Sám hối sáu căn: Ý nghĩa sâu sắc cho đời sống tâm linh

duc phat co phu nhan viec cau nguyen phatgiaoorgvn 2 1020 1319 1
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Trong Thiền Việt Nam, sự quay về với tâm mình không chỉ qua nghi thức mà còn qua việc nhận diện lỗi lầm ngay trong cuộc sống hằng ngày, qua sáu giác quan. Lời kinh gợi mở về việc từ vô lượng kiếp, con người đã lãng quên bản tâm chân chính, để những vọng tưởng dẫn lối. Khám phá cách tìm lại con đường giải thoát trên Website Chia sẻ Đạo Phật.

Việc buông bỏ những lầm mê và quay về với bản tâm là một điểm sáng tạo độc đáo của Thiền Việt Nam. Thay vì chỉ thực hành các nghi thức sám hối truyền thống như sám hối 108 hồng danh Chư Phật, Từ Bi Thủy Sám, Sám Dược Sư hay tụng Pháp Hoa, phương pháp sám hối sáu căn lại tập trung vào việc nhận diện và sám trừ lỗi lầm ngay trong đời sống hàng ngày, thông qua các giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Đây là những cửa ngõ tiếp xúc với thế giới bên ngoài, là nơi chúng ta thường xuyên sinh khởi lầm mê và tạo nghiệp.

Lời mở đầu của bài sám hối đã chỉ rõ: “Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay, bỏ mất bản tâm không biết chánh đạo”. Điều này ám chỉ rằng, từ vô lượng kiếp về trước, chúng ta đã chìm đắm trong mê lầm, đánh mất tâm gốc, không nhận biết được con đường chân chính để tu hành, mà lại đi theo những lối lầm lạc của thế gian. Cuộc sống theo những vọng tưởng hư dối đã khiến chúng ta quên mất bản tâm, quên mất đâu là con đường chánh đạo.

Vậy, bản tâm hay tâm gốc là gì? Nhiều người có lẽ chỉ nghe nói về nó qua lời giảng của chư Phật, chư Tổ, hay quý thầy, quý cô, chứ chưa thực sự nhận biết. Thực tế, ai cũng có bản tâm, nhưng vì chúng ta luôn sống với những tâm vọng tưởng, những tâm hư dối – tức là tâm ngọn – nên bị che lấp. Phật đã nói chúng sanh sống mất gốc là vì lẽ đó. Chúng ta không biết chuyện nhà mình (bản tâm), nhưng lại hay biết chuyện người ta, chuyện đâu đâu, chuyện xa xôi, đó chính là sự lầm mê.

Suốt bao đời, sáu căn của chúng ta đã chạy theo sáu trần bên ngoài: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Việc chạy theo những cảnh trần bên ngoài này đã kéo chúng ta ngày càng xa rời tâm gốc. Nếu giờ đây hỏi bản tâm là gì, nhiều người sẽ cảm thấy xa lạ, như thể nó ở một nơi nào đó, không liên quan gì đến mình. Ngược lại, khi hỏi về những cảm xúc như buồn, vui, giận, ghét, chúng ta lại thấy chúng gần gũi và rõ ràng hơn. Đây mới là điều đáng buồn.

Câu chuyện ví dụ về người con hoang đàng trong Kinh Pháp Hoa: người con bỏ cha giàu có đi lang thang, khổ sở tìm cầu ăn mặc, trong khi người cha giàu có vẫn luôn có kho báu để con kế thừa. Chúng ta cũng vậy, có tâm gốc chân thật nhưng lại bỏ đi lang thang theo sáu trần, tìm cầu những hiểu biết hạn cuộc, được rồi mất, mất rồi lại tìm, thật là lầm mê. Pháp sám hối sáu căn này chính là lời nhắc nhở chúng ta hãy thức tỉnh, quay về ngay nơi thấy, nghe, hiểu biết hàng ngày của sáu căn. Bởi lẽ, mê lầm từ sáu căn dẫn ra sáu trần, tạo nghiệp luân hồi, thì con đường trở về cũng phải từ sáu căn này. Sám hối là để ăn năn, hối lỗi, và quay về với bản tâm chân thật.

1. Sám hối căn mắt: “Lầm nhận hoa giả, quên ngắm trăng thật”.

“Hoa giả” ở đây chỉ những hình sắc bên ngoài, còn “trăng thật” là bản tâm của chúng ta, là gốc rễ chân thật. Chúng ta thường lầm nhận cái giả, cái bóng, chạy theo những sắc tướng vô thường bên ngoài mà quên mất tánh thấy hằng hữu của mình. Khi thấy chiếc xe, ta chỉ nhớ chiếc xe; thấy ngôi nhà, ta chỉ nhớ ngôi nhà; thấy bất cứ thứ gì, ta chỉ nhớ thứ đó mà quên mất rằng mình có tánh thấy, tánh nghe. Đó là quên gốc.

Sám hối ngay nơi căn mắt là để học cách nhận biết ngay khi thấy biết, cái thấy đó là gì. Nếu chỉ biết thấy, thì ngay đó chân tâm đã hiện tiền, sáng ngời, không cần phải đi cầu một cái biết nào khác. Nếu cứ bám theo các tướng bên ngoài, khởi lên yêu ghét, phân biệt tốt xấu, là lầm. Điều này làm mờ đi con mắt chánh kiến, bị những sắc tướng bên ngoài làm lệch lạc cái nhìn chân chánh. Như lời dạy: “Lòa mắt chưa sanh, bản lai diện mục”.

Điều này có nghĩa là làm lòa mắt tâm, khiến chúng ta không thấy được cái “chưa sanh” của mình, tức là bản lai diện mục, bộ mặt thật của chính mình. Vì chạy theo những bóng dáng, những hình tướng bên ngoài, con mắt trí tuệ của chúng ta bị lòa đi, không thấy được lẽ thật này. Chúng ta gọi đó là “quên mình theo vật”. Khi sám hối, chúng ta được nhắc nhở nhớ lại tánh thấy luôn hiện hữu, dù có sắc hay không có sắc, nó vẫn thấy, vẫn tồn tại. Trong khi đó, con mắt thịt không tự mình thấy được. Cần phải nhớ kỹ điều này.

Đa số mọi người lầm tưởng rằng chính con mắt thấy. Nhưng thực tế, con mắt có tự thấy không? Nếu con mắt thấy, thì người chết mắt vẫn còn đó, tại sao không thấy? Vậy nên, nói con mắt thấy là không đúng.

Vậy, cái gì thực sự thấy chứ không phải là con mắt? Thí dụ, khi bật đèn, đèn sáng. Nhưng sự thật, đèn chỉ là vật phát sáng, nguồn sáng đến từ điện. Nếu đèn hư, ta có thể thay đèn khác. Tương tự, nếu mắt có tật, thay thủy tinh thể thì mắt lại sáng rõ. Vậy, cái gì khi đối diện với sắc liền biết thấy ngay, không cần cố gắng, không cần suy nghĩ? Quý vị thử nghĩ xem, khi ta vừa nhìn thấy một vật gì đó, ta liền biết ngay mà không cần suy nghĩ. Sau đó, mới có thêm những yếu tố khiến cái biết đó phân biệt đẹp-xấu, dài-ngắn… Đây là điểm cốt yếu mà chúng ta thường bỏ quên.

Hằng ngày chúng ta tụng sám hối, nhưng thực chất chưa thực sự sám hối. Vì vậy, các bậc Tổ sư dạy sám hối sáu căn để nhắc nhở chúng ta sống trở lại ngay nơi căn mắt, điều này mang lại lợi ích vô cùng lớn.

Khám phá: Hoa Ưu Đàm và Hoa Vô Ưu: Lời Giải Mã Bí Ẩn Linh Thiêng

2. Sám hối căn tai: “Ghét nghe Chánh pháp, thích lắng lời tà, mê mất gốc chơn, đuổi theo ngoại vọng”

Chúng ta thích nghe những lời tà vạy bên ngoài mà quên mất gốc chân thật, tức là tánh nghe hằng hữu. Từ đó, chúng ta đuổi theo những âm thanh hư vọng bên ngoài, còn tánh nghe luôn sẵn có thì lại không nhớ tới.

Sám hối nghiệp căn tai là để nhắc nhở chúng ta nhớ lại tánh nghe luôn có mặt, luôn hiện hữu. Dù có tiếng hay không có tiếng, nó vẫn nghe. Khi có tiếng, ta biết có tiếng; khi không có tiếng, ta biết không có tiếng. Cái biết này không thuộc về tiếng, cũng không thuộc về lỗ tai, nó luôn sáng ngời. Đây là nơi chúng ta sám hối để quay về. Sám hối được như vậy thì thật là vi diệu.

Có một câu chuyện về Thiền sư Vô Trụ đang luận đạo với Tướng quốc Đỗ Hồng Tiệm. Khi đó, có một con quạ đậu trên cành cây trước sân và kêu. Tướng quốc hỏi: “Thầy có nghe chăng?”. Thiền sư đáp: “Nghe”. Một lúc sau, con quạ bay đi. Tướng quốc lại hỏi: “Bạch thầy! Giờ thầy có nghe chăng?”. Thiền sư vẫn đáp: “Nghe”. Tướng quốc bèn hỏi: “Con quạ đã bay đi mất rồi, không còn tiếng kêu, vậy tại sao thầy lại nói nghe? Vậy thầy nghe cái gì?”.

Thiền sư Vô Trụ liền tập hợp đại chúng và nhắc nhở: “Phật ra đời rất khó gặp, pháp cũng khó nghe, các ông hãy lắng nghe cho kỹ. Bởi lẽ, có tiếng hay không tiếng chẳng ảnh hưởng gì đến tánh nghe. Xưa nay tánh nghe chẳng sanh thì đâu từng có diệt. Khi có tiếng, thinh trần tự sanh, chứ không phải tánh nghe sanh. Khi không tiếng, thinh trần tự diệt. Vậy có sanh có diệt là do tự nơi tiếng, còn tánh nghe đâu có sanh diệt. Bởi tánh nghe này chẳng nhân nơi tiếng mà có sanh có diệt. Nếu ngộ được tánh nghe này thì liền khỏi bị thinh trần chi phối. Phải biết tánh nghe vốn không sanh diệt, đến đi”.

Ngài nhấn mạnh để mọi người chú tâm nhận biết rằng việc gặp Đức Phật ra đời là vô cùng khó khăn, chánh pháp cũng rất khó nghe. Những điều này không dễ gì được nghe. Quý Phật tử có duyên lành gần gũi quý thầy, quý cô, nghe giảng và được nhắc nhở những điều này, có lẽ cảm thấy quen thuộc. Tuy nhiên, nếu quán xét kỹ, quý vị sẽ thấy rằng trong thế giới luân hồi sinh tử hiện nay, vẫn còn hàng tỷ chúng sanh chưa từng được nghe những lời dạy này. Đây không phải là điều dễ dàng có được.

Hãy nghĩ đến những loài côn trùng, chim chóc, hay những con người sống ở những vùng xa xôi, chưa từng gặp Phật pháp, làm sao họ có thể nghe được những điều này? Chúng ta đôi khi nghe quen nên thấy nó bình thường, thành ra ít chú tâm.

Vì vậy, Ngài nói đại chúng phải thấy được ý nghĩa đó và nhắc nhở mỗi người cùng sám hối để trở về cội gốc. Nếu không, chúng ta chỉ lo đuổi theo những âm thanh hay dở bên ngoài, rồi khen chê, mà quên mất gốc chân thật của mình.

Sám hối như vậy mới thực sự đầy đủ ý nghĩa. Hằng ngày, chúng ta vừa lễ sám hối xong, đã vội nghe rồi phân biệt, khen chê, hay dở ngay. Chúng ta cần phải nhớ điều này: luôn luôn tỉnh giác mới thực là sám hối. Đây chính là con đường tu tập thực tế, giúp chúng ta thực hành mỗi ngày.

3. Sám hối nghiệp căn mũi: “Thường tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào, chẳng thích chân hương, năm phần thanh tịnh”

Điều này có nghĩa là chúng ta thích theo những mùi lạ, mùi thơm nức, mà lại không thích “chân hương” – tức là hương của Pháp thân thanh tịnh. Chúng ta chỉ nhớ đến mùi hương trần bên ngoài. “Trần” có nghĩa là bụi, và bụi này che lấp mất gốc chân thật. Lời dạy này nhắc nhở chúng ta phải nhớ lại, chớ để lỗ mũi bị lừa bởi những mùi thơm hay hôi bên ngoài.

Tìm hiểu thêm: Hạnh Phúc Nội Tại: Đủ Đầy Từ Bên Trong

Xưa kia, Phật dùng từ “hương trần” để chỉ những mùi hương thế gian. Dù nó có thơm đến đâu thì cũng là “trần”, là bụi. Hãy nhớ kỹ, đừng để lỗ mũi lừa gạt mình. Đa số mọi người đều bị lỗ mũi lừa. Khi ngửi được một mùi hương, ta liền cho rằng đó là do lỗ mũi ngửi được.

Sự thật, lỗ mũi chỉ là những miếng thịt hợp lại, làm sao nó có thể tự mình ngửi được mùi? Hãy nhớ sống trở lại với tánh biết ngửi, vì đó là cái luôn hiện hữu nơi mình. Cái biết ngửi này không thuộc về lỗ mũi, cũng không thuộc về mùi hương. Tại sao chúng ta lại chỉ nhớ mùi, nhớ lỗ mũi, mà không nhận ra lẽ thật này?

Vì vậy, chúng ta cần phải sám hối nghiệp căn của mũi để nhắc nhở mình sống trở lại với tánh biết. Câu chuyện về Ông Hoàng Đình Kiên (Hoàng Sơn Cốc) học thiền với Thiền sư Hối Đường. Sau một thời gian dài, ông vẫn chưa tỏ ngộ. Một hôm, Thiền sư Hối Đường nhắc lại chuyện Khổng Tử dạy học trò: “Này các con! Các con cho là ta có giấu giếm gì với các con chăng? Không, ta không có gì giấu giếm các con hết”. Qua câu chuyện, Thiền sư muốn đánh thức ông, nhưng ông vẫn chưa rõ.

Ngày hôm ấy, Ngài dẫn ông lên núi chơi, đúng vào mùa hoa quế nở rộ, mùi thơm bay xa. Khi đó, Ngài Hối Đường hỏi: “Ông có ngửi được mùi hoa quế không?”. Ông đáp: “Ngửi biết”. Ngài Hối Đường nói: “Như vậy thì ta có giấu giếm gì ông đâu?”. Ý Ngài muốn nói rằng, khi ông đi đến đó, ông liền ngửi được mùi hương của hoa, điều này chứng tỏ cái biết đó đã sẵn có nơi ông. Ngài đâu có giấu giếm gì, lẽ thật nó ở ngay đó rồi.

Ngay lúc đó, ông tỏ ngộ. Sám hối mà nhớ được lẽ thật này thì rất là hay. Còn nếu chỉ nhớ mùi hoa quế mà quên mất lẽ thật, đó là lầm mê. Nếu nhớ lại được như vậy, thì hằng ngày, khi vào bếp, chúng ta đều có cơ hội để tỏ ngộ. Mỗi khi ngửi mùi thức ăn trong bếp, hãy nhớ rằng các bậc Giác ngộ đâu có giấu giếm gì chúng ta. Được như vậy, thì ngay trong căn bếp, tâm chúng ta cũng luôn sáng ngời.

Ngay nơi đó, chúng ta đã sám hối rồi. Đâu cần phải đợi đến khi lên bàn Phật tụng mới là sám hối. Nhiều khi lên bàn Phật tụng sám hối, nhưng khi gặp duyên đến lại quên mất, như vậy chưa đúng nghĩa sám hối.

Ý nghĩa sám hối sáu căn 2

Ảnh minh hoạ.

4. Sám hối nghiệp căn lưỡi: “Tham đủ mọi mùi, thích xét ngon dở”

Lưỡi chúng ta chạy theo đủ mọi mùi vị ngon dở, hôi thơm, và cứ xét cái này ngon, cái kia dở mà quên mất lẽ thật khi nếm vị. Nếu khi nếm vị, chúng ta chỉ biết cái gì đang nếm đó, thì ngay đó là chân tâm hiện tiền sáng ngời. Nhưng chúng ta lại không nhớ, không sáng suốt, mà chỉ lo nhớ đến cái lưỡi, nhớ đến mùi ngon dở, rồi theo đó khen chê, thành ra xa rời lẽ thật. Đây là sự quên mất gốc thật.

Lưỡi còn có công năng nói. Vừa nếm vị, vừa nói chuyện. Căn này rất dễ lừa gạt chúng ta. Khi nói, chúng ta chạy theo những lời bàn tán chuyện đâu đâu, gọi là “Bàn luận cổ kim, khen chê này nọ”. Chúng ta bàn chuyện xưa chuyện nay, rồi khen chê việc này việc nọ, và theo đó mà quên mất tánh biết đang hiện hữu là lẽ thật nơi mình.

Trước khi nói, tánh biết luôn có mặt, hiện hữu nơi mình, nhưng chúng ta lại quên mất.

Vì vậy, Ngài Huệ Hải đến cầu Mã Tổ học đạo. Mã Tổ hỏi: “Đến đây cầu việc gì?”. Đáp: “Cầu Phật pháp”. Mã Tổ khai thị: “Kho báu nhà mình không chịu nhận, mà lại đi cầu người khác để làm gì?”. Huệ Hải hỏi: “Thế nào là kho báu nhà mình của Huệ Hải?”. Mã Tổ dạy: “Chính cái ông đang hỏi ta đó là kho báu của ông, đầy đủ không thiếu sót”.

Xem thêm: Hà Nội lung linh Xá Lợi Phật thiêng: Lễ rước và an vị 100 bảo tháp độc đáo

Ý Ngài Mã Tổ muốn nói rằng, ngay cái ông đang hỏi ta mới là kho báu của ông. Nhưng ông cứ quên cái đó, mà lại đi hỏi cái gì, đi cầu những cái hiểu của ông thầy nói ra để nhận lấy. Còn cái hiện tiền, gần gũi nơi mình thì lại bỏ quên. Cái ông đang hỏi ta mới là gốc. Còn việc cầu hiểu những lời của thầy thì đó là cái của thầy, sau này cũng trả lại cho thầy. Hoặc là những cái của Phật, của Tổ thì cũng trả lại cho Phật Tổ. Người dù có hay giỏi cách mấy, nói được thì cũng chỉ nói cái của Phật, của Tổ thôi, chưa phải là cái của chính mình. Còn cái mà ông đang hỏi ta là cái chính của ông, cái đó mới là cái gần gũi nhất.

Hôm nay, quý thầy nhắc để tất cả cùng nhớ trở lại chỗ đó. Sám hối như vậy là để nhớ lại chính mình.

5. Sám hối nghiệp căn thân: “Năm tạng trăm hài, cùng nhau kết hợp, chấp cho là thật, quên mất pháp thân”

Thân này do gân, xương, máu thịt kết hợp lại. Chúng ta chấp chặt vào nó là mình, mà quên mất pháp thân chân thật. Từ đó, sinh ra các hành vi dâm, sát, trộm. Tức là tạo các nghiệp sát sinh, trộm cắp, tà dâm… vì quên mất tánh chân thật của mình. Thực tế, ngay khi có sự tiếp xúc với vật, chúng ta liền biết ngay. Tánh biết này không thuộc về vật, cũng không thuộc về thân xác thịt, nhưng khi vừa chạm vào, nó đã biết.

Quý vị đang đi mà lỡ ai va chạm vào thì sao? Lúc đó, có cần phải suy nghĩ để biết không? Tại sao chúng ta không nhớ đến cái biết đó? Khi đó, chúng ta nhớ đến điều gì? Lúc đó, chúng ta chỉ biết phân biệt rằng người kia thô lỗ, vô lễ quá, rồi sinh tâm sân hận, buồn vui, quên mất cái chân thật đang có mặt. Nếu chúng ta nhớ lại, thì cái biết đó luôn luôn hiện hữu, sáng ngời, chạm đến đâu biết đến đó, từ đầu đến chân đều biết đủ hết.

Thiền sư Bàn Khuê đã dạy về tính hiện hữu này, Ngài gọi là “tâm Phật bất sinh” luôn luôn hiện hữu. Ngài còn ví dụ về công năng bẩm sinh của tâm Phật này: “Như khi bạn đang ngồi yên, bỗng ai dí vào tay mình một đốm lửa, ngay đó bạn liền giật mình và tự động rút tay lại không cần suy nghĩ. Điều này chứng tỏ tâm Phật vốn bất sinh, chiếu sáng kỳ diệu và nó dàn xếp mọi sự một cách hoàn hảo. Ngược lại, khi bạn nghĩ rằng vừa rồi là một đốm lửa, rồi nhận ra ngay đó là lửa nóng, liền tức giận kẻ nào đã đốt tay mình đây, thì khi đó chính bạn đã rơi vào kinh nghiệm phụ thuộc sau khi sự kiện đã xảy ra”.

Nghĩa là, sự kiện đã xảy ra rồi. Bây giờ chúng ta suy nghĩ về sự kiện đó, rồi lại nghĩ xem ai đó đang chơi khăm mình, sinh nóng giận. Từ đó, chúng ta che lấp mất cái chân thật. Vì vậy, sám hối căn thân là để nhớ lại lẽ thật, không chạy theo những xúc chạm bên ngoài, không tạo những nghiệp sát sinh, trộm cắp, tà dâm làm quên mất tánh chân thật này. Lúc nào cũng nhớ để sám hối trở về.

6. Sám hối nghiệp căn ý: “Nghĩ vơ nghĩ vẩn, không lúc nào dừng, mắc mứu tình trần, kẹt tâm chấp tướng”

Chúng ta lo nghĩ những chuyện đâu đâu, không đáng nên gọi là “nghĩ vơ nghĩ vẩn”. Vì chúng ta không làm chủ được tâm mình và nó không lúc nào dừng nghỉ. Ngay cả khi đang ngồi nghỉ, tâm có chịu nghỉ không? Nó vẫn tiếp tục nghĩ vơ nghĩ vẩn, không chịu dừng. Vì vậy, chúng ta bị mắc kẹt theo những tướng, theo tình trần, mà quên mất tánh biết đang hiện hữu nơi mình.

Trước khi suy nghĩ, tánh biết vẫn luôn sẵn có. Khi suy nghĩ, tánh biết có mặt sau đó. Nhưng hầu như chúng ta chỉ nhớ đến cái suy nghĩ mà quên mất cái có sẵn này. Đó là sự lầm mê. Vì vậy, người có học, có tu tập một chút, khi ngồi thiền, tâm có thể tạm yên lặng. Vừa có cái nghĩ khởi lên, họ liền biết được. Vì cái biết này có trước cái nghĩ, nên niệm vừa khởi lên là biết ngay.

Hiện nay, chúng ta quay về ngay nơi căn ý này để sám hối, để sống trở về với chỗ chân thật. Khi tâm có niệm tham, niệm sân khởi lên, chúng ta biết có niệm tham, niệm sân. Cái biết này có trước niệm tham, sân kia. Đừng lầm nhận những niệm tham, sân kia là mình.

Như vậy, rõ ràng đây là pháp sám hối quay về gốc chân thật.

Mong rằng những chia sẻ về ý nghĩa sâu sắc của việc sám hối sáu căn sẽ giúp quý vị có thêm hành trang trên bước đường tu tập và phát triển đời sống tâm linh của mình. Để tìm hiểu thêm về các giáo lý và thực hành trong Đạo phật, mời quý vị khám phá chuyên mục chính của chúng tôi.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang