Việc sao chép kinh điển luôn tiềm ẩn những quy tắc nghiêm ngặt nhằm bảo tồn sự nguyên vẹn của giáo pháp. Những cảnh báo về hậu quả nghiêm trọng khi sao chép sai lệch hoặc thiếu cung kính được ghi lại trong nhiều kinh điển, nhắc nhở người thực hành về trách nhiệm cao cả này. Hãy cùng khám phá những lưu ý quan trọng khi bạn bắt đầu hành trình chép kinh tại Website Chia sẻ Đạo Phật.
Kinh Pháp Hoa U Minh Khổ Nhục nói: “Thiện nam tử! Sao chép kinh điển, chớ có làm sai lệch ý nghĩa cốt lõi của từng chữ. Nếu làm sai, sẽ đọa vào cõi khổ đau suốt năm trăm kiếp, tai không còn được nghe Chánh pháp vi diệu.”
Kinh Đại Tập nhấn mạnh rằng những ai trong quá khứ đã phá hoại Chánh pháp, phỉ báng Thánh Tăng, cản trở việc thuyết pháp, hoặc sao chép kinh điển một cách cẩu thả, tẩy xóa chữ nghĩa, hay phá hoại kinh điển khác, sẽ phải chịu quả báo mù mắt.

Ảnh minh họa
Kinh Đại Bát Nhã cảnh báo rằng những người sao chép kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa với thái độ thiếu nghiêm túc như nhăn mặt, ngáp vặt, đùa giỡn, hoặc để tâm trí xao lãng dẫn đến sai lệch câu văn, sẽ bị xem là “Bồ tát ma quỷ”.
Kinh Đại Thừa Liên Hoa Tạng chỉ rõ những người giữ giới luật nhưng không nỗ lực bảo vệ Phật pháp, hoặc cho rằng mình đã hiểu hết Phật pháp, sẽ phải chịu hình phạt nơi địa ngục Giáo Thép, sau đó đọa vào cảnh đui điếc, câm lặng, không thể thấy Chánh pháp.
Luận A Nan Thỉnh Giới Luật nghiêm cấm việc đọc kinh luật luận khi đang đi lại hoặc giở sách một cách thiếu kính cẩn. Hành vi này sẽ bị đọa làm hươu nai, chịu cảnh ốm yếu suốt hai ức năm. Đùa giỡn, giật lấy kinh luật luận cũng sẽ chịu quả báo tương tự. Để kinh điển ở nơi không thanh tịnh như mái hiên sẽ đọa làm heo chó suốt hai ức năm, và khi được làm người sẽ phải sống cảnh nhờ vả, không được tự tại suốt một ức năm.
Trong thời đại ngày nay, nếu muốn bố thí kinh điển, việc đặt in và biếu tặng mang lại công đức tương đương với việc chép tay. Tuy nhiên, nếu vẫn giữ tâm nguyện tự tay chép kinh, cần hết sức lưu tâm đến những quy tắc và sự trang nghiêm.
Ngài Đức Viên Chép Kinh Hoa Nghiêm
Ngài Đức Viên, người Thiên Thủy, đã dành cả đời để phụng sự kinh Hoa Nghiêm. Ngài tạo dựng một khu vườn thanh tịnh, trồng cây dó và các loại hoa thơm. Trước khi vào vườn, Ngài tắm rửa, mặc áo sạch và tưới cây bằng nước thơm. Giấy để chép kinh được làm từ vỏ cây dó, ngâm trong nước trầm, quy trình kéo dài cả năm. Ngài xây dựng một tịnh thất riêng, dùng bùn thơm tô trát, kết đàn và bày biện đồ vật tinh sạch. Ngay cả nhà tắm cũng có áo riêng. Thợ thuyền tham gia đều phải giữ trai giới, thay áo và súc miệng thơm tho.
Ngài dùng gỗ bách khảm ngà để làm tòa, xung quanh bày hương hoa, treo lọng báu và các loại ngọc quý. Án kinh và quản bút được làm từ gỗ bạch đàn và tử trầm. Người chép kinh hàng ngày giữ trai giới, tắm gội bằng nước thơm ba lần, đội mão hoa, mặc áo sạch, trang nghiêm như chư thiên.
Sự Nghiêm Khiết Tuyệt Đối Khi Chép Kinh
Khi vào kinh thất, Ngài Đức Viên cho đốt hương hai bên đường, có người xướng tụng dẫn đường. Bản thân Ngài cũng ăn mặc trang nghiêm, cầm lư hương cung kính đi trước. Sau khi rải hoa cúng dường, Ngài mới bắt đầu biên chép. Ngài quỳ xuống, vận tưởng, mắt nhìn chăm chú, dốc lòng. Mỗi chữ Ngài viết đều phóng ra ánh quang chiếu khắp viện, khiến mọi người cảm động. Thần nhân còn hiện hình cầm giáo hộ vệ, chỉ Ngài Đức Viên và người chép kinh thấy được. Một phạm đồng áo xanh cũng hiện ra dâng hoa trời cúng dường. Những sự linh ứng này tiếp diễn cho đến khi kinh hoàn thành sau hai năm. Bộ kinh được đựng trong hộp thơm, tỏa ra ánh sáng lạ, và được truyền thừa qua năm đời, mang lại linh ứng cho những ai thanh tịnh chuyển đọc.
Ngài Tu Đức Chép Kinh Hoa Nghiêm
Ngài Tu Đức, người Trung Sơn, đời Đường, tu hành khổ hạnh nơi rừng núi, chuyên tâm vào kinh Hoa Nghiêm và luận Khởi Tín. Năm Vĩnh Huy thứ tư (653), Ngài phát tâm sao chép kinh. Ngài lập một tịnh viện, trồng cây dó và hoa thơm, dùng nước thơm tưới cây, sau ba năm làm thành giấy thanh khiết. Ngài xây một đài thanh tịnh, mời người viết chữ đẹp là Vương Cung đến biệt viện. Vương Cung giữ trai giới, tắm gội, mặc áo sạch, thắp hương, rải hoa, rồi mới lên tòa viết. Khi hạ bút, Ngài ngậm hương, đến khi nhấc bút mới thở ra, thực hiện như vậy mỗi ngày.
Ngài Tu Đức vào tịnh thất, vận tưởng. Mỗi quyển kinh hoàn thành, Ngài tặng mười xấp lụa mịn, tổng cộng sáu trăm tấm. Vương Cung, dù được lợi, vẫn dốc lòng hoàn thành. Ngay sau khi kinh chép xong, Vương Cung viên tịch. Ngài Tu Đức mở trai hội ăn mừng. Trước Phật, Ngài đốt hương, rải hoa, phát nguyện, rồi mở hộp đựng kinh. Kinh tỏa ra quang minh lớn chiếu khắp hơn bảy mươi dặm, dân chúng trong thành đều thấy. Đại chúng tham dự trai hội đều cảm động rơi lệ sám hối.

Ảnh minh họa
Chú thích: Câu chuyện này minh chứng cho lòng thành kính tuyệt đối của cổ nhân đối với Tam Bảo, khác xa với thái độ xem thường, khinh nhờn của một số người ngày nay. Hành động “ngậm hương, nhấc bút mới thở ra” thể hiện sự tinh khiết và tôn trọng tuyệt đối đối với kinh điển. Việc Vương Cung viên tịch ngay sau khi hoàn thành kinh cho thấy Ngài đã đạt đến sự giải thoát nhờ tâm chí thành, không cầu danh lợi.
Ngài Pháp Thành Chép Kinh Hoa Nghiêm
Ngài Pháp Thành, người Ung Châu, đời Đường, xuất gia từ nhỏ và lấy việc tụng kinh Hoa Nghiêm làm sự nghiệp. Gặp thiền sư Huệ Siêu, Ngài càng dốc lòng học đạo. Sau đó, Ngài xây dựng Hoa Nghiêm Đường, trang nghiêm nơi này và vẽ cảnh bảy xứ chín hội. Với lòng chí thành, Ngài biên chép kinh Hoa Nghiêm. Ngài mời Hoằng Văn học sĩ Trương Tịnh, người có tài viết chữ, đến sơn xá. Trương Tịnh giữ trai giới, tắm gội, mặc áo sạch, miệng ngậm nước thơm, rồi mới bắt đầu viết. Mỗi trang giấy có giá năm mươi đồng. Ngài Pháp Thành ứng trước năm trăm tiền. Trương Tịnh dốc sức hoàn thành. Mỗi ngày, Ngài Pháp Thành đều thiêu hương cúng dường trước án. Trong quá trình vẽ và chép, Ngài tập trung cao độ, không hề lơ đãng. Điều này đã cảm ứng một con chim lạ bay vào nhà, bay quanh cổ vũ, đáp xuống án kinh và lư hương, rồi lặng lẽ nhìn. Một lúc sau chim bay đi.
Năm sau, khi kinh chép xong, chim lại bay tới hót tiếng thánh thót. Đầu năm Trinh Quán (627), Ngài vẽ hình ngàn vị Phật, chim lại bay tới đậu trên lưng người thợ. Trong một buổi trai hội, Ngài ngạc nhiên vì không thấy chim. Ngài nói lên sự cảm nhận của mình, và chim lập tức bay đến, tắm gội rồi bay đi. Trương Tịnh, người có tài viết chữ, còn được đề cử khắc kinh kệ trên vách núi. Ông ta chép kinh Pháp Hoa ở đất trống, khi đi xa chưa kịp cất, trời mưa to nhưng án kinh vẫn khô ráo. Ông từng bị ngã xuống suối xiết nhưng lại tự lên bờ an toàn.
Ngài Đàm Vận Chép Kinh Pháp Hoa
Ngài Đàm Vận, người Định Châu, đời Đường, ẩn cư trong Ly Thạch Bắc Thiên Sơn, thường tụng kinh Pháp Hoa. Ngài muốn chép kinh nhưng không tìm được người cùng chí hướng. Một hôm, có một thư sinh xuất hiện, muốn chép kinh. Người này tắm gội sạch sẽ, mặc áo sạch, thọ tám giới, vào tịnh thất, miệng ngậm đàn hương, đốt hương, treo phan, rồi lặng lẽ sao chép cho đến chiều.
Ngày hôm sau, người thư sinh vẫn tiếp tục công việc mà không hề than mệt. Khi kinh chép xong, Ngài Đàm Vận dâng tiền công, người thư sinh liền biến mất. Bản kinh được trang hoàng đúng pháp, Đàm Vận thọ trì, đọc tụng, cất giữ cẩn thận trong bảy lớp bọc. Mỗi lớp bọc đều được rửa tay bằng nước thơm. Sau đó, kinh bị giặc Hồ cướp đi, nhưng khi tìm lại, rương đựng kinh dưới vách đá vẫn còn nguyên vẹn, vải bọc rã rời nhưng kinh bên trong vẫn tốt đẹp.
Chú thích: Việc chép kinh với tâm chí thành có thể cảm ứng được thánh chúng. Sự thị hiện của họ thường giống phàm nhân, do đó, việc tuân thủ đúng pháp như tắm gội, mặc áo sạch, thọ bát quan trai giới là vô cùng quan trọng. Bát quan trai giới bao gồm việc giữ tám giới như không sát sinh, không trộm cắp, giúp ngăn chặn phiền não và nghiệp tham, sân, si. Việc này tương đương với người tại gia thọ giới xuất gia trong thời hạn nhất định. “Đến chiều mới ra” nghĩa là không ăn sau giờ Ngọ. “Khỏa” (裹) là cái bao, và việc rửa tay bằng nước thơm sau mỗi lần đọc kinh thể hiện sự thanh tịnh liên tục. Kinh còn nguyên vẹn dù rương vải mục nát là do pháp lực gia trì của thánh nhân, thành tâm của Ngài Đàm Vận, và công đức của bộ kinh.
Kháng Thiền Sư Chép Kinh
Năm Trinh Quán thứ năm (631), đời Đường, ông Lệnh Hồ Nguyên Quỹ muốn chép kinh Pháp Hoa, Kim Cang, Bát Nhã, Niết Bàn, nhưng không tự kiểm soát được, bèn nhờ Kháng Thiền Sư ở Long Châu giúp đỡ. Kháng Thiền Sư giữ pháp khiết tịnh trong chùa. Sau khi chép xong cuốn cuối, kinh được đưa về trang trại tại Kỹ Châu, để chung với năm ngàn lời của Lão Tử. Chợt có hỏa hoạn, nhà cỏ cháy sạch. Tuy nhiên, khi gia nhân bới tro, ống đồng pha vàng đựng kinh vẫn còn nguyên vẹn, màu sắc đẹp đẽ. Kinh Lão Tử thì bị cháy tiêu. Họ thu thập các kinh này, người làng ai cũng khen là lạ. Quyển kinh Kim Cang Bát Nhã có tựa đề bị cháy đen, nguyên nhân là do một vị quan trong châu viết tựa đề khi không giữ khiết tịnh. Người viết tựa đề này hiện vẫn còn sống, những kinh tốt lành đó vẫn còn.
Ni Luyện Hạnh Chép Kinh Pháp Hoa
Đời Đường, ni sư Luyện Hạnh ở Hà Đông thường tụng kinh Pháp Hoa và mời người viết chữ đẹp chép kinh. Bà trả công cao gấp nhiều lần, nhưng vẫn giữ sự khiết tịnh và ân cần. Mỗi lần bắt đầu, bà đều tắm, đốt hương xông áo, thở vào ống đồng thông ra ngoài vách. Chép xong bảy quyển kinh mất tám năm. Sư Pháp Đoan chùa Long Môn mượn bộ kinh để thẩm định, ni sư không cho nhưng Pháp Đoan quở trách. Ni sư đành đưa kinh cho Pháp Đoan. Khi mở ra xem, Pháp Đoan chỉ thấy giấy vàng, không có chữ. Các quyển khác cũng vậy. Pháp Đoan hổ thẹn trả lại kinh. Ni sư buồn khóc, dùng nước thơm rửa hộp đựng kinh, đội lên đầu nhiễu Phật bảy ngày. Sau đó, chữ hiện lại như cũ. Sự việc này xảy ra năm Trinh Quán thứ hai (628), do Sư Pháp Đoan kể lại.
Tổ Ấn Quang Khai Thị Về Chép Kinh Phật
Tổ Ấn Quang chỉ ra rằng việc chép kinh bằng máu (trích huyết) cần được thực hiện với sự chí thành và hiểu biết đúng đắn. Có người chỉ dùng máu, có người pha thêm vàng, son hoặc mực. Việc pha vàng không phải ai cũng làm được. Ngài Hám Sơn được hoàng thái hậu cung cấp giấy và vàng để chép kinh bằng chữ vàng trên giấy màu lam. Tuy nhiên, chữ vàng trên giấy lam không rõ bằng giấy trắng mực đen hay chữ son. Nếu pha chung vàng, mực, son, thì chỉ có chút máu để biểu lộ lòng chí thành.
Ngài Hám Sơn rạch lưỡi lấy máu pha vàng chép kinh Hoa Nghiêm. Ngài Diệu Phong mỗi ngày rạch lưỡi lấy hai phần máu, một phần hòa son chép kinh Hoa Nghiêm, một phần soạn nghi thức Mông Sơn Thí Thực. Ngài Nam Hồ Kỳ thiền sư khứa lưỡi lấy máu hòa mực chép Di Đà Yếu Giải để làm bản mẫu khắc in, với tâm nguyện lưu thông kinh điển khắp pháp giới. Mỗi chữ viết ra, Ngài lạy ba lạy, nhiễu ba vòng, xưng mười hai tiếng Phật hiệu.
Ba vị này khứa lưỡi lấy máu pha ngay với vàng, son, mực để chép. Máu trích ra cần được khuấy kỹ để loại bỏ gân máu, tránh làm cứng bút. Xưa có người trích máu chép kinh Hoa Nghiêm, gân máu tích lại đắp thành tượng Phật cao hơn một tấc. Máu có tính chất trong và nhạt, dễ lan ra giấy, nên cần dùng giấy đã xát phèn trắng để giấy không thấm và đỡ hao máu. Giấy bôi phèn đặc biệt dày nặng, có thể để lâu.
Cổ nhân trích huyết từ lưỡi, ngón tay, cánh tay hoặc trước ngực. Tuyệt đối không được trích máu từ tim trở xuống. Việc trích máu quá nhiều có thể tổn thương tâm lực, ảnh hưởng đến việc tu hành. Tổ Ấn Quang phê phán những người chép kinh bằng máu gần đây thiếu cung kính, trích máu quá nhiều, máu bị hôi mà vẫn dùng, hoặc phơi khô rồi hòa nước để viết. Hành vi này không biểu lộ chí thành mà chỉ là trò đùa trẻ nít, chuốc danh hão.
Tổ Ấn Quang khuyên nên trích máu vừa đủ, không quá nhiều. Máu nơi lưỡi có thể đủ cho kinh nhỏ, nhưng kinh lớn cần máu nơi ngón tay, cánh tay. Nếu máu đã hôi hoặc phơi khô, thà ban đầu pha máu với son làm thành thỏi, phơi khô để dùng, vừa tiết kiệm máu, vừa không làm ô uế kinh, lại tiện lợi. Thỏi son máu này cần trộn thêm Bạch Cập để tránh rã ra. Trước khi trích huyết, nên kiêng ăn muối và gia vị cay nóng để máu không bị tanh.
Việc chép kinh không giống viết bình cốt, cần sự nghiêm túc, mỗi nét bút không được cẩu thả, viết tắt. Kiểu chữ dùng phải tuân theo thể loại chánh thức, không được dùng chữ viết trát. Tổ Ấn Quang không tán thành việc dùng lối Hành Thư, Thảo Thư để viết kinh. Ngài khuyên mỗi nét bút, mỗi vạch phải cung kính, và cần viết bài ký trách lỗi để tự răn mình. Chép kinh là để chuyển tâm phàm phu thành trí tuệ Như Lai, giống như tiến sĩ vào trường thi, phải nghiêm cung, dè dặt, không giải đãi. Làm được như vậy mới có thể biến tâm nghiệp thức thành Như Lai Tạng, đậu Trạng Nguyên trong trường thi Phật.
Nhiều người hiện nay chép kinh chỉ để luyện chữ hoặc lưu lại bút tích, không phải là chép kinh thực sự. Hành vi này không hoàn toàn vô ích, có thể thành nhân đắc độ trong tương lai, nhưng tội khinh nhờn cũng không nhỏ.
(Cách chép kinh Phật – Theo Ấn Quang Văn Sao)
Hy vọng qua bài viết này, quý vị đã nắm rõ những lưu ý quan trọng khi chép kinh Phật. Để tiếp tục tìm hiểu sâu hơn về những giá trị và tri thức tâm linh quý báu, mời quý vị khám phá chuyên mục Đạo phật.
