Tổ đình Sắc tứ Vu Lan Đà Nẵng: Lịch sử hình thành và hành trình phát triển

to dinh vu lan 1 1549 1
0
(0)

Mùa Vu Lan, một dịp thiêng liêng bắt nguồn từ truyền thuyết “Đảo huyền” trong kinh Vu-Lan-Bồn, là thời điểm để con cháu thể hiện lòng hiếu thảo sâu sắc đến cha mẹ và tổ tiên. Khởi nguồn từ tấm gương chí hiếu của Tôn giả Mục-Kiền-Liên, lễ Vu Lan đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa tâm linh người Việt. Khám phá lịch sử hình thành và hành trình phát triển của Tổ đình Sắc tứ Vu Lan Đà Nẵng, một minh chứng sống động cho vai trò của ngôi chùa này trong Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng, cùng với những tư liệu Hán Nôm quý giá, sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc hơn về một di sản văn hóa – tín ngưỡng. Tìm hiểu thêm về Chiasedaophat.

Ý nghĩa cao cả của mùa Vu Lan

Vu-Lan, bắt nguồn từ Vu-Lan-Bồn và còn được gọi là Ô-lam-bà-noa, xuất phát từ Phạn ngữ Ullambana, mang ý nghĩa “Đảo huyền”, diễn tả nỗi khổ đau cùng cực. Theo kinh Vu-Lan-Bồn của Mật tông, “Vu-Lan là từ ngữ Tây Vực, nghĩa là Đảo huyền; Bồn là âm Đông Hạ, chỉ đồ dùng cứu chữa. Nói theo địa phương là Cứu đảo huyền bồn”. Mùa Vu Lan là dịp để mở rộng lòng từ bi, đền đáp bốn ơn lớn và cứu giúp ba đường khổ đau, thể hiện ý nghĩa cao thượng của đại lễ này.

Với tấm gương hiếu hạnh của Tôn giả Mục-Kiền-Liên, lễ Vu Lan đã ăn sâu vào tâm thức người Việt và nhân loại. Ngoài ý nghĩa tín ngưỡng dân gian Á Đông về việc xá tội vong nhân và mở cửa địa ngục, Vu Lan còn hàm chứa ý nghĩa thiêng liêng hơn: sự báo hiếu của con cái đối với cha mẹ và tổ tiên.

Chính vì lẽ đó, ý nghĩa ba chữ “Vu Lan tự” ra đời, không ngoài mục đích trên.

Qua các thư tịch cổ Hán Nôm còn lưu giữ tại chùa, chúng tôi xin trình bày lịch sử Tổ đình Vu Lan, làm sáng tỏ vai trò của ngôi chùa này đối với Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng vào cuối triều Nguyễn và giai đoạn đầu của phong trào chấn hưng Phật giáo.

Lịch sử hình thành và phát triển Tổ đình Sắc tứ Vu Lan – Đà Nẵng 1

Tổ đình Sắc tứ Vu Lan được người Pháp chụp khoảng thập niên 30.

Duyên khởi hình thành

Vào đầu thế kỷ XX, vùng đất Hòa Thuận còn nhiều hoang sơ, ruộng đất mênh mông, người dân lầm than dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Nỗi khổ đau đó thôi thúc họ tìm đến cửa Phật để gửi gắm niềm tin và cầu mong sự an lạc.

Theo một đoạn văn bia niên hiệu Khải Định nguyên niên (1916): “…Thành Thái thập ngũ, lục đẳng niên hợp tư tài giản, mãi thổ viên sung vật, đan bằng cấu tạo…” (Vào các năm Thành Thái thứ 15 và 16, chư bô lão đã cùng nhau góp tiền tư, mua một mảnh vườn nhỏ để kiến thiết Già Lam, nương nhờ cửa Phật. Với sự đồng ý và cúng dường của Tỉnh đường địa phương, nhất tâm cung thỉnh Hòa thượng Phạm Hưng Long, nguyên là Tăng mục chùa Tam Thai, làm vị khai sơn bổn tự). Đây là cột mốc quan trọng đánh dấu sự hình thành của Tổ đình Sắc tứ Vu Lan.

Lược sử hình thành và phát triển

Nhận thấy thắng cảnh Ngũ Hành là nơi hội tụ nhiều bậc Tăng tài, các vị đã nhất tâm cung thỉnh Hòa thượng Phạm Hưng Long làm Tổ sư khai sơn, dưới sự chứng tri của Đức Tăng cang Nguyễn Từ Trí. Văn bia ghi lại: “…Ngự chế Tam Thai – Linh Ứng nhị tự Sắc tứ Tăng Cang: Nguyễn Từ Trí Bổn sư, Sắc chuẩn trụ trì: Lê Từ Nhẫn, Nguyễn Phước Trí Bổn sư. Thùy tình nghĩ lượng, đồng đơn bẩm tự hậu thừa thương hứa tính cử. Tam Thai tự Tăng Mục Phạm Hưng Long vi trụ trì…

Giữa năm Thành Thái thứ 18 (1907), Hòa thượng Phạm Hưng Long, với sự hỗ trợ của Tú tài Hồ Tiên Phong, chính thức khởi công xây dựng chùa theo lối nhà ba gian hai chái. Năm Duy Tân thứ 3 (1910), dưới sự chứng minh của Tổ sư Từ Trí cùng các bảo tượng và pháp khí, ngài đã chú tạo quả đại hồng chung nặng 250 cân để phụng thờ lâu dài. Văn bia ghi lại: “…tú tài Hồ Tiên Phong tương trạch chí Thành Thái thập bát niên, Bính Ngọ trung kiến, Duy Tân tam niên, chú đại hồng chung tự thử tượng ảnh…”. Nhận được sự bảo hộ của quan Tổng Đốc Nam Ngãi kiêm Thái Tử Thiếu Bảo họ Hồ, vào năm Khải Định nguyên niên (1916), Hòa thượng đã đại trùng tu ngôi chùa.

Năm Giáp Tý (khoảng 1924), Tổ khai sơn viên tịch. Hòa thượng Tăng Cang Tôn Bảo được sơn môn cung thỉnh đảm nhiệm chức vụ Tự trưởng. Năm Bảo Đại thứ 3 (1928), Hòa thượng Tôn Bảo cùng các cư sĩ Phạm Vinh Lương, Ngô Văn Vân… trùng tu tiền đường, tăng xá, xây dựng nhà bia, với sự cúng dường của các quan lại và tín đồ từ các tỉnh phía Bắc, ngoại quốc. Mãi đến thập niên 1930, chùa mới hoàn thành việc dựng cổng tam quan. Năm Bảo Đại thứ 5 (1930), Hòa thượng Tôn Bảo được chính quyền công nhận lý bạ chùa Vu Lan, chính thức đăng ngôi vị Trụ trì, tiếp tục thế độ đồ chúng và truyền bá giáo lý.

Mùa thu năm Bảo Đại thứ 9 (1934), chùa Vu Lan vinh dự được triều đình ban sắc phong “Sắc Tứ”.

Năm Nhâm Thìn (1952), Hòa thượng Thích Tôn Bảo đúc quả hồng chung nặng 210 cân và một quả chuông gia trì, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Tăng Cang Thiện Quả và sự hộ chú của cư sĩ Trần Ngọc Lan. Năm Đinh Mùi (1967), chùa Vu Lan được trùng tu theo kiến trúc chùa hội. Năm 1973, Hòa thượng Thích Tôn Bảo đã chú tạo pho tượng Phật A Di Đà bằng đồng cao 1,2 mét.

Năm Giáp Dần (1974), Hòa thượng Thích Tôn Bảo viên tịch. Đệ tử của ngài là Hòa thượng Thích Như Nghĩa kế vị trụ trì. Năm 1995, Hòa thượng Thích Như Nghĩa trùng tu lại tam quan, hậu tổ và xây dựng tượng Quan Âm lộ thiên.

Năm 2010, do tuổi cao sức yếu, Hòa thượng Thích Như Thọ cùng môn phái Chúc Thánh đã đứng ra trùng tu Già Lam Vu Lan, xây dựng cổng tam quan mới, chú tạo Hồng chung nặng 1 tấn, đúc tượng Phật Thích Ca và nhị vị Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền, mang lại diện mạo huy hoàng cho ngôi chùa ngày nay. Năm 2012, Đại Lão Hòa Thượng Thích Như Nghĩa viên tịch. Năm 2013, Hòa thượng Thích Như Thọ được Giáo hội chuẩn y vào ngôi trụ trì Tổ Đình Vu Lan.

Hiện nay, Hòa thượng Thích Như Thọ vẫn luôn trăn trở trong việc trùng tu tiền đường, nhà giảng và tu bổ vườn tháp Tổ. Tổ Đình Sắc Tứ Vu Lan là một trong những nơi quy tụ của chư tôn đức môn phái Lâm Tế Chúc Thánh trong các dịp lễ húy kỵ, hội họp, an cư tự tứ. Dù được hình thành khá muộn và trong giai đoạn đất nước gặp nhiều biến động, nơi đây vẫn lưu giữ những tinh hoa về giá trị thẩm mỹ, tính độc đáo về nghệ thuật, mang đậm dấu ấn giao thoa giữa phong kiến và phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ.

Lịch đại trụ trì Tổ đình Vu Lan

Theo dòng chảy truyền thừa, Tổ Đình Sắc Tứ Vu Lan đã trải qua hơn một thế kỷ thăng trầm cùng biến thiên của xứ Đà Thành. Với 110 năm kiết tập an cư và giáo hóa chúng sinh, chùa đã có 4 đời trụ trì:

Lịch sử hình thành và phát triển Tổ đình Sắc tứ Vu Lan – Đà Nẵng 2

Lịch sử hình thành và phát triển Tổ đình Sắc tứ Vu Lan – Đà Nẵng 3

Long vị Tổ sư Hưng Long bằng đồng mạ bạc, hiện vật độc nhất của Phật giáo Đà Nẵng đang được bảo lưu tại tổ đường chùa Vu Lan.

Tư liệu văn bia

Chùa Vu Lan hiện còn lưu giữ 6 tấm bia. Trong đó, 4 tấm bia chính sẽ được trình bày chi tiết, hai tấm còn lại ghi danh công đức của thiện tín và không rõ niên hiệu (đã bị hư hại do quá trình xây dựng). Trước đây, các văn bia được ốp vào Bi đình. Sau năm 1967, Bi đình bị tháo dỡ để mở rộng chùa, các văn bia được ốp vào tường, chỉ duy nhất một tấm còn giữ trong nhà khuôn cũ.

a. Văn bia niên hiệu Khải Định nguyên niên (1916) [45x120cm]

Nguyên văn:

維新四年庚戌二月十九日 . 盂蘭寺本譜員聀並善信等.恭聞

有善心能行善事開扵始可继扵終忝等法派皈依頂称佛子窃念人從樂土事或赴公其朔望頂香懸䀡節礼有發心願立寺所方便䀡誠前奉佛聖後祀先靈於成泰十五六等年合私財揀買土園充物單憑構造承省堂炤例不許新設乃仝應将等項奉供.

御製三台靈應二寺敕賜僧綱阮慈智本師.敕準住持黎慈忍.阮福智本師.垂情擬量仝單.禀敍候承.商許併擧.三台寺僧目范興隆為住持叶同忝等兼領工作寺務秀才胡仙峰相擇至成泰十八年丙午中建維新三年鑄大銅鐘嗣此像影祀儀稍得贍用其辰出財力謹勒芳名以垂永久云.計.

太子少保南義總督胡命婦武夫人供二十五元並幢旛四幅.

十方善信供共銀壹百元零.化閨平順村供十元.

啓定元年秋諸譜員聀並善信誠心出財力重修增造誌 . 本譜仝録誌.

Phiên âm:

Duy Tân tứ niên, Canh Tuất, nhị nguyệt, thập cửu nhật. Vu Lan tự bổn phả viên chức tịnh thiện tín đẳng.

Cung văn.

Hữu thiện tâm năng hành thiện sự, khai ư thủy khả kế ư chung. Thiểm đẳng pháp phái quy y dự xưng Phật tử thiết niệm: nhân tùng Lạc độ, sự hoặc phó công kỳ sóc vọng đảnh hương huyền chiêm tiết lễ, hữu phát tâm nguyện lập tự sở phương tiện chiêm thành, tiền phụng Phật Thánh, hậu tế Tiên linh. Ư Thành Thái thập ngũ, lục đẳng niên, hợp tư tài giản, mãi thổ viên sung vật hạng, đơn bằng cấu tạo. Thừa Tỉnh đường chiêu lệ bất hứa tân thiết, nãi đồng ứng tương đẳng hạng phụng cúng.

Ngự chế Tam Thai – Linh Ứng nhị tự Sắc tứ Tăng Cang: Nguyễn Từ Trí Bổn sư, Sắc chuẩn trụ trì: Lê Từ Nhẫn, Nguyễn Phước Trí Bổn sư. Thùy tình nghĩ lượng đồng đơn bẩm tự hậu thừa thương hứa tính cử: Tam Thai tự Tăng Mục Phạm Hưng Long vi trụ trì, hiệp đồng thiểm đẳng kiêm lãnh công tác tự vụ, tú tài Hồ Tiên Phong tương trạch, chí Thành Thái thập bát niên, Bính Ngọ trung kiến. Duy Tân tam niên chú đại hồng chung, tự thử tượng ảnh, tự nghi sảo đắc thiệm dụng, kỳ thời xuất tài lực cẩn lặc phương danh dĩ thùy vĩnh cửu vân. Kê:

Thái tử thiếu bảo Nam – Ngãi Tổng đốc Hồ mạng, phụ Võ phu nhân cúng nhị thập ngũ nguyên tịnh tràng phan tứ bức.

Thập phương thiện tín cúng cộng ngân nhất bách nguyên linh. Hóa Khuê, Bình Thuận thôn cúng thập nguyên.

Khải Định nguyên niên thu, chư phả viên chức tịnh thiện tín thành tâm xuất tài lực trùng tu, tăng tạo chí. Bổn phả đồng lục chí.

Dịch nghĩa:

“Ngày 19 tháng 2 năm Canh Tuất, Duy Tân năm thứ 4. Bổn phả, viên chức cùng thiện tín chùa Vu Lan. Cung kính nói rằng:

Nếu có tâm thiện, nên phải làm việc thiện. Từ những khởi đầu đến cuối cùng, những người con Phật chúng tôi đã cùng quy y. Thiết niệm cho người đi về Lạc Bang hoặc đến các ngày mồng 1, rằm, dâng hương, viếng lễ, lại phát tâm nguyện lập chùa. Trước thì phụng thờ Phật tổ, sau là nơi lễ tiên linh. Vào các năm Thành Thái thứ 15, 16 cùng quyên góp tiền tư, chọn mua mảnh vườn làm vật ít ỏi, dâng đơn xin phép xây dựng. Tỉnh đường xét theo lệ, không đồng ý xây mới, bèn cùng thưa sẽ phụng cúng đầy đủ các phẩm hạng.

Ngự chế 2 chùa Tam Thai – Linh Ứng Sắc tứ Tăng cang Bổn sư Nguyễn Từ Trí. Sắc chuẩn trụ trì Lê Từ Nhẫn, Bổn sư Nguyễn Phước Trí cùng bẩm giao đơn. Lệnh trên vâng sự xem xét. Bàn bạc chấp thuận cho Tăng Mục chùa Tam Thai là Phạm Hưng Long làm trụ trì cùng hợp lực cùng chư vị đạo hữu nhận hỗ trợ công việc chùa, tú tài Hồ Tiên Phong định ngày đến giữa năm Bính Ngọ (niên hiệu Thành Thái thứ 18- 1906) thì xây dựng, năm Duy Tân thứ 3(1909), đúc Đại Hồng Chung và tượng, thực hiện các nghi tế lễ để cho đầy đủ, Nay, cẩn chạm phương danh lưu lại đời sau. Kê:

Ngài Thái Tử Thiếu Bảo tổng đốc Nam Ngãi họ Hồ cùng bà phu nhân họ Võ cúng 25 đồng tương đương 4 bức tràng phan.

Thập phương thiện tín cùng góp cúng 100 đồng bạc lẻ. Thôn Hóa Khuê, Bình Thuận cúng 10 đồng.

Xem thêm: Cơm cháy chuyển nghiệp: Bí ẩn linh thiêng xua tan đọa đày

Mùa thu Khải Định nguyên niên(1916), chư viên chức cùng thiện tín thành tâm bỏ hết tài lực để trùng hưng và tôn tạo. Bổn phả cùng ghi chép”.

b. Hai văn bia niên hiệu Bảo Đại tam niên (1928) [35x45cm]

(1) Nguyên văn:

保大三年戌辰秋.盂蘭寺寺長叶本譜等.葢聞

開来继往後先均出於眞誠大道法門踐履尤期於篤寔.本寺营造正殿前堂碑楼東舍並淂雅观惟三關心猶掛慮.

寺譜中范貴臺合妻心誠發願財力需行令見内外装完表表在人眼目叶應石勒芳名垂後庶望将来之餘地歩也. 謹誌.計

濰川縣美溪總茶饒社南村精兵正率隊范荣良廣平省廣澤府土臥社

正室陳氏_. 仝奉供 (2)

Phiên âm:

Bảo Đại tam niên, Mậu Thìn thu. Vu Lan tự Tự trưởng hiệp bổn phả đẳng. Cái văn.:

Khai lai kế vãng hậu tiên quân xuất ư chơn thành, đại đạo pháp môn, tiễn lý vưu kỳ ư đốc thiệt. Bổn tự doanh tạo chánh điện, tiền đường, bi lâu, đông xá tịnh đắc nhã quan, duy tam quan tâm do quải lự. Tự phả trung Phạm quý đài hợp thê tâm thành phát nguyện tài lực nhu hành, linh kiến nội ngoại trang hoàn biểu biểu tại nhân nhãn mục, hiệp ứng thạch lặc phương danh thùy hậu thứ vọng tương lai chi dư địa bộ giã. Cẩn chí. Kê:

Duy Xuyên huyện, Mỹ Khê tổng, Trà Nhiêu xã, Nam thôn, tinh binh chánh suất đội Phạm Vinh Lương, Quảng Bình tỉnh, Quảng Trạch phủ, Thổ Ngọa xã, chánh thất Trần Thị … đồng phụng cúng.

Dịch nghĩa:

Niên hiệu Bảo Đại thứ 3, mùa thu năm Mậu Thìn (1928). Tự Trưởng chùa Vu Lan cùng bổn phả. Nghe rằng:

“Nối tiếp từ trước đến sau, đầu tiên cần tất cả sự chân thành khi vào cửa Pháp, rũ bỏ những oán hờn, kỳ hẹn dốc lòng tại đây. Bổn tự xây Chánh điện, tiền đường, nhà bia, đông xá, cảnh quan nhưng vẫn còn tam quan đáng được lo ngại. Chùa được Phạm quý đài và vợ thành tâm phát nguyện tài lực vận chuyển các đồ dùng đẹp đẽ,trang nghiêm,ngoài trong đủ đầy. Do vậy, bổn phả chúng tôi chạm phương danh để mọi người về sau tưởng nhớ đến công lao này vậy.Cẩn trọng ghi chép, kê lại.

Huyện Duy Xuyên, tổng Mỹ Khê, xã Trà Nhiêu (3), thôn Nam. Chánh suất đội Phạm Vinh Lương tỉnh Quảng Bình, phủ Quảng Trạch, xã Thổ Ngọa.(4)

Vợ cả Trần Thị … Đồng phụng cúng”.

(2) Nguyên văn:

保大三年戌辰秋.盂蘭寺寺長本譜等

佛法本無私大地欽崇南以北.聖恩垂永逺普天奉仰古来今.

本寺創造至茲前堂正殿碑楼各成壯麗其僧家東堂尚見草茅惟恐經年腐漏適有精兵正率隊范荣良並.本譜心誠勸助力敏經營東堂特出人天限目所有.十方貴臺宝號署供恭録姓名序銘子石是為誌 . 恭録

北圻河内宣光省十方供銀壹百五拾元

高綿省柴接府十方供淂銀貳百叁拾柒元.謹誌

Phiên âm:

Bảo Đại tam niên, Mậu Thìn thu. Vu Lan tự Tự trưởng bổn phả đẳng.

Phật Pháp bổn vô tư, đại địa khâm sùng Nam dĩ Bắc. Thánh ân thùy vĩnh viễn, phổ thiên phụng ngưỡng cổ lai kim.

Bổn tự sáng tạo chí tư tiền đường, chánh điện, bi lâu, danh thành tráng lệ; kỳ tăng gia, đông đường, thượng kiến thảo mao duy khủng kinh niên hủ lậu. thích hữu tinh binh chánh suất đội Phạm Vinh Lương tịnh bổn phả tâm thành, khuyến trợ lực mẫn kinh doanh đông đường, đặc xuất nhân thiên hạn mục sở hữu. Thập phương quý đài, bảo hiệu thự cúng cung lục tánh danh tự minh tử thạch thị vi chí. Cung lục.

Bắc kỳ Hà Nội, Tuyên Quang tỉnh, thập phương cúng ngân nhất bách ngũ thập nguyên.

Tìm hiểu thêm: Chùa Khai Phúc: Nơi Vua Trần Nhân Tông tìm về cửa Phật giữa cội nguồn tâm linh Vũ Lâm

Cao Miên tỉnh, Soài Tiếp phủ, thập phương cúng đắc ngân nhị bách tam thập thất nguyên. Cẩn chí.

Dịch nghĩa:

Niên hiệu Bảo Đại thứ 3, mùa thu năm Mậu Thìn (1928). Tự Trưởng chùa Vu Lan cùng bổn phả:

“Phật Pháp vốn không riêng, tất cả đều kính ngưỡng từ Nam đến Bắc. Thánh ân rũ lòng rộng khắp, được tôn thờ từ trước đến nay.

Bổn tự trước tiên tạo tiền đường, chánh điện, nhà bia trang nghiêm quang rạng, Đông đường của chư tăng vẫn còn lợp lá, sợ dột bao năm, bị mục, dột nát, nay khi có Chánh suất đội Phạm Vinh Lương cùng lập. Bổn phả thành tâm khuyến trợ kịp thời kiến tạo lại Đông đường thêm phần đẹp mắt.

Thập phương, quý đài, các hiệu cúng dường được cung lục thứ tự danh tánh vào tấm bia đá nhỏ này để tưởng nhớ. Cung lục.

Bắc kỳ Hà Nội, tỉnh Tuyên Quang thập phương cúng 155 đồng bạc.

Tỉnh Cao Miên, phủ Soài Tiếp thập phương cúng đúng 237 đồng.

Cẩn trọng ghi chép”.

c. Văn bia niên hiệu Bảo Đại ngũ niên (1930) [50x60cm]

Nguyên văn:

恭 聞

心地芝蘭博得茗香逺境福田菽粟栽来慧種大方.本寺合諸本道等

發心奉供銀元造買私田在灌漑社東甲地簿泡婆處田捌髙陸尺三寸永置馬三宝祀田其造契立券支費頗多所有原銀合供置祀碑誌芳名光垂永久云.計誌

盂蘭譜供壹佰元置千秋油

本善譜供壹百元置常年二月十九日觀音誕

宏化譜供四十元置常年四月初八日釋迦誕

灌桃譜供伍十元置常年六月二四日聖誕

護員阮桐合配范氏安供五十元置香油 . 置祀以下

仝門供壹佰元置祀陳先生七月初五日正忌

陳氏標供叁元.陳氏整供伍十元.武氏安供五十元

荼如財供五十元.李貴添供叁十元.總共銀陸百五十元

買田五百八十元里簿証認 二十三元扺座立券三十五元支費十二元

保大五年庚午中秋.盂蘭寺住持號尊保奉立

Phiên âm:

Cung văn:

Tâm địa chi lan bát đắc mính hương viễn cảnh phước điền thục túc tài lai tuệ chủng đại phương. Bổn tự hợp chư bổn đạo.

Phát tâm phụng cúng ngân nguyên tạo mãi tư điền tại Quán Khái xã, Đông Giáp địa, Bào Bà xứ, điền bát cao lục xích tam thốn, vĩnh trí mã Tam Bảo tự điền kỳ tạo khế lập khoán chi phí phả đa sở hữu nguyên ngân hợp cúng trí tự bi chíphương danh quang thùy vĩnh cửu vân. Kê chí:

Vu Lan phả cúng nhất bách nguyên trí Thiên Thu du.

Bổn Thiện phả cúng nhất bách nguyên trí thường niên nhị nguyệt, thập cửu nhật, Quan Âm đản.

Hoằng Hóa phả cúng tứ thập nguyên trí thường niên tứ nguyệt, sơ bát nhật, Thích Ca đản.

Quán Đào phả cúng ngũ thập nguyên trí thường niên lục nguyệt, nhị tứ nhật, Thánh đản.

Hộ viên Nguyễn Đồng hợp phối Phạm Thị An cúng ngũ thập nguyên trí hương du. Trí tự dĩ hạ.

Đồng môn cúng nhất bách nguyên trí tự Trần Tiên sinh, thất nguyệt, sơ ngũ nhật chánh kỵ.

Trần Thị Tiêu cúng tam nguyên. Trần Thị Chỉnh cúng ngũ thập nguyên. Võ Thị An cũng ngũ thập nguyên

Đồ Như Tài cúng ngũ thập nguyên. Lý Quý Thiêm cúng tam thập nguyên. Tổng cộng ngân lục bách ngũ thập nguyên.

Mãi tư ngũ bách bát thập nguyên, lý bạ chứng nhận nhị thập tam nguyên, chỉ tòa lập khoán tam thập ngũ nguyên, chi phí thập nhị nguyên.

Bảo Đại ngũ niên, Canh Ngọ, trung thu. Vu Lan tự trụ trì hiệu Tôn Bảo phụng lập.

Dịch nghĩa:

Khám phá: Lan tỏa chánh pháp, vững tâm giữa dòng thông tin đa chiều

Cung kính nói rằng:

“Tâm địa cao thượng như hương thơm của đọt non lan xa tận những đồng ruộng phúc, phát khởi trí tuệ rộng lớn. Bổn tự hợp cùng chư bổn đạo.

Phát tâm cúng tiền bạc để mua ruộng tư tại xã Quán Khái, khu vực Đông Giáp, xứ Bào Bà, 8 mẫu (6 thước 3 tấc) thiết trí cúng lễ lớn lâu dài cho Tam Bảo bằng mẫu ruộng ấy bên khế ước, chi phí hợp cúng tiền, thiết trí lễ tế nay viết phương danh vào bia để lưu lại vĩnh cửu.

Xét viết rằng:

Vu Lan phả cúng 100 đồng mua dầu Thiên Thu.

Bổn Thiện phả cúng 100 đồng hằng năm để thiết trí ngày Quan Âm Đản ( ngày 19 tháng 2 ).

Hoằng Hóa phả cúng 40 đồng hằng năm thiết trí ngày Thích Ca Đản ( ngày 8 tháng 4 ).

Quán Đào phả cúng 50 đồng hằng năm thiết trí ngày Thánh Đản ( ngày 24 tháng 6 ).

Hộ viên Nguyễn Đồng cùng vợ Phạm Thị An cúng 50 đồng mua hương dầu. Trí linh về sau.

Đồng môn cúng 100 đồng thiết trí lễ tế ngày kỵ chính của Trần tiên sinh ( ngày 5 tháng 7).

Trần Thị Tiêu cúng 30 đồng. Trần Thị Chỉnh cúng 50 đồng. Võ Thị An cúng 50 đồng.

Đồ Như Tài cúng 50 đồng. Lý Quý Thiêm cúng 30 đồng. Tổng cộng là 650 đồng bạc.

Mua ruộng là 580 đồng, chứng nhận lý bạ 23 đồng, xuống tòa làm khoán 35 đồng, chi phí là 12 đồng.

Niên hiệu Bảo Đại thứ 5, Trung Thu năm Canh Ngọ. Trụ trì chùa Vu Lan hiệu Tôn Bảo phụng lập”.

Tầm ảnh hưởng và đóng góp của chùa Vu Lan cho sự phát triển của Phật giáo Đà Nẵng và thiền phái Chúc Thánh

5.1. Đối với Phật Giáo Đà Nẵng:

Trong hơn một thế kỷ tồn tại, trải qua bao thăng trầm lịch sử, Tổ Đình Vu Lan đã đồng hành cùng sự phát triển của Phật giáo Đà Nẵng. Bên cạnh các ngôi chùa lớn như Chùa Phổ Đà, Chùa Tỉnh Hội, Tổ Đình Vu Lan đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo Tăng tài, tổ chức các kỳ Bố tát, An cư tự tứ. Đặc biệt, nơi đây đã từng là cơ quan ngôn luận Phật giáo đầu tiên tại Trung Kỳ, Tạp chí Tam Bảo, được bảo trợ bởi Hòa thượng Thích Tôn Bảo. Công lao to lớn của Cố Đại lão Hòa thượng Thích Tôn Bảo, một lãnh tụ tinh thần tối cao của Phật giáo Đà Nẵng, đã góp phần thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ cho thời kỳ Pháp nạn 1963 tại Đà Nẵng.

Trước năm 1975, Tăng ni Đà Nẵng thường tập trung về Tổ đình Vu Lan để thành lập đạo tràng An cư kiết hạ. Dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Tôn Bảo, đạo tràng này đã quy tụ nhiều danh Tăng, sau này trở thành những bậc mô phạm, tiếp nối sự nghiệp hoằng pháp như Hòa thượng Thích Bảo Toàn, Thích Hương Sơn, Thích Trí Giác, Thích Quang Thể, Thích Như Khương, Thích Như Thọ…

Sau năm 1974, khi Hòa thượng Thích Tôn Bảo viên tịch, chùa Vu Lan trải qua giai đoạn khó khăn. Tuy nhiên, với sự quan tâm của nhị vị Hòa thượng Thích Như Thọ và Thích Như Nghĩa, các ngài đã nỗ lực phục hồi và phát triển tùng lâm Vu Lan, thiết lập lại các đạo tràng An cư lớn mạnh theo đúng tinh thần Phật dạy, góp phần vào sự phát triển chung của Phật giáo Đà Nẵng.

Lịch sử hình thành và phát triển Tổ đình Sắc tứ Vu Lan – Đà Nẵng 4

Chân dung cố Đại lão HT Thích Tôn Bảo (1895 – 1974)

5.2. Đối với Tông môn Chúc Thánh:

Vào đầu thế kỷ XX, tại vùng đất này, hai Tổ đình truyền thừa theo dòng thiền Minh Hải – Pháp Bảo được thành lập là Tổ đình Sắc tứ Vu Lan và Tổ đình Sắc tứ Từ Vân. Cả hai chùa đều thuộc sơn môn Quốc tự Tam Thai – Linh Ứng, có mối liên hệ mật thiết và tầm quan trọng lịch sử tương đương nhau.

Khoảng thập niên 1930, chùa Vu Lan có mối liên hệ chặt chẽ trong môn phái thông qua tổ chức Bản tỉnh Chư sơn hội do ngài Tăng Cang Phổ Thoại thành lập. Mục tiêu của các ngài là chấn chỉnh Thanh quy, tạo tiền đề cho phong trào Chấn Hưng Phật Giáo. Khi đó, Hòa thượng Thích Tôn Bảo được cử giữ chức phó Tri sự Chư Sơn Quảng Nam, kiêm kiểm Tăng huyện Hòa Vang.

Đến khoảng thập niên 1960 – 1970, Hòa thượng Thích Tôn Bảo cùng chư tôn đức trong sơn môn tại Hội An đã tổ chức các Giới Đàn tại Phật Học Viện Long Tuyền. Ngài thường được thỉnh cử làm Đường Đầu tôn sư.

Sau năm 1975, Chùa Từ Vân không còn tồn tại. Do đó, chùa Vu Lan trở thành nơi tập trung chính của chư tôn đức Lâm Tế Chúc Thánh Quảng Nam-Đà Nẵng trong các ngày lễ húy nhật, hiệp kỵ môn phái. Hằng năm, vào ngày húy nhật của Hòa thượng Thích Tôn Bảo (27/10 Âm lịch), Tăng ni các nơi lại về Tổ đình Vu Lan để họp bàn, đóng góp cho môn phái và đề ra kế hoạch hoạt động cho những năm tiếp theo.

Trải qua hơn 100 năm, Tổ đình đã được duy trì và phát triển, đó thực sự là thành công lớn trong việc kế thừa và phát huy mạng mạch của chư Tổ.

Tóm kết

Qua những trang sử liệu ít ỏi này, chúng tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với công hạnh của các bậc tiền nhân đã có công kiến thiết, hưng long ngôi chùa. Đồng thời, mong muốn thế hệ mai sau hiểu rõ rằng, cách đây hơn một thế kỷ, tại xứ Hòa Thuận – Đà Nẵng, đã từng hiện hữu một ngôi Tổ đình vang bóng trong mái nhà Phật giáo Việt Nam, mang tên: “Sắc Tứ Vu Lan Tự”.

Lịch sử hình thành và phát triển Tổ đình Sắc tứ Vu Lan – Đà Nẵng 5

Tổ đình Sắc tứ Vu Lan hiện nay.

Nam Mô Sắc Tứ Vu Lan Tổ tự, Tương thừa Lịch đại Tổ Sư Hòa thượng khai sơn, trụ trì, liệt vị Tăng chúng Giác linh thùy từ chứng giám.

Đà Thành, Mùa Vu Lan, PL 2565.

Chú thích

(1) Hai tấm bia này hiện được cẩn vào cổng chùa.

(2) Trần Thị Nhớn (chữ Nhớn có bộ 大, 13 nét).

(3) Trà Nhiêu nay thuộc xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

(4) Làng Thổ Ngọa nay thuộc phường Quảng Thuận, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

Để hiểu rõ hơn về hành trình lịch sử và những đóng góp quý báu của các bậc tiền nhân, mời quý độc giả tiếp tục khám phá chi tiết trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang