nhiêu thứ cúng dường khác v.v… cũng chứa phải là báo ơn Đức Phật.
“Muốn báo ơn Đức Phật, cần phải phát tâm Bồ đề, lập bốn lời thệ nguyện rộng lớn, tạo vô lượng duyên lành, trau dồi thâm tâm tu hành Tịnh độ. Ấy là kẻ trí biết báo ơn Đức Phật vậy”.
Ngày nay, Đại chúng trong Đạo tràng nhận thấy ân đức từ bi vô lượng của Đức Phật không thể báo đáp. Các vị Đại Bồ tát nghiền thân cúng dường mà còn chưa thể báo ơn Đức Phật muôn một, huống chi chúng ta là phàm phu mà có thể báo ơn Đức Phật được sao? Đại chúng chỉ y theo lời kinh dạy mà làm việc lợi ích cho người là hơn hết. Mọi người nên hết lòng thành tâm đảnh lễ Tam bảo, khắp vì hết thảy chúng sinh, vô cùng vô tận trong bốn loài sáu đường mà quy y Thế gian Đại từ bi phụ:
Nam mô Di Lặc Phật
Nam mô Thích Ca Mâu ni Phật
Nam mô Đức Bảo Phật
Nam mô Ưng Danh Xưng Phật
Nam mô Hoa Thân Phật
Nam mô Đại Âm Phật
Nam mô Biện Tài Tán Phật
Nam mô Kim Cang Châu Phật
Nam mô Vô Lượng Thọ Phật
Nam mô Châu Trang Nghiêm Phật
Nam mô Đại Vương Phật
Nam mô Đức Cao Hạnh Phật
Nam mô Cao Danh Phật
Nam mô Bách Quang Phật
Nam mô Hỷ Diệt Phật
Nam mô Long Bộ Phật
Nam mô Ý Nguyện Phật
Nam mô Bảo Nguyệt Phật
Nam mô Diệt Hỷ Phật
Nam mô Hỷ Vương Phật
Nam mô Điều Ngự Phật
Nam mô Hỷ Tự Tại Phật
Nam mô Bảo Kế Phật
Nam mô Ly Úy Phật
Nam mô Bảo Tạng Phật
Nam mô Nguyệt Diện Phật
Nam mô Tịnh Danh Phật
Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát
Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.
Lại quy y như vậy mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo.
Chương Mười Hai: Chủ Sám Lễ Tạ Đại Chúng
Ngày nay, Đại chúng trong Đạo tràng đã cùng nhau phát tâm Bồ đề kiên cố, thề không thối chuyển. Đó là một chí khí mạnh mẽ không thể nghĩ bàn, được chư Phật ngợi khen.
Ngày nay, người viết cũng hết lòng tùy hỷ và nguyện đời sau sẽ được gặp lại. Xả bỏ thân này, thọ thân khác, nguyện không rời nhau, cho đến ngày thành Phật, hằng làm bà con Phật pháp, quyến thuộc từ bi.
Ngày nay tôi lập ra Pháp Sám này, có thể còn sơ sót, trí tuệ không sáng suốt, thân hành trái với hạnh, khinh suất tỏ bày ý ấy. Thật đáng lo sợ đối với sự thấy nghe của người.
Sức người hữu hạn, công việc thì quan trọng và rộng lớn, như nước lửa trái nhau, nên tôi rất ngại ngùng. Nếu không nương nhờ một nguyên nhân cường tráng thì không thể có kết quả thắng diệu. Thành thật, tôi biết có sai lầm, nhưng lòng tôi không quên việc thiện. Mong nhờ sức hộ niệm của Đại chúng cùng làm từ thân. Ngưỡng xin Đại chúng giáng đức xuống Đạo tràng.
Thời gian trôi qua mau chóng, nếu để duyên nghiệp cuốn đi thì khó gặp thắng hội.
Vậy tự mình nên phải cố gắng siêng năng khóa lễ, lợi mình lợi người, chớ kiêu ngạo bài xích mà sau không hối hận kịp.
Pháp âm của Phật một lần lọt vào tai thì công đức phước báo vĩnh kiếp vẫn còn hoài; một niệm thiện tâm lợi ích cho thân tâm mãi mãi.
Nếu người nào có trí hướng cương quyết thì không có nguyện gì mà không thành tựu viên mãn.
Đại chúng cùng nhau chí tâm đảnh lễ quy y Thế gian Đại từ bi phụ:
Nam mô Di Lặc Phật
Nam mô Thích Ca Mâu ni Phật
Nam mô Oai Đức Tịch diệt Phật
Nam mô Thọ Tướng Phật
Nam mô Đa Thiên Phật
Nam mô Tu Diệm Ma Phật
Nam mô Thiên Ái Phật
Nam mô Bảo Chúng Phật
Nam mô Bảo Bộ Phật
Nam mô Sư Tử Phân Phật
Nam mô Cực Cao Hạnh Phật
Nam mô Nhân Vương Phật
Nam mô Thiện Ý Phật
Nam mô Thế Minh Phật
Nam mô Bảo Oai Đức Phật
Nam mô Đức Thừa Phật
Nam mô Giác Tưởng Phật
Nam mô Hỷ Trang Nghiêm Phật
Nam mô Hương Tế Phật
Nam mô Hương Tượng Phật
Nam mô Chúng Diệm Phật
Nam mô Từ Tướng Phật
Nam mô Diệu Hương Phật
Nam mô Khiên Khải Phật
Nam mô Oai Đức Mãnh Phật
Nam mô Châu Khải Phật
Nam mô Nhơn Hiền Phật
Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát
Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.
Lại quy y như vậy mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo.
Chương Mười Ba: Tổng Phát Đại Nguyện
Ngày nay, Đại chúng trong Đạo tràng lại cùng nhau nhờ công đức nhân duyên sám hối, phát tâm, nguyện cho mười phương tận hư không giới hết thảy Thiên chủ, hết thảy chư Thần, quyến thuộc của chư Thiên, nguyện cho Tiên chủ, hết thảy chân Tiên, quyến thuộc của chân Tiên; nguyện cho Phạm vương, Đế thích, Hộ thế Tứ thiên vương, Thần vương, Thần tướng và quyến thuộc của các vị ấy; nguyện cho các vị thông minh chánh trực, thiên địa hư không, chủ thiện phạt ác, thủ hộ trì chú, hết thảy Thần vương, hết thảy Thần tướng và quyến thuộc của các vị ấy; nguyện các vị Diệu hóa Long vương, đầu hóa đề Long vương, Ngũ phương Long vương, Long Thần bát bộ, bát bộ Thần vương, bát bộ Thần tướng và quyến thuộc của các vị ấy; nguyện cho A tu la vương, hết thảy Thần vương, hết thảy Thần tướng và quyến thuộc của các vị ấy; nguyện cho nhân đạo hết thảy nhân vương, thần dân tướng soái và quyến thuộc của các vị ấy; lại nguyện cho mười phương Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma na, Sa di, Sa di ni và quyến thuộc của các vị ấy; nguyện cho Diêm la vương, Thái sơn phủ quân, Ngũ đạo Đại thần, mười tám ngục vương, hết thảy Thần vương, hết thảy Thần tướng và quyến thuộc của các vị ấy; lại nguyện cho hết thảy chúng sinh trong đường địa ngục; hết thảy chúng sinh trong đường ngã quỷ, hết thảy chúng sinh trong đường súc sinh và quyến thuộc của mỗi loài ấy; lại nguyện cho hết thảy chúng sinh hoặc lớn, hoặc nhỏ, cùng tận đời vị lai trong mười phương, tận hư không giới và quyến thuộc của các chúng sinh ấy; lại nguyện cho hết thảy chúng sinh đời sau này nếu trái với lời đại nguyện hôm nay, tất cả đều được trở lại trong bể đại nguyện này, mỗi mỗi đều đầy đủ công đức trí tuệ.
Những chúng sinh như vậy vô cùng vô tận ở trong ba cõi hay ngoài ba cõi, nhiếp thuộc vào danh sắc và có Phật tánh thì ngày nay đệ tử… mong nhờ sức đại từ đại bi của mười phương tận hư không giới hết thảy chư Phật, mong nhờ bổn thệ nguyện lực, vô lượng vô tận trí tuệ lực, vô lượng vô tận công đức lực, mong nhờ phù hộ chúng sinh lực, an ủy chúng sinh lực, tận chư Thiên chư Tiên lậu lực; nhiếp hóa nhất thế thiện thần lực, cứu bạt nhất thế địa ngục lực, tế độ nhất thế ngã quỷ lực; độ thoát nhất thế súc sinh lực của chư Phật, chư Đại Bồ tát và hết thảy Thánh Hiền, mong nhờ những năng lực ấy làm cho hết thảy chúng sinh đều được như nguyện.
Ngày nay đệ tử tên… lại mong nhờ năng lực của Từ bi Đạo tràng, năng lực quy y Tam bảo, năng lực tịnh nghi sanh tín, năng lực sám hối phát tâm, năng lực giải oan thích kiết, năng lực tự khánh hoan hỷ, năng lực hớn hở chí tâm, năng lực phát nguyện hồi hướng thiện căn, làm cho hết thảy chúng sinh đều được như nguyện.
Ngày nay đệ tử chúng con… lại mong nhờ năng lực đại từ tâm của bảy Đức Phật, năng lực đại bi tâm của mười phương chư Phật, năng lực diệt trừ phiền não của ba mươi lăm đức Phật, năng lực hàng phục ma quân của năm mươi ba đức Phật, năng lực độ sanh của một trăm bảy chục đức Phật, năng lực nhiếp thọ chúng sinh của một ngàn đức Phật, năng lực che chở chúng sinh của mười hai vị Bồ tát, năng lực lưu thông Sám pháp của Vô Biên Thân Bồ tát và của Quán Thế Âm; nguyện khiến cho tất cả chúng sinh ở trong mười phương, ba cõi, sáu đường, cùng tận đời vị lai, hoặc lớn hoặc nhỏ, hoặc thăng hoặc giáng nhiếp thuộc vào danh sắc có Phật tánh, sau ngày sám hối này rồi đều được thân như thân chư Phật, chư Đại Bồ tát thân có trí tuệ rộng lớn, không thể nghĩ bàn; thân có vô lượng lực tự tại, thân lục độ, chánh hướng bồ đề, thân tứ nhiếp nhiếp thọ hết thảy chúng sinh, thân đại bi diệt trừ tất cả tội khổ, thân đại từ, cho tất cả an vui, thân công đức lợi ích cho tất cả; thân trí tuệ, thuyết pháp không cùng tận; thân kim cang vật không thể phá hoại thân; thanh tịnh xa lìa sanh tử; thân phương tiện hiện thần lực tự tại; thân bồ đề tùy hết thảy thời gian mà hiện ra ba thân bồ đề (5).
Nguyện cho tất cả chúng sinh trong tứ sanh lục đạo đều được đầy đủ thân như vậy, thành tựu hoàn toàn thân vô thượng đại trí tuệ của chư Phật.
Lại nguyện cho hết thảy chúng sinh trong mười phương từ nay trở đi, sanh ra nơi nào cũng như chư Phật và Bồ tát đều được miệng có công đức bất khả tư nghị; miệng nói lời như nhuyễn; làm an vui tất cả chúng sinh; miệng như nước cam lồ, làm mát mẻ hết thảy chúng sinh; miệng không nói lời hư dối, nói lời chân thật; miệng nói lời uyển chuyển đúng như sự thật, dầu trong mộng cũng không có nói lời hư dối; miệng được tôn trọng; Phạm vương Đế thích, Tứ thiên vương đều cung kính tôn trọng; miệng nói pháp thậm thâm, giải rõ pháp tánh; miệng nói lời kiên cố, nói pháp bất thối; miệng nói lời ngay thẳng, đầy đủ tài hùng biện; miệng trang nghiêm, hay tùy thời, tùy nghiệp mà thị hiện cùng khắp; miệng của đấng Nhất thế trí hay tùy theo tất cả chúng sinh đáng độ thoát thì độ thoát ngay.
Nguyện cho tất cả chúng sinh trong bốn loài, sáu đường đều được khẩu nghiệp hoàn toàn thanh tịnh như chư Phật và Bồ tát.
Lại nguyện cho tất cả chúng sinh trong mười phương, từ nay trở đi, sanh ra nơi nào đều được như chư Phật và Bồ tát; có tâm đại sáng suốt, trí tuệ không thể nghĩ bàn; tâm thường nhàm chán phiền não, xa lìa phiền não; tâm mãnh lợi, tâm kiên cường, tâm kim cang, tâm bất thối, tâm thanh tịnh, tâm minh liễu, tâm cầu thiện, tâm trang nghiêm, tâm quảng đại, có sức đại trí tuệ, nghe được chánh pháp liền tự hiểu rõ; tâm hiền từ đến với người, đoạn trừ oán kết, thường biết sỉ nhục, thường biết hổ thẹn, không chấp chơn ngã đồng xem nhau như thiện tri thức. Tâm thấy có người tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ đều sanh tâm hoan hỷ; oán thân bình đẳng, tâm không kiêu mạn, không nói việc thiện ác, xấu tốt của người; không tuyên truyền bỉ thử hòa hiệp phân ly của người; lời nói mềm mỏng, không ác độc, tán thán công đức của Phật; ưa đọc kinh điển cao sâu thương xót che chở chúng sinh như thương mình không khác; thấy người làm phước không phỉ báng; tâm nhân từ hòa hiệp như các Thánh nhân, đồng với Bồ tát, thành bậc Chánh giác.
Chương Mười Bốn: Lễ Phật Thế Các Cõi Trời
Ngày nay, Đại chúng trong Đạo tràng biết rằng chư Thiên, chư Tiên, hết thảy Thiện thần đối với chúng sinh có vô lượng ơn đức, không thể nghĩ bàn; các Ngài muốn cho chúng sinh an vui mãi mãi, thương xót chúng sinh, ân cần, phù hộ, chỉ biết làm lành cho chúng sinh mà thôi.
Vì sao mà biết?
Vì theo sắc lệnh của Phật thì Phật dạy các vị: Đề đầu Lại tra tứ thiên vương nên có từ tâm ủng hộ người trì kinh, khiến người nghe danh hiệu Đấng Từ bi, như quần thần hộ Thiên tử vậy.
– Lại sắc hải long Y bạt la nên có từ tâm ủng hộ người trì kinh như giữ tròng mắt, thương con đỏ, ngày đêm sáu thời không xa lìa.
– Lại sắc Diêm bà la sát tử vô số độc long và long nữ nên có từ tâm ủng hộ người trì kinh, như quý đầu não không dám động chạm.
– Lại sắc Tỳ Lưu Lặc Ca Vương nên có từ tâm ủng hộ người trì kinh, như mẹ hiền thương con lòng không chán, ngày đêm ủng hộ, đứng ngồi như nhau.
– Lại sắc Nan Đà, Bạt Nan Đà, Ta Già La Vương, Ưu Ba Đà, nên có từ tâm ủng hộ người trì kinh, cung kính cúng dường, đảnh lễ sát đất; cũng như chư Thiên thờ Đế thích; cũng như con thảo thờ cha mẹ.
Đạo tràng từ bi thí an vui, dạy chúng sinh thân cận Phật Pháp, đời sau ở trước Phật nhập Tam muội, quyết định được pháp bất thối chuyển. Nếu nghe được danh hiệu Đức Phật và của các Ngài Vô Biên và Quán Thế Âm thì ba chướng đều tiêu trừ, ác nghiệp cũng hết, ngũ nhãn (6) đầy đủ, chứng quả bồ đề. Các Thiên, thần vương thương tất cả và thường hay ủng hộ, giúp oai thần.
Ngày nay, Đại chúng trong Đạo tràng, biết chư Thiên, Thần, Vương có ơn đức che chở như vậy mà chúng sinh chưa từng phát tâm nhớ tưởng báo đáp ơn đức ấy.
Cổ nhân còn có thể xả thân chỉ vì nhớ ơn của một bữa cơm no lòng. Huống chi chư Thiên, chư Thần, bát bộ Thần vương, bát bộ Thần tướng đối với chúng sinh có ơn đức thế ấy! Công đức ơn huệ này rộng lớn vô cùng, không bờ bến.
Chúng con ngày nay sám hối phát tâm v.v… đều nhờ ơn các vị Thiên vương ấy thầm gia hộ thần lực giúp đỡ cho kẻ tu hành, khiến thiện tâm được thành tựu. Nếu các Ngài không hộ trợ thì những thiện tâm ấy đã thối chuyển sớm mất rồi.
Bởi thế nên các vị Đại Bồ tát ma ha tát thường tán thán thiện tri thức là nhân duyên rất lớn, hay khiến chúng con thẳng đến Đạo tràng. Nếu không có thiện tri thức chúng con làm sao thấy được Phật, vậy nên dù tan xương nát thịt cũng không thể báo đáp lòng từ rộng lớn ấy; cũng không thể báo đáp thâm ơn cao cả ấy.
Các vị Bồ tát ma ha tát còn tỏ lời cám ơn như vậy, huống gì những hạng dưới hàng Bồ tát, thấp kém hơn mà không biết lo báo ơn sao? Chúng con cùng nhau hết sức vận tâm tri ân báo ân, không thể bỏ qua sau ăn năn không kịp.
Như trong phần Tự Vui Mừng ở đoạn trước đã nói rằng: được tái ngộ trùng phùng là khó, khó được kết quả như ngày nay, còn muốn đợi gì nữa mà không lo báo ơn.
Như hội sám hối này rồi thì biết hội nào gặp lại.
Vậy nên dõng mãnh hy sinh vì người; sự thành có bại, xuân qua đông về, thời gian biến chuyển, không chờ đợi một ai. Nhân mạng vô thường, chỉ sống trong hơi thở đâu có lâu dài! Nghĩ lại, một phen này xa nhau, biết bao giờ gặp lại.
Mọi người nên nỗ lực, nhất tâm tha thiết năm vóc sát đất, đầu thành đảnh lễ, nguyện xin thay thế hết thảy thiên chủ, hết thảy chư Tiên, và quyến thuộc của các vị ấy, khắp mười phương, tận hư không giới mà quy y kính lễ thế gian Đại từ bi phụ:
Nam mô Di Lặc Phật
Nam mô Thích Ca Mâu ni Phật
Nam mô Thiện Thệ Nguyệt Phật
Nam mô Phạm Tự Tại Vương Phật
Nam mô Sư Tử Nguyệt Phật
Nam mô Phước Thành Đức Phật
Nam mô Chánh Chủ Phật
Nam mô Vô Thắng Phật
Nam mô Nhật Quang Phật
Nam mô Bảo Danh Phật
Nam mô Đại Tinh Tấn Phật
Nam mô Sơn Quang Vương Phật
Nam mô Thế Minh Phật
Nam mô Điện Đức Phật
Nam mô Đức Tụ Vương Phật
Nam mô Cúng Dường Danh Phật
Nam mô Pháp Tán Phật
Nam mô Bảo Ngữ Phật
Nam mô Cứu Mạng Phật
Nam mô Thiện Chúng Phật
Nam mô Định Ý Phật
Nam mô Hỷ Thắng Vương Phật
Nam mô Sư Tử Quang Phật
Nam mô Phá Hữu Ám Phật
Nam mô Chiếu Minh Phật
Nam mô Thượng Danh Phật
Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát
Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.
Lại quy y như vậy mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo. Nguyện xin Tam bảo dủ lòng từ bi, đồng gia tâm nhiếp thọ; nguyện cho mười phương tận hư không giới hết thảy Thiên chủ, hết thảy chư Thiên và quyến thuộc của các vị ấy, hiện tiền thường không huệ bình đẳng, được sức trí tuệ phương tiện khai thác vô lậu đạo; hạnh nguyện thập địa đều được ngày càng sáng tỏ, tâm tu lục độ, tứ đẳng, thật hành Bồ tát đạo, vào Phật hành xứ (7) do tứ hoằng thệ nguyện, không bỏ chúng sanh; biện tài vô ngại, lạc thuyết vô cùng (8) quyền xảo hóa độ, lợi ích chúng sanh; đồng lên Pháp vân, chứng quả thường trú.
Chương Mười Lăm: Lễ Phật Thế Các Vị Tiên
Ngày nay, Đại chúng trong Đạo tràng đều nên chí tâm một lòng tha thiết đầu thành đảnh lễ Tam bảo, nguyện vì hết thảy Tiên chủ, hết thảy Chơn Tiên và quyến thuộc của Tiên, cùng khắp mười phương tận hư không giới mà quy mạng kính lễ thế gian Đại từ bi phụ:
Nam mô Di Lặc Phật
Nam mô Thích Ca Mâu ni Phật
Nam mô Lợi Huệ Vương Phật
Nam mô Châu Nguyệt Quang Phật
Nam mô Oai Quang Vương Phật
Nam mô Bất Phá Luận Phật
Nam mô Quang Minh Vương Phật
Nam mô Châu Luân Phật
Nam mô Thế Sư Phật
Nam mô Các Thủ Phật
Nam mô Thiện Nguyệt Phật
Nam mô Bảo Diệm Phật
Nam mô La Hầu Thủ Phật
Nam mô Lạc Bồ Đề Phật
Nam mô Đẳng Quang Phật
Nam mô Chí Tịch Diệt Phật
Nam mô Thế Tối Diệu Phật
Nam mô Vô Ưu Phật
Nam mô Thập Thế Lực Phật
Nam mô Hỷ Lực Vương Phật
Nam mô Đức Thế Phật
Nam mô Đại Thế Lực Phật
Nam mô Công Đức Tạng Phật
Nam mô Chơn Hạnh Phật
Nam mô Thượng An Phật
Nam mô Đề Sa Phật
Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát
Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát
Lại quy y như vậy, mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo.
Nguyện xin Tam bảo dủ lòng từ bi, đồng gia tâm nhiếp thọ, nguyện cho các Tiên chủ, hết thảy Chơn tiên và quyến thuộc của Tiên đều được giải thoát khách trần phiền não (9) đều được thanh tịnh, hết các duyên chướng ngại, đều được diệu sắc trạm nhiên như thân tướng của Phật; tứ vô lượng tâm, lục Ba la mật thường được hiện tiền, tứ vô ngại trí, lục thần thông lực đều được tự tại như ý; ra vào, dạo chơi cảnh giới Bồ tát, lên Pháp vân địa, vào Kim cang tâm; dùng sức thần thông bất khả tư nghị, trở lại độ thoát hết thảy sáu đường chúng sanh.
Chương Mười Sáu: Lễ Phật Thế Các Vị Trời Phạm Vương, Đế Thích V.V…
Ngày nay, Đại chúng trong Đạo tràng lại chí thành đảnh lễ Tam bảo, nguyện vì các vị trời Phạm vương, trời Đế Thích, Hộ thế tứ Thiên vương và quyến thuộc của các vị trời ấy mà quy y thế gian Đại từ bi phụ:
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Thích Ca Mâu ni Phật.
Nam mô Đại Quang Phật.
Nam mô Điện Minh Phật.
Nam mô Quảng Đức Phật.
Nam mô Trân Bảo Phật.
Nam mô Phước Đức Minh Phật.
Nam mô Tạo Khải Phật.
Nam mô Thành Thủ Phật.
Nam mô Thiện Hoa Phật.
Nam mô Tập Bảo Phật.
Nam mô Đại Hải Phật.
Nam mô Trì Địa Phật.
Nam mô Nghĩa Ý Phật.
Nam mô Thiện Tư Duy Phật.
Nam mô Đức Luân Phật.
Nam mô Bảo Quang Phật.
Nam mô Lợi Ích Phật.
Nam mô Thế Nguyệt Phật.
Nam mô Mỹ Âm Phật.
Nam mô Phạm Tướng Phật.
Nam mô Chúng Sư Thủ Phật.
Nam mô Sư Tử Hạnh Phật.
Nam mô Nan Thí Phật.
Nam mô Ứng Cúng Phật.
Nam mô Minh Oai Đức Phật.
Nam mô Đại Quang Vương Phật.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.
Lại quy y như vậy mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo.
Nguyện xin Tam bảo dủ lòng từ bi, đồng gia tâm nhiếp thọ, nguyện cho các vị Trời Phạm vương Đế Thích, Hộ Thế Tứ Thiên vương và quyến thuộc của các vị ấy được các pháp lục độ, tứ đẳng, ngày càng sáng tỏ, tứ vô ngại biện lạc thuyết vô cùng, được bát tự tại (10) đủ lục thần thông tam muội và tổng trì móng tâm liền có, từ bi bủa khắp, bách phước trang nghiêm, vạn thiện viên mãn, tam đạt sáng suốt, ngũ nhãn hoàn toàn, làm Chuyển luân pháp vương (11) nhiếp hóa lục đạo chúng sanh.
TỪ BI ĐẠO TRÀNG SÁM PHÁP
QUYỂN THỨ BẢY
— HẾT —
1 Biên địa: Nơi không có Phật pháp, thường không biết lễ nghi, không có văn hóa, mỹ tục, trái với Trung quốc là nơi thường có Phật pháp, có lễ giáo.
2 Trường thọ thiên: Cõi trời Phi phi tưởng, cõi cuối cùng của vô sắc giới, không có Phật pháp, hay đọa tà kiến, ngoại đạo.
3 Tà kiến: Nhận thức sai lầm, không tin nhân quả, luân hồi, hay hủy báng Tam bảo, hay theo ngoại đạo.
4 Thế trí biện thông: Biện tài ngôn thuyết lanh lợi theo trí thế gian, bênh vực sự không tin của mình.
5 Tam thân Bồ đề: Tức ba thân của Phật đã chứng được: 1- Pháp thân, 2- Báo thân, 3- Ứng thân.
6 Ngũ nhãn: Nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn. Năm thứ mắt nhận thấy có năm sức lực sai khác nhau.
7 Phật hành xứ: Cảnh giới của Phật.
8 Lạc thuyết vô cùng: Hoan hỷ nói pháp, không bao giờ cùng tận. Một món biện tài trong 4 biện tài của chư Phật.
9 Khách trần phiền não: Phiền não làm nhiễm ô tâm tánh như bụi trần che gương lòng sáng suốt. Phiền não không phải vật.
10 Bát tự tại: 1- Một thân hay hiện làm nhiều thân. 2- Một thân nhỏ như bụi cát hay hiện đầy tam thiên đại thiên thế giới. 3- Thân to lớn cất lên rất nhẹ nhàng đến xa vô tận. 4- Hiện ra vô lượng thân theo vô số loại chúng sanh ở trong một quốc độ. 5- Các căn tai mắt dùng lẫn lộn được (như mắt có thể nghe, tai có thể ngửi, mũi có thể thấy). 6- Được tất cả các pháp mà tưởng như không có pháp nào. 7- Nói nghĩa một bài kệ trong kinh trải qua vô lượng kiếp cũng không hết nghĩa. 8- Thân biến khắp nơi như hư không.
Kiên cố bám víu, chỉ tạm bợ nên gọi là khách. Do mê lý tánh, gặp ngoại duyên kích thích tâm tánh phát động sanh ra phiền não. Nếu tịnh tâm tu hành thì phiền não hết.
11 Chuyển luân pháp vương: Ông vua chuyển bánh xe pháp của Phật (chính là Đức Phật).
Kinh Lương Hoàng Sám (Quyển 6)
Khám phá thêm những tri thức sâu sắc về Đạo phật và hành trình tu tập, sám hối qua các chương tiếp theo.
