Kinh Quán Niệm Hơi Thở: Hướng Dẫn Thực Hành Giúp An Tâm

kinh quan niem hoi tho 2 1631 1
0
(0)

Khám phá bí mật của hơi thở qua kinh điển cổ xưa, một phương pháp thiền định vượt thời gian đã được Đức Phật chỉ dạy. Chiasedaophat mời bạn cùng đi sâu vào nghệ thuật làm dịu tâm trí, tìm kiếm sự bình an nội tại qua từng nhịp thở.

Anapanasatisutta: Kinh Quán Niệm Hơi Thở

Kinh Quán Niệm Hơi Thở, hay Anapanasatisutta trong tạng Pali, là một trong những kinh điển nền tảng của Phật giáo Nguyên thủy. Trong Hán tạng, nội dung tương đương có thể tìm thấy trong các kinh số 815, 803 và 810 thuộc bộ Tạp A Hàm (tương ứng kinh 99 trong Đại Chính Tạng). Kinh này tập trung vào phương pháp thực hành quán niệm hơi thở, một kỹ thuật thiền định cốt lõi nhằm nuôi dưỡng tâm trí, trị liệu và chuyển hóa nội tâm. Để hiểu sâu hơn về cách áp dụng phương pháp này vào đời sống hàng ngày, có thể tham khảo tác phẩm “Kinh Quán Niệm Hơi Thở” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Kinh quán niệm hơi thở 1

Bối cảnh Đức Phật thuyết giảng

Trong thời kỳ còn tại thế, khi Đức Phật trú tại thành Xá Vệ, trong vườn Kỳ Thọ cùng với các vị Đại đệ tử như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Câu Thi La, A Nậu Lâu Đà, Ưu Bà Đa, A Nan Đà và nhiều vị khác. Tại Tăng đoàn, các vị Tôn túc đã đảm nhận vai trò hướng dẫn, dạy dỗ các vị Tỷ-kheo mới tu tập, mỗi vị phụ trách từ mười đến bốn mươi vị. Nhờ sự chăm sóc và chỉ dạy tận tình này, các Tỷ-kheo mới đã có những bước tiến bộ đáng kể trong tu tập.

Vào một ngày trăng tròn tháng tư, khi Đức Phật đang ngồi ngoài trời cùng Tăng đoàn, Người đã lặng lẽ quan sát chúng Tăng rồi cất lời dạy bảo:

“Này các Tỷ-kheo, Tăng đoàn chúng ta thật sự thanh tịnh và có thực chất tu học, không hề mang tính chất phù phiếm hay ba hoa. Chúng ta xứng đáng nhận được sự cúng dường, xứng đáng được xem là phước điền và xứng đáng được tôn kính.”

“Trong đại chúng này, có những vị đã chứng quả A-la-hán, đã đoạn tận mọi phiền não, trút bỏ mọi gánh nặng, đạt được trí tuệ và sự giải thoát. Bên cạnh đó, có những vị đã đoạn trừ năm loại kiết sử, chứng quả Bất Hoàn, không còn tái sinh trong luân hồi. Có vị đã cắt đứt ba kiết sử đầu tiên, chứng quả Nhất Hoàn, chỉ còn trở lại thế gian một lần nữa để đoạn tận các phiền não thô trược như tham, sân, si. Có vị đã đoạn trừ ba kiết sử đầu, chứng quả Dự Lưu, đang vững chãi tiến bước trên con đường giác ngộ. Ngoài ra, còn có những vị đang thực tập Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Chánh Đạo, hoặc đang thực hành các pháp như Từ, Bi, Hỷ, Xả, Cửu Tưởng Quán, Vô Thường Quán. Và cũng có những vị đang thực tập quán niệm hơi thở.”

“Này các Tỷ-kheo, pháp quán niệm hơi thở, nếu được phát triển và thực hành liên tục, sẽ mang lại những thành quả và lợi lạc to lớn, có khả năng thành tựu bốn lĩnh vực quán niệm. Khi bốn lĩnh vực quán niệm này được phát triển và thực hành liên tục, chúng sẽ dẫn đến sự thành tựu của bảy yếu tố giác ngộ. Và khi bảy yếu tố giác ngộ được phát triển và thực hành liên tục, chúng sẽ đưa hành giả đến trí tuệ và sự giải thoát.”

Phương pháp thực hành quán niệm hơi thở

“Làm thế nào để phát triển và thực hành pháp quán niệm hơi thở một cách liên tục, nhằm đạt được những thành quả và lợi lạc lớn lao?”

“Này các Tỷ-kheo, người hành giả nên tìm đến một nơi vắng vẻ, có thể là trong rừng hoặc dưới gốc cây, rồi an tọa trong tư thế kiết già hoặc bán già, giữ cho cột sống thẳng và đặt sự tỉnh giác ngay trước mặt. Khi thở vào, hành giả biết mình đang thở vào; khi thở ra, hành giả biết mình đang thở ra.”

Khám phá: Tử Vi 2024 Tuổi Nhâm Ngọ 2002 Nam: Hé Lộ Vận Trình Chi Tiết

Thực tập Tứ Niệm Xứ

Kinh quán niệm hơi thở 2

Ảnh minh họa.

    • Khi thở vào một hơi dài, hành giả nhận biết: “Ta đang thở vào một hơi dài.” Khi thở ra một hơi dài, hành giả nhận biết: “Ta đang thở ra một hơi dài.”
    • Khi thở vào một hơi ngắn, hành giả nhận biết: “Ta đang thở vào một hơi ngắn.” Khi thở ra một hơi ngắn, hành giả nhận biết: “Ta đang thở ra một hơi ngắn.”
    • Hành giả nhận biết toàn bộ thân thể khi thở vào: “Ta đang thở vào và có ý thức về toàn thân ta.” Và khi thở ra: “Ta đang thở ra và có ý thức về toàn thân ta.”
    • Hành giả thực hành làm cho toàn thân an tịnh khi thở vào: “Ta đang thở vào và làm cho toàn thân an tịnh.” Và khi thở ra: “Ta đang thở ra và làm cho toàn thân an tịnh.”
    • Khi thở vào, hành giả cảm nhận sự vui thích: “Ta đang thở vào và cảm thấy mừng vui.” Và khi thở ra: “Ta đang thở ra và cảm thấy mừng vui.”
    • Khi thở vào, hành giả cảm nhận sự an lạc: “Ta đang thở vào và cảm thấy an lạc.” Và khi thở ra: “Ta đang thở ra và cảm thấy an lạc.”
    • Hành giả nhận biết những hoạt động của tâm ý khi thở vào: “Ta đang thở vào và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta.” Và khi thở ra: “Ta đang thở ra và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta.”
    • Hành giả thực hành làm cho những hoạt động tâm ý được an tịnh khi thở vào: “Ta đang thở vào và làm cho những hoạt động tâm ý trong ta được an tịnh.” Và khi thở ra: “Ta đang thở ra và làm cho những hoạt động tâm ý trong ta được an tịnh.”
    • Hành giả nhận biết tâm ý mình khi thở vào: “Ta đang thở vào và có ý thức về tâm ý ta.” Và khi thở ra: “Ta đang thở ra và có ý thức về tâm ý ta.”
    • Hành giả thực hành làm cho tâm ý hoan lạc khi thở vào: “Ta đang thở vào và làm cho tâm ý ta hoan lạc.” Và khi thở ra: “Ta đang thở ra và làm cho tâm ý ta hoan lạc.”
    • Hành giả thu nhiếp tâm ý vào định khi thở vào: “Ta đang thở vào và thu nhiếp tâm ý ta vào định.” Và khi thở ra: “Ta đang thở ra và thu nhiếp tâm ý ta vào định.”
    • Hành giả cởi mở cho tâm ý được giải thoát tự do khi thở vào: “Ta đang thở vào và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát tự do.” Và khi thở ra: “Ta đang thở ra và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát tự do.”
    • Khi thở vào, hành giả quán chiếu về tính vô thường của vạn pháp: “Ta đang thở vào và quán chiếu tính vô thường của vạn pháp.” Và khi thở ra: “Ta đang thở ra và quán chiếu tính vô thường của vạn pháp.”
    • Khi thở vào, hành giả quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp: “Ta đang thở vào và quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp.” Và khi thở ra: “Ta đang thở ra và quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp.”
    • Khi thở vào, hành giả quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp: “Ta đang thở vào và quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp.” Và khi thở ra: “Ta đang thở ra và quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp.”
    • Khi thở vào, hành giả quán chiếu về sự buông bỏ: “Ta đang thở vào và quán chiếu về sự buông bỏ.” Và khi thở ra: “Ta đang thở ra và quán chiếu về sự buông bỏ.”

Kinh quán niệm hơi thở 3

Ảnh minh họa.

Bài thực hành thiền định quán niệm hơi thở hàng ngày

Như đã nêu, việc phát triển và thực hành liên tục phép quán niệm hơi thở sẽ mang lại những lợi lạc to lớn, dẫn đến sự thành tựu của bốn lĩnh vực quán niệm.

Thành tựu bốn lĩnh vực quán niệm

Khi hành giả, trong hơi thở vào hoặc ra, dù dài hay ngắn, nhận biết được hơi thở và toàn bộ thân thể, hoặc ý thức về việc làm cho thân thể an tịnh, thì hành giả đang an trú trong phép quán thân trong thân. Sự tinh tiến, tỉnh thức, nhận biết rõ tình trạng và vượt khỏi tham ái, chán ghét đối với cuộc đời trong giai đoạn này thuộc về lĩnh vực quán niệm thứ nhất: quán thân.

Tương tự, khi hành giả thở vào hoặc ra mà nhận biết sự vui thích, an lạc, các hoạt động của tâm ý, hoặc làm cho tâm ý an tịnh, thì hành giả đang an trú trong phép quán cảm thọ trong cảm thọ. Sự tinh tiến, tỉnh thức, nhận biết rõ tình trạng và vượt khỏi tham ái, chán ghét trong giai đoạn này thuộc về lĩnh vực quán niệm thứ hai: quán thọ. Các cảm thọ được trải nghiệm qua hơi thở có ý thức này là yếu tố quan trọng.

Khi hành giả thở vào hoặc ra và có ý thức về tâm ý, làm cho tâm ý an tịnh, thu nhiếp tâm ý vào định hoặc giải thoát tâm ý, thì hành giả đang an trú trong phép quán tâm ý trong tâm ý. Sự tinh tiến, tỉnh thức, nhận biết rõ tình trạng và vượt khỏi tham ái, chán ghét trong giai đoạn này thuộc về lĩnh vực quán niệm thứ ba: quán tâm. Việc không quán niệm hơi thở sẽ cản trở sự phát triển của chánh niệm và tuệ giác.

Cuối cùng, khi hành giả thở vào hoặc ra và quán chiếu về tính vô thường, về sự không đáng tham cầu và vướng mắc, về bản chất không sinh diệt, hay về sự buông bỏ của vạn pháp, thì hành giả đang an trú trong phép quán đối tượng tâm ý trong đối tượng tâm ý. Sự tinh tiến, tỉnh thức, nhận biết rõ tình trạng và vượt khỏi tham ái, chán ghét trong giai đoạn này thuộc về lĩnh vực quán niệm thứ tư: quán pháp.

Thành tựu bảy yếu tố giác ngộ

Bốn lĩnh vực quán niệm này, khi được phát triển và thực hành liên tục, sẽ dẫn đến sự thành tựu của bảy yếu tố giác ngộ. Cụ thể như sau:

Kinh quán niệm hơi thở 4

Ảnh minh họa.

Khi hành giả an trú vững chắc trong bốn lĩnh vực quán niệm (quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp) với sự tinh tiến, tỉnh thức, nhận biết rõ ràng và vượt khỏi mọi tham ái, chán ghét, thì chánh niệm của hành giả sẽ được duy trì một cách bền bỉ. Điều này dẫn đến sự sinh khởi của yếu tố giác ngộ thứ nhất: niệm (chánh niệm). Yếu tố này sẽ dần đạt đến sự viên mãn.

Tiếp theo, khi hành giả an trú trong chánh niệm để quán chiếu và phân định các pháp, đối tượng của tâm ý, yếu tố giác ngộ thứ hai là trạch pháp (tinh tấn quán xét) sẽ được sinh khởi và phát triển, dần đạt đến sự viên mãn.

Tìm hiểu thêm: Lưu Tỵ: Tham Vọng Đế Vương và Bóng Đêm Nghiệp Chướng

Sự tinh tấn, cần mẫn và bền bỉ trong việc quán chiếu, phân định các pháp sẽ làm phát sinh yếu tố giác ngộ thứ ba: tinh tấn. Yếu tố này cũng sẽ dần đạt đến sự viên mãn.

Khi hành giả đã an trú vững vàng và bền bỉ trong sự tinh tấn tu tập, yếu tố giải thoát thứ tư, đó là hỷ lạc xuất thế (niềm vui thoát ly thế gian), sẽ được sinh khởi và phát triển, dần đạt đến sự viên mãn.

Nắm lấy hơi thở chánh niệm

Khi đạt đến trạng thái hỷ lạc, hành giả cảm thấy thân và tâm nhẹ nhàng, an tịnh. Đây là sự sinh khởi của yếu tố giải thoát thứ năm: khinh an (thân tâm nhẹ nhàng). Yếu tố này sẽ dần đạt đến sự viên mãn.

Với thân và tâm nhẹ nhàng, thanh tịnh, hành giả có thể dễ dàng đi vào định. Lúc này, yếu tố giải thoát thứ sáu, đó là định (sự tập trung tâm ý), sẽ được sinh khởi và phát triển, dần đạt đến sự viên mãn.

Khi đã thực sự an trú trong định, hành giả không còn duy trì sự phân biệt hay so đo. Khi đó, yếu tố giải thoát thứ bảy, đó là hành xả (buông bỏ mọi chấp trước), sẽ được sinh khởi và phát triển, dần đạt đến sự viên mãn.

Xem thêm: Thanh thản mỉm cười: Vượt qua mọi đớn đau, tìm thấy sức mạnh nội tại

Như vậy, bốn lĩnh vực quán niệm, khi được phát triển và thực hành liên tục, sẽ dẫn đến sự thành tựu viên mãn của bảy yếu tố giác ngộ. Và khi bảy yếu tố giác ngộ được phát triển và thực hành liên tục, chúng sẽ đưa hành giả đến sự thành tựu viên mãn của trí tuệ và giải thoát.

Cụ thể, nếu hành giả tu tập theo bảy yếu tố giác ngộ, sống một mình trong sự tĩnh lặng, chuyên quán chiếu về tính cách không sinh diệt của vạn pháp, quán chiếu về sự tự do, hành giả sẽ đạt đến khả năng buông bỏ. Đó chính là thành tựu viên mãn trí tuệ và giải thoát nhờ tu tập bảy yếu tố giác ngộ.

Đức Thế Tôn đã thuyết giảng những lời này, và đại chúng ai nấy đều hoan hỷ, kính cẩn đón nhận những lời dạy quý báu.

Để hiểu sâu hơn về phương pháp quán niệm hơi thở và tìm kiếm sự an lạc, mời bạn khám phá thêm những bài viết giá trị trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang