Thất giác chi: Khám phá bí ẩn và sức mạnh tiềm ẩn

× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Thấu hiểu sâu sắc về Thất Giác Chi, con đường dẫn đến sự an lạc và giải thoát, là mục tiêu mà nhiều hành giả hướng tới. Pháp hành này, dù có những điểm tương đồng với các con đường tu tập khác, vẫn mang những nét đặc trưng riêng biệt trong việc kết hợp các yếu tố như niệm, tinh tấn và định. Khám phá sự liên kết và trình tự của các chi này có thể giúp bạn tìm thấy chìa khóa để mở cánh cửa giác ngộ tại chiasedaophat.com.

Thất Giác Chi: Con Đường Dẫn Đến An Lạc và Giải Thoát

Thất giác chi, hay Bảy Giác Chi, là một pháp hành quan trọng trong Đạo Phật, đóng vai trò thiết yếu trong việc dẫn dắt hành giả từ khổ đau đến an vui và giải thoát. Tầm quan trọng của nó không hề thua kém các hành pháp khác. Trong Thất giác chi, chúng ta nhận thấy sự hiện diện của các yếu tố như Niệm, Tinh tấn, và Định, vốn cũng đã xuất hiện trong các hành pháp khác. Tuy nhiên, do tính phổ quát và vai trò nền tảng, sự có mặt của chúng trong mỗi hành pháp là không thể thiếu, vừa phục vụ cho từng hành pháp cụ thể, vừa đảm bảo tính phổ quát chung.

Đức Đạo sư đã chế ra nhiều hành pháp khác nhau để phù hợp với căn cơ đa dạng của chúng sinh. Nếu thiếu những trợ pháp này, hành giả sẽ khó đạt được thành tựu như mong đợi. Do đó, tùy theo căn cơ và sự phù hợp với pháp môn nào, hành giả có thể lựa chọn con đường tu tập tương ứng. Dù có sự khác biệt về chi tiết, nhưng về tổng thể, nội dung của các pháp môn này thường có nhiều điểm tương đồng.

Trong pháp môn Thất giác chi, ta cũng thấy nhiều điểm tương đồng với các hành pháp khác. Sự sắp xếp thứ tự của các chi này cũng có sự khác biệt trong các kinh điển khác nhau, như trong kinh Tạp A-hàm (26), kinh Phật thuyết Đại thừa tùy chuyển tuyên thuyết chư pháp quyền (2, T. 15, p. 0777b), và Luận A-tỳ-đạt-ma Uẩn Túc (quyển 9, T.26, p. 494c). Sự khác biệt này có thể xuất phát từ việc sắp xếp tùy theo căn cơ người nghe hoặc quan điểm phát triển của các bộ phái Phật giáo sau này. Bài viết này sẽ đi theo sự sắp xếp của đa số kinh luận và tiến trình logic của tư tưởng.

Theo kinh Tạp A-hàm (26, kinh 707), Đức Phật đã tóm lược chức năng của Thất giác chi trong việc đối trị những chướng ngại, phiền não che phủ tâm hành giả trong quá trình tu tập. Ngài dạy:

“Có năm chướng, năm cái, phiền não nơi tâm, có thể làm sút giảm trí tuệ và làm phần chướng ngại, chẳng phải minh, chẳng phải chính giác, chẳng chuyển hướng Niết-bàn. Những gì là năm? Đó là tham dục cái, sân cái, thùy miên cái, trạo hối cái, nghi cái. Năm cái này là che kín, là bao phủ, phiền não ở tâm, khiến cho trí tuệ bị suy giảm, là phần chướng ngại, chẳng phải minh, chẳng phải đẳng giác, chẳng chuyển hướng Niết-bàn.

Nếu là bảy Giác chi, thì chẳng che kín, chẳng bao phủ, chẳng phiền não nơi tâm, tăng trưởng trí tuệ, là minh, là chính giác, chuyển hướng Niết-bàn.

Những gì là bảy? Đó là Niệm giác chi, Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi, Xả giác chi. Như bảy Giác chi này chẳng che kín, chẳng bao phủ, chẳng phiền não nơi tâm, tăng trưởng trí tuệ, là minh, là chính giác, chuyển hướng Niết-bàn.”

Lời dạy này cho thấy Thất giác chi không chỉ đối trị các bệnh như che kín, bao phủ, phiền não tâm, mà còn làm tăng trưởng trí tuệ, dẫn dắt hành giả đến Niết-bàn. Đức Đạo sư tiếp tục chỉ ra kết quả thực tiễn khi hành giả thực hành Thất giác chi theo trình tự, nhằm loại bỏ dần những vô minh cấu uế làm mờ chướng ngại trên con đường thanh tịnh giải thoát. Theo kinh 711 trong Tạp A-hàm (26), Đức Phật đã dạy Vương tử Vô Úy:

“Nếu Bà-la-môn nào có một niệm thù thắng, quyết định thành tựu; những việc đã làm từ lâu, những lời nói từ lâu, có thể tùy theo nhớ nghĩ, ngay lúc ấy tu tập Niệm giác chi. Khi Niệm giác chi đã tu tập rồi, thì niệm giác đầy đủ. Khi niệm giác đã đầy đủ rồi, thì có sự lựa chọn, phân biệt, tư duy, lúc bấy giờ tu tập Trạch pháp giác chi. Khi đã tu tập Trạch pháp giác chi rồi, thì trạch pháp giác đầy đủ. Khi đã lựa chọn, phân biệt, suy lường pháp rồi, thì sẽ nỗ lực tinh tấn; ở đây, tu tập Tinh tấn giác chi. Khi đã tu tập Tinh tấn giác chi rồi, thì tinh tấn giác đầy đủ.

Khi đã nỗ lực tinh tấn rồi, thì hoan hỷ sẽ sinh, xa lìa các tưởng về thức ăn, tu hỷ giác chi. Khi đã tu Hỷ giác chi rồi, thì hỷ giác đầy đủ. Khi Hỷ giác chi đã đầy đủ rồi, thì thân và tâm khinh an; lúc ấy tu Khinh an giác chi. Khi đã tu Khinh an giác chi rồi, thì khinh an giác sẽ đầy đủ. Khi thân đã khinh an rồi, thì sẽ được an lạc và khi đã an lạc rồi thì tâm sẽ định; khi ấy tu Định giác chi. Khi đã tu Định giác chi rồi, thì định giác sẽ đầy đủ, Khi định giác chi đã đầy đủ rồi, thì tham ái sẽ bị diệt và tâm xả sinh ra; khi ấy tu Xả giác chi. Khi đã tu Xả giác chi rồi, thì xả giác sẽ đầy đủ. Như vậy, này Vô Úy, vì nhân này, duyên này mà chúng sinh thanh tịnh.”

Theo Đức Đạo sư, khi hành giả tu tập Thất giác chi theo thứ tự, các kết quả sẽ lần lượt hiển hiện. Thực hành liên tục, miên mật và đầy đủ sẽ mang lại thành tựu như mong đợi ngay trong hiện tại. Tuy nhiên, một số kinh điển khác lại cho rằng mỗi giác chi tự nó có giá trị riêng, không nhất thiết phải tu tập theo thứ tự để đạt được kết quả. Theo kinh Phật thuyết pháp thừa nghĩa quyết định (2, T. 17, p. 0657b), Đức Đạo sư dạy:

“Thế nào là Thất giác chi? Phật dạy: Đó là Trạch pháp giác chi, niệm giác chi, tinh tấn giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi, hỷ giác chi.

Thế nào là trạch giác chi? Là đối với các pháp, mà có thể lựa chọn, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt, nhiếp phục tranh cãi.

Thế nào là niệm giác chi? Đối các pháp, chính niệm tu tập, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt, nhiếp phục tranh cãi.

Thế nào là định giác chi? Là thường phát khởi diệu huệ thanh tịnh, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt, nhiếp phục tranh cãi.

Sao gọi là tinh tấn giác chi? Đối với việc hành thiện, siêng năng không giải đãi, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt, nhiếp phục tranh cãi.

Thế nào là khinh an giác chi? Đối với các pháp xa lìa thô trọng, điều phục thân tâm, y chỉ ly dục, y chỉ tư duy, y chỉ tịch diệt, nhiếp phục tranh cãi.

Thế nào là xả giác chi? Đối với các pháp xa lìa phóng dật, khiến tâm tịch tịnh; y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt, nhiếp phục tranh cãi.

Thế nào là hỷ giác chi? Đối với các pháp mà sinh hỷ thọ, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch tịnh, nhiếp phục tranh cãi.”

Kinh này cho thấy sự sắp xếp các chi trong Thất giác chi có thể khác nhau và mỗi chi có thể tự hoàn thành kết quả tu tập. Theo Luận A-tỳ-đạt-ma Uẩn túc (9), mối liên hệ chi tiết giữa các hành pháp trong Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là cần thiết vì tính phổ quát của chúng. Do đó, trong pháp hành Thất giác chi, các yếu tố như niệm, tinh tấn, định vẫn được sử dụng như những pháp đã trình bày trong các hành pháp trước, nhằm đối trị tùy theo những chi tiết cần thiết và ứng dụng phù hợp.

1. Niệm Giác Chi

Theo Luận A-tỳ-đạt-ma Uẩn túc (9), khi hành giả muốn tu tập Niệm giác chi trong Thất giác chi, cần thực hành quán Tứ niệm trụ. Đức Đạo sư chỉ dạy rằng, bậc Thánh đệ tử cần trụ tâm vào thân để quán sát, cả bên trong, bên ngoài và cả hai. Khi chánh cần, chánh tri, chính niệm được đầy đủ, hành giả sẽ trừ được tham ưu thế gian. Các niệm này bao gồm niệm theo niệm, chuyên niệm, ức niệm, không quên không mất, không trái, không lọt, không mất pháp tánh, tâm sáng, tánh ghi nhớ. Tất cả những điều này đều thuộc về niệm, còn gọi là niệm căn, niệm lực, giác chi, hay chính niệm, có khả năng chấm dứt khổ đau.

Các bậc hữu học, khi tư duy quán sát các hành như sở kiến của mình, sẽ đạt đến cứu cánh. Họ thấy rõ lỗi lầm trong các hành và công đức vĩnh viễn nơi Niết-bàn. Đối với A-la-hán, tâm giải thoát, sự tư duy quán sát cũng đưa đến cứu cánh và sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý. Các niệm tùy niệm, cho đến tâm minh, tánh nhớ, tất cả đều là Niệm giác chi. Khi hành giả quán sát thân, thọ, tâm và pháp bằng Tứ niệm trụ, biết rõ bản chất của các pháp, thì bước tiếp theo là lựa chọn pháp tu phù hợp.

2. Trạch Pháp Giác Chi

Tiếp nối, bậc Thánh đệ tử cần nhận biết rõ pháp nào là thiện, pháp nào là bất thiện; pháp nào có tội, pháp nào không tội; pháp nào đáng tu, pháp nào không đáng tu; pháp nào hạ liệt, pháp nào thắng diệu; pháp nào đen, pháp nào trắng; pháp đối địch, pháp duyên sinh. Khi hành giả nhận biết rõ tất cả pháp như thật, sẽ có sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý. Sự lựa chọn pháp tu sẽ đạt đến chỗ rốt ráo, không còn phân vân. Hiểu rõ, tỏ tường, thông đạt, quán sát thông tuệ, tuệ hạnh sáng tỏ, tất cả được gọi chung là tuệ, tuệ căn, tuệ lực, Trạch pháp giác chi, hay chính kiến.

Thánh đệ tử có khả năng diệt khổ. Các hàng hữu học, qua tư duy quán sát, sẽ đạt cứu cánh. Họ thấy rõ lỗi lầm trong các hành và công đức vĩnh viễn nơi Niết-bàn. Đối với A-la-hán, tâm giải thoát, sự tư duy quán sát đưa đến cứu cánh và sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý. Trạch pháp giác chi, hay Vipaśyanā (quán pháp), là việc sử dụng trí tuệ nhất tâm để quán xét pháp. Sau khi lựa chọn được pháp tu, hành giả cần siêng năng nỗ lực trong con đường đã chọn.

3. Tinh Tấn Giác Chi

Tiếp đến, sau khi đã biết lựa chọn pháp thiện và ác, trong quá trình thực hành, hành giả cần tinh tấn bằng phương pháp Tứ chánh cần. Để đoạn trừ các ác pháp đã sinh, hành giả siêng năng tinh tấn kiểm soát và giữ gìn tâm. Để ngăn chặn các ác pháp chưa sinh, hành giả cũng cần tinh tấn kiểm soát tâm. Để phát sinh các thiện pháp chưa có, hành giả khởi tâm siêng năng nỗ lực, áp dụng vào việc làm, kiểm soát và giữ gìn tâm.

Để nuôi dưỡng và tăng trưởng các thiện pháp đã phát sinh, hành giả cần siêng năng nỗ lực tinh tấn, giữ tâm thanh tịnh và làm tăng trưởng trí tuệ. Khi hành giả tu tập theo Tứ chánh cần, sẽ có sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý. Sự nỗ lực tinh tấn, mạnh mẽ, kiên cường, hừng hực, gắng ý không dừng nghỉ, tất cả đều thuộc về tinh tấn, tinh tấn căn, tinh tấn lực, Tinh tấn giác chi, hay chánh cần.

Thánh đệ tử có khả năng diệt khổ. Các hàng hữu học, qua tư duy quán sát, sẽ đạt cứu cánh. Họ thấy rõ lỗi lầm trong các hành và công đức vĩnh viễn nơi Niết-bàn. Đối với A-la-hán, tâm giải thoát, sự tư duy quán sát đưa đến cứu cánh và sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý. Mọi nỗ lực tinh tấn, cho đến gắng ý không dừng nghỉ, đều là Tinh tấn giác chi.

4. Hỷ Giác Chi

Khi Thánh đệ tử nỗ lực tinh tấn thực hành pháp đã chọn, nhờ lúc cùng nhau niệm Phật, tâm không bị tham, sân, si trói buộc. Đối với Như Lai, tâm hành giả ngay thẳng, đạt được nghĩa và pháp oai thế. Tâm có khả năng dẫn khởi hân hoan, nhờ đó sinh tâm hoan hỷ. Khi hoan hỷ, thân an, hưởng lạc, tâm định. Khi tâm định, hành giả đối với các loài hữu tình không bình đẳng sẽ trụ vào bình đẳng, đối với các loài hữu tình có não hại sẽ trụ vào không não hại, và được dự vào dòng pháp tu tập, cho đến tác chứng cứu cánh Niết-bàn.

Khi hành giả cùng nhau niệm chính pháp, tức là pháp Phật khéo nói, mát mẻ, hướng dẫn trực quán, giúp bậc trí giả nội chứng. Nhờ đó, tâm không bị tham, sân, si trói buộc. Tâm ngay thẳng, đạt được nghĩa và pháp oai lực. Tâm có khả năng dẫn khởi hớn hở, sinh tâm hoan hỷ, thân an, hưởng lạc, tâm định. Từ đó, hành giả trụ vào bình đẳng, không não hại, dự vào dòng pháp, cho đến tác chứng cứu cánh Niết-bàn.

Khi hành giả cùng nhau niệm Tăng già, tức là đệ tử Phật đã thọ cụ túc giới, đầy đủ đức hạnh. Tăng già bao gồm Tứ song, Bát chích, Bổ-đặc-già-la, đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, đáng kính, ruộng phước vô thượng. Nhờ niệm Tăng, tâm không bị tham, sân, si trói buộc. Tâm ngay thẳng, đạt được nghĩa và pháp oai lực. Tâm có khả năng dẫn khởi hớn hở, sinh tâm hoan hỷ, thân an, hưởng lạc, tâm định. Từ đó, hành giả trụ vào bình đẳng, không não hại, dự vào dòng pháp, cho đến tác chứng cứu cánh Niết-bàn.

Khi hành giả cùng nhau niệm giới, tức là giữ giới thanh tịnh, không khuyết, không thủng, không tạp, không nhơ, được người trí khen ngợi. Nhờ niệm giới, tâm không bị tham, sân, si trói buộc. Tâm ngay thẳng, đạt được nghĩa và pháp oai lực. Tâm có khả năng dẫn khởi hớn hở, sinh tâm hoan hỷ, thân an, hưởng lạc, tâm định. Từ đó, hành giả trụ vào bình đẳng, không não hại, dự vào dòng pháp, cho đến tác chứng cứu cánh Niết-bàn.

Khi hành giả cùng nhau niệm Bố thí, tức là hành giả khéo được thắng lợi, tâm xa lìa nhiễm ô, thực hành bố thí. Tuy sống trong của cải, nhưng không đắm nhiễm, làm tế tự, cúng dường, ban ân, ban vui. Nhờ niệm bố thí, tâm không bị tham, sân, si trói buộc. Tâm ngay thẳng, đạt được nghĩa và pháp oai lực. Tâm có khả năng dẫn khởi hớn hở, sinh tâm hoan hỷ, thân an, hưởng lạc, tâm định. Từ đó, hành giả trụ vào bình đẳng, không não hại, dự vào dòng pháp, cho đến tác chứng cứu cánh Niết-bàn.

Khi hành giả cùng nhau niệm chư Thiên, tức là Tứ đại vương chúng thiên, trời Ba mươi ba, v.v. Chư thiên thành tựu tín, giới, văn, xả, tuệ nên được sinh về các cõi trời hưởng lạc. Hành giả chúng ta cũng có tín, giới, văn, xả, tuệ, cũng sẽ được sinh về các cõi trời đó. Nhờ niệm chư Thiên, tâm không bị tham, sân, si trói buộc. Tâm ngay thẳng, đạt được nghĩa và pháp oai lực. Tâm có khả năng dẫn khởi hớn hở, sinh tâm hoan hỷ, thân an, hưởng lạc, tâm định. Từ đó, hành giả trụ vào bình đẳng, không não hại, dự vào dòng pháp, cho đến tác chứng cứu cánh Niết-bàn.

Hành giả tu tập lục tùy niệm sẽ có sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm hân hoan tột cùng, thích ý vui ý. Tất cả đều thuộc về hỷ, Hỷ giác chi. Thánh đệ tử có khả năng diệt khổ. Các hàng hữu học, qua tư duy quán sát, sẽ đạt cứu cánh, thấy rõ lỗi lầm trong các hành và công đức vĩnh viễn nơi Niết-bàn. Đối với A-la-hán, tâm giải thoát, sự tư duy quán sát đưa đến cứu cánh và sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm hoan hỷ tột cùng, tất cả đều là Hỷ giác chi.

5. Khinh An Giác Chi

Tiếp tục, hành giả nhờ tâm tánh hoan hỷ nhập vào sơ thiền, ngôn ngữ dừng nghỉ, các pháp khác cũng yên nghỉ, đó là trạng thái thuận khinh an thứ nhất. Khi nhập vào nhị thiền, tầm và từ yên nghỉ, các pháp khác cũng yên nghỉ, đó là trạng thái thuận khinh an thứ hai. Khi nhập vào tam thiền, hỷ cũng yên nghỉ, các pháp khác lặng yên, đó là trạng thái thuận khinh an thứ ba. Khi nhập vào tứ thiền, hơi thở ra vào lặng yên, các pháp khác an nghỉ, đó là trạng thái thuận khinh an thứ tư. Tiếp tục nhập vào diệt thọ tưởng định, tưởng thọ vắng bặt, các pháp khác không hiện hữu, đó là trạng thái thuận khinh an thứ năm. Ngoài ra còn có khinh an thượng diệu thứ sáu, tối thắng tối thượng, khi tâm từ tham, sân, si lìa khỏi nhiễm ô mà giải thoát.

Hành giả tư duy về trạng thái này sẽ sở hữu sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm nhẹ nhàng, tánh nhẹ nhàng, gọi chung là khinh an, Khinh an giác chi. Thánh đệ tử có khả năng diệt khổ. Các hàng hữu học, qua tư duy quán sát, sẽ đạt cứu cánh, thấy rõ lỗi lầm trong các hành và công đức vĩnh viễn nơi Niết-bàn. Đối với A-la-hán, tâm giải thoát, sự tư duy quán sát đưa đến cứu cánh và sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, thân, tâm, tánh, loại khinh an, tất cả đều là Khinh an giác chi.

6. Định Giác Chi

Khi hành giả an trú vào sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ và Diệt tận định, sẽ diệt trừ tận gốc rễ các lậu. Trong sơ thiền, nhờ tướng trạng các hành mà xa lìa pháp dục ác bất thiện, có tầm có từ, hỷ lạc sinh ra. Nếu an trụ đầy đủ vào sơ thiền, hành giả không còn tư duy về tướng trạng các hành, mà chỉ tư duy về chỗ đạt được, chỗ hướng về sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Hành giả thấy các pháp này não hại chúng sinh như bệnh hoạn, ung nhọt, tên độc, là vô thường, khổ, không, phi ngã. Tâm vừa ghét vừa lo sợ hãi, đình chỉ, sau đó nhiếp tâm về giới vức cam lồ, tư duy cõi này tịch tĩnh vi diệu, xả bỏ ái hết, lìa nhiễm, vĩnh viễn tịch diệt Niết-bàn.

Giống như xạ sư giỏi, ban đầu học bắn vật gần, sau đó mới có thể bắn vật xa. Hành giả cũng vậy, ban đầu xa lìa pháp dục ác bất thiện, có tầm có từ, hỷ lạc sinh ra. Nếu an trụ đầy đủ vào sơ thiền, sẽ không tư duy về tướng trạng các hành, mà chỉ tư duy về chỗ đạt được, chỗ hướng về sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Hành giả thấy các pháp này não hại chúng sinh, tâm ghét lo sợ hãi, không tạo tác nhân, sau đó nhiếp tâm về giới vức cam lồ, tư duy cõi này tịch tĩnh vi diệu, xả bỏ ái hết, lìa nhiễm, vĩnh viễn tịch diệt Niết-bàn. Khi biết và thấy như vậy, hành giả từ tâm dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu được giải thoát.

Trong nhị thiền, tầm từ trở nên tịch tĩnh, bên trong tâm tịnh một mực hướng về tự tánh, không còn tầm từ, nhờ định mà hỷ lạc sinh ra. Nếu an trụ đầy đủ vào nhị thiền, hành giả không còn tư duy về tướng trạng các hành, mà chỉ tư duy về chỗ đạt được, chỗ hướng về sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Điều này cũng tương tự cho đến vô sở hữu xứ. Khi nhập vào vô sở hữu và an trụ đầy đủ, hành giả không còn tư duy về tướng trạng các hành, mà chỉ tư duy về chỗ đạt được, chỗ hướng về thọ, tưởng, hành và thức.

Phi tưởng phi phi tưởng xứ cùng Diệt tận định, việc xuất nhập định của hành giả cũng như bảy định trên, sẽ có sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, an trụ tâm, an trụ bình đẳng cho đến tâm chỉ còn duy nhất một tánh cảnh. Tất cả đều thuộc về định, Định giác chi, hay chánh định. Thánh đệ tử có khả năng diệt khổ. Các hàng hữu học, qua tư duy quán sát, sẽ đạt cứu cánh, thấy rõ lỗi lầm trong các hành và công đức vĩnh viễn nơi Niết-bàn. Đối với A-la-hán, tâm giải thoát, sự tư duy quán sát đưa đến cứu cánh và sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm an trụ bình đẳng, cho đến tâm chỉ còn tánh cảnh duy nhất, tất cả đều là Định giác chi.

7. Xả Giác Chi

Đến đây, hành giả nhờ tư duy về đoạn giới, ly giới, diệt giới trong những định trên, và nhờ tâm phát khởi tính bình đẳng, tâm trở nên tánh chính trực, không còn cảnh giác mà an trụ vào tính tịch tĩnh. Lúc bấy giờ, hành giả tự nghĩ: “Nay ta nên đối với các pháp thuận tham, thuận sân, thuận si mà xa lìa chúng, nhờ tâm phát khởi tính bình đẳng, tâm trở nên tánh chính trực, không còn cảnh giác mà an trụ vào tính tịch tĩnh.” Lại tự nghĩ: “Nay ta nên đối với các pháp tham, sân, si, tâm không còn nhiếp thọ; do tâm phát khởi tính bình đẳng, tâm trở nên tánh chính trực, không còn cảnh giác mà an trụ vào tính tịch tĩnh.”

Hành giả nhờ xem xét tư duy sáu pháp thuận xả mà có sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm trụ vào tính bình đẳng, tâm trụ vào tính chính trực, tâm không còn cảnh giác mà trụ vào tính tịch tĩnh. Tất cả đều thuộc về xả, Xả giác chi. Thánh đệ tử có khả năng diệt khổ. Các hàng hữu học, qua tư duy quán sát, sẽ đạt cứu cánh, thấy rõ lỗi lầm trong các hành và công đức vĩnh viễn nơi Niết-bàn. Đối với A-la-hán, tâm giải thoát, sự tư duy quán sát đưa đến cứu cánh và sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm trụ vào tính bình đẳng, tâm trụ vào tính chính trực, tâm không còn cảnh giác mà trụ vào tính tịch tĩnh, tất cả đều là Xả giác chi.

Những kinh-luận trên cho chúng ta một cái nhìn duyên khởi hơn về việc tu tập để đối trị ba độc tham, sân, si bằng cách ly chúng, dẫn đến giác ngộ giải thoát. Việc tu tập theo thứ tự từ giác chi thứ nhất đến thứ bảy có sự liên đới, hỗ tương cần thiết. Tuy nhiên, mỗi giác chi tự nó cũng có thể hoàn thành kết quả tu tập riêng. Đức Đạo sư đã dạy trong Tăng Chi Bộ (Agguttara Nikaya): “Tu tập một giác chi đã có thể thành tựu mục đích của đời sống phạm hạnh, huống nữa là tu tập cả Thất giác chi”.

Ngay trong chính niệm của niệm giác chi đã bao hàm trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi và xả giác chi. Nếu thiếu một trong các yếu tố này, chính niệm sẽ không hiện hữu và không đạt được kết quả. Do đó, sự thành tựu trong tu tập qua một giác chi nào đó cũng chính là sự thành tựu của cả bảy giác chi đồng lúc. Đây là điểm vi tế sâu xa của bản thể luận duyên khởi hiện quán. Theo hiện tượng luận, có bảy chi pháp riêng biệt, để hành giả tuần tự hoàn thành chúng theo thời gian. Đây là đặc điểm khế cơ khế lý trong phương pháp giáo dục và tu tập của đạo Phật.

Đại Lãn

Tìm hiểu thêm: Sadhu: Hơn cả lời tán thán, đó là sự tùy hỷ và khuyến khích

Xem thêm: Namo Buddha, Nepal: Nơi Tái Sinh Lòng Từ Bi Cao Cả – Bí Ẩn Tiền Thân Đức Phật Hiến Mình Cho Hổ

Khám phá: Mất mát vật chất: Bài học về giá trị vô thường và tìm thấy bình an

Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về con đường dẫn đến an lạc và giải thoát, hãy tiếp tục khám phá chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang