Cõi Phật Cõi Tâm: Hành Trình Tìm Về Bình An Nội Tại

70 2004 1
0
(0)

Khám phá Tịnh độ tông, một con đường tâm linh rộng mở hướng đến bình an nội tại, được khai triển từ nền tảng ba bộ kinh uyên thâm. Hành trình này mời gọi bạn tìm hiểu sâu hơn về sự nhiệm màu của cõi Cực lạc và sức mạnh của việc phát nguyện, như được chia sẻ trên Chia sẻ Đạo Phật.

Pháp môn Tịnh độ, một trong những tông phái lớn của Phật giáo Trung Quốc và nổi bật tại Việt Nam, thể hiện tính khế cơ, khế lý của đạo Phật qua sự đa dạng trong tu tập. Pháp môn này nhằm đáp ứng nhu cầu tu hành của chúng sanh thuộc nhiều căn tính và quốc độ khác nhau, hướng tới mục tiêu giác ngộ và giải thoát.

Nền tảng của Tịnh độ tông là ba bộ kinh: Phật thuyết A Di Đà Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh và Quán Vô Lượng Thọ Kinh. Kinh A Di Đà, do Đức Phật Thích Ca thuyết giảng tại Tịnh xá Kỳ Viên, giới thiệu về Đức Phật A Di Đà và cõi Cực lạc trang nghiêm, khuyến khích chúng sanh trì niệm danh hiệu Ngài để cầu vãng sanh. Sự tán dương và ấn chứng của mười phương chư Phật trong kinh này càng củng cố niềm tin cho người niệm Phật.

Cõi Phật – Cõi tâm 1

Phát nguyện là khát khao mong cầu được Đức Phật A Di Đà cùng Thánh chúng tiếp dẫn về cõi Cực lạc sau khi qua đời.

Kinh Vô Lượng Thọ, được Đức Phật Thích Ca tuyên thuyết tại núi Kỳ Xà Quật, thành Vương Xá, kể về quá trình tu hành Bồ tát đạo của Tỳ kheo Pháp Tạng (tiền thân của Phật A Di Đà). Ngài đã phát 48 lời đại nguyện trước Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai để trang nghiêm Phật độ và nhiếp hóa chúng sanh. Kinh cũng mô tả công đức và trí tuệ của Thánh chúng cõi Cực lạc, khơi dậy lòng khao khát vãng sanh nơi chúng sanh.

Tại Vương cung vua Tần Bà Sa La, Đức Phật Thích Ca đã thuyết Kinh Quán Vô Lượng Thọ theo lời thỉnh cầu của Hoàng hậu Vi Đề Hy. Kinh này trình bày mười sáu pháp quán làm cơ sở cho việc vãng sanh về Tịnh độ.

Cõi Phật – Cõi tâm 2

Phật tử Tịnh độ cần an trú tâm vào tánh Phật, không để vọng tưởng và cảnh trần chi phối, dần dần làm tâm thanh tịnh để thể nhập cảnh giới “Nhất tâm bất loạn”. (phatgiao.org.vn)

Pháp môn Tịnh độ, hay Niệm Phật, là pháp môn thực hành dựa trên việc trì niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà với mục tiêu cầu vãng sanh về cõi Tây phương Cực lạc. Chữ “Niệm” (念) trong “Niệm Phật” (念佛) kết hợp chữ “Kim” (今 – hiện tại) và “Tâm” (心 – tâm ý), diễn tả hành động giữ tâm ý an trú vào một đối tượng trong giây phút hiện tại, đó là chư Phật. Niệm Phật là khoảnh khắc tâm hiện diện của Phật trong tâm mình, là sự tưởng nhớ đến danh hiệu, công đức và trí tuệ của chư Phật, đặc biệt là Đức Phật A Di Đà đối với tông Tịnh độ.

TÍN – HẠNH – NGUYỆN: NỀN TẢNG CĂN BẢN CỦA TU TẬP TỊNH ĐỘ

Nhiều người lầm tưởng pháp môn Tịnh độ chỉ đơn giản là niệm Phật để vãng sanh, phù hợp với Phật tử bình dân. Tuy nhiên, niệm Phật chỉ là một phần nhỏ. Để việc cầu vãng sanh thành tựu, hành giả cần xây dựng nền tảng vững chắc từ ba yếu tố cốt lõi: Tín, Hạnh và Nguyện.

Tín là niềm tin chân chính, bất diệt vào Tam bảo: tin vào chư Phật là những bậc giác ngộ đầy trí tuệ và từ bi; tin vào giáo pháp có khả năng dẫn dắt thoát khổ; tin vào Tăng đoàn là những người hướng dẫn tu hành chân chính; tin vào sự tồn tại của cõi Tây phương Cực lạc và Đức Phật A Di Đà; tin vào 48 lời đại nguyện của Ngài. Quan trọng hơn, Tín còn là niềm tin vào tự tánh thanh tịnh và khả năng giác ngộ của bản thân, tin rằng nỗ lực hành trì niệm Phật sẽ mang lại kết quả.

Cõi Phật – Cõi tâm 3

Niềm tin (Tín) là sự tin tưởng chân chính, kiên cố vào Tam bảo, chư Phật, giáo pháp và Tăng đoàn, cũng như tin vào bản thân có khả năng giác ngộ.

Nguyện là phát nguyện, là sự khát khao sâu sắc mong cầu được Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn về cõi Cực lạc sau khi chết. Nguyện có tha thiết thì sự thành tựu mới viên mãn. Theo Đại sư Trí Giả, nguyện sinh về Tịnh độ bao gồm hai yếu tố: Yểm ly và Hân nguyện. Yểm ly là tâm nhàm chán thế gian giả tạm, vô thường, khổ đau, từ bỏ mọi tham ái. Hân nguyện là chí nguyện duy nhất là cầu vãng sanh Tịnh độ.

Hạnh là yếu tố không thể thiếu để việc tu tập thành tựu. Đại sư Ngẫu Ích nhấn mạnh: “Được vãng sanh đều do ở Tín và Nguyện, phẩm vị cao hay thấp là bởi ở chỗ hành trì có cạn hay sâu”. Có nhiều phương pháp niệm Phật: “Trì danh niệm Phật” là niệm danh hiệu Phật với tâm tha thiết, chí thành, không tạp niệm; “Quán tượng niệm Phật” là nhiếp tâm vào thân tướng Phật A Di Đà; “Quán tưởng niệm Phật” là quán tưởng về Chánh báo và Y báo cõi Cực lạc; và “Thật tướng niệm Phật” là thể nhập vào bản tâm thanh tịnh, vắng lặng. Mục tiêu cuối cùng là đạt cảnh giới “Nhất tâm bất loạn”.

GIỚI – ĐỊNH – TUỆ: TRỢ LỰC THIẾT YẾU

Khám phá: Động Lực Giác Ngộ: Vì Sao Tâm Hồn Lựa Chọn Lối Đi Về

Trong khi Thiền tông lấy tọa thiền quán chiếu tự tâm, Mật tông dùng thần chú để định ý, thì Tịnh độ tông nương vào danh hiệu Phật A Di Đà để loại trừ tạp niệm, phiền não. Dù phương thức khác nhau, các pháp môn đều quy về giáo lý cốt lõi là Tam vô lậu học: Giới, Định, Tuệ. Hành giả Tịnh độ, ngoài Tín – Hạnh – Nguyện, cần có sự hỗ trợ của Giới – Định – Tuệ.

Danh hiệu “A Di Đà” (Amita/Amitābha/Amitāyus) trong tiếng Phạn có nghĩa là Vô Lượng Công Đức, Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ. “Vô Lượng” vượt ngoài khả năng đo lường của thế gian. Vô Lượng Quang biểu trưng cho trí tuệ giải thoát (Tuệ); Vô Lượng Thọ biểu trưng cho đại định, tâm giải thoát không vọng tưởng (Định); Vô Lượng Công Đức biểu trưng cho Thánh giới uẩn giải thoát (Giới). Do đó, danh hiệu Phật A Di Đà là biểu trưng cho tự tánh giác ngộ giải thoát của chúng sanh.

Niệm Phật A Di Đà chính là Niệm Giới – Niệm Định – Niệm Tuệ, là niệm tự tánh giải thoát của bản thân. Vì vậy, niệm suông danh hiệu Phật mà không thực hành Giới – Định – Tuệ sẽ khó đạt được vãng sanh.

Niệm Giới đòi hỏi hành giả nhớ nghĩ và thực hành những điều đạo đức đã thọ trì (Ngũ giới, Bát quan trai giới, Thập thiện, giới Tỳ kheo/Tỳ kheo ni, Bồ tát giới). Mục đích là thúc liễm ba nghiệp Thân, Khẩu, Ý, từ bỏ ác pháp, phát triển công đức qua việc làm thiện lành.

Niệm Định là giữ tâm ý thanh tịnh thông qua hồng danh chư Phật. Hành giả quán sát mọi niệm khởi lên (ác hoặc thiện) mà không bám víu, chỉ chuyên chú vào danh hiệu Phật. Việc giữ chánh niệm, tỉnh giác trong mọi oai nghi và sinh hoạt hàng ngày, duy trì hồng danh Phật trong tâm, giúp thanh lọc tâm ý và ngăn ác pháp sinh khởi.

Niệm Tuệ là quán sát sự vật, hiện tượng “đúng như nó đang là” (Như lý tác ý), theo lý Duyên sinh, Nhân – Quả, với cái nhìn Chánh kiến. Hành giả Tịnh độ thấy rõ bản chất vô ngã, vô thường, khổ của vạn pháp khi chấp thủ.

Cốt lõi của niệm Phật là giữ tâm thanh tịnh để đạt “nhất tâm”. Hành giả cần trụ tâm vào từng chữ trong câu niệm Phật, nhận biết và xả bỏ vọng cảnh trần khi khởi lên, an trú vào danh hiệu Phật. Từ đó, hành giả dần đạt Chánh định và tiến tới “Niệm Phật tam muội”.

BA NGHIỆP THANH TỊNH, CÙNG PHẬT ĐẾN TÂY PHƯƠNG

Nội dung các kinh điển Tịnh độ, từ danh hiệu chư Phật đến vật liệu cấu tạo cõi Tịnh độ, đều mang ý nghĩa biểu tượng của Giới – Định – Tuệ. Tịnh độ không chỉ là một cõi nước bên ngoài, mà còn là cõi Tâm thanh tịnh, được hình thành bởi Giới – Định – Tuệ và Tín – Hạnh – Nguyện. Do đó, hành giả cần song hành hai phương diện: phát nguyện vãng sanh về cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà (Sự) và xây dựng cõi Tịnh độ ngay trong tâm thức bằng việc tu tập Giới – Định – Tuệ (Lý).

Trì niệm không chỉ là xưng danh hiệu Phật một cách hình thức, mà là nhiếp niệm, nhiếp tâm vào Giới – Định – Tuệ trên nền tảng Tín – Hạnh – Nguyện để hàng phục phiền não. Biến những cấu uế, phiền não thành bảy báu trang nghiêm nơi cõi Tịnh độ trong tự tâm. Cầu nguyện không chỉ là mong cầu tha lực, mà là tự thân thực hành Tam vô lậu học trong sinh hoạt hàng ngày để gieo nhân giải thoát. Vãng sanh Cực lạc không chỉ là được tiếp dẫn sau khi chết, mà là sự rời bỏ uế nhiễm tâm, hướng về thiện tâm và giải thoát tâm, dùng công đức thanh tịnh của Thân – Khẩu – Ý để trang nghiêm cõi Tâm Tịnh độ ngay khi còn sống.

Tìm hiểu thêm: Hành Trình Giác Ngộ: Lời Phật Dạy Vượt Thời Gian Dẫn Lối

Kinh Duy Ma Cật dạy: “Tâm tịnh thì độ tịnh”. Khi tâm thanh tịnh, phiền não thế gian dứt bặt, thì đâu đâu cũng là đạo tràng, đâu đâu cũng là Tịnh độ. Ngay tại cõi Ta bà ô nhiễm này, chúng ta vẫn có thể kiến tạo Tịnh độ khi tâm trở nên thanh tịnh. Điều này tạo điều kiện tốt nhất để vãng sanh, và sự tiếp dẫn của Phật A Di Đà chỉ là trợ lực thêm vào giây phút cận tử nghiệp.

“Giới – Định – Tuệ thoát Ta bà

Tín – Hạnh – Nguyện sinh Tịnh độ”.

Cõi Phật – Cõi tâm 4

Niệm Tuệ là quán sát sự vật, hiện tượng một cách chân thực (Như lý tác ý), nhận thức rõ bản chất vô ngã, vô thường, khổ của vạn pháp.

Đức Phật dạy: “Hãy sống tự mình làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỳ-kheo, hãy nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác. Hãy lấy pháp làm hòn đảo, hãy lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác”. Chúng ta chính là người bước đi trên lộ trình hướng về Tịnh độ, bắt đầu bằng việc thiết lập cõi Tịnh độ từ tâm ngay giây phút hiện tại, dựa trên nền tảng Giới – Định – Tuệ và Tín – Hạnh – Nguyện. Qua nỗ lực tự thân hành trì, thanh lọc tâm, làm vô số công đức thiện lành, kết thiện duyên, chúng ta mới mong hóa sinh trong hoa sen nơi cõi Cực lạc. Khi một danh hiệu Phật hiển hiện trong tâm, đó là khi một chúng sanh phiền não được đưa về Cực lạc, và ta lại tiến thêm một bước trên lộ trình về Tịnh độ. Khi đó, tâm ta chính là cõi Phật, như lời Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông đã viết:

“Tịnh độ là lòng trong sạch

Chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương

Di Đà là tính sáng soi

Xem thêm: Hồng Danh Sám Hối: Con Đường Chuyển Hóa Bản Thân Vượt Qua Lỗi Lầm

Mựa phải nhọc tìm về Cực lạc”.

Chú thích:

[1] HT. Thích Trí Tịnh dịch, Kinh A Di Đà nghĩa, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.

[2] HT. Thích Đức Niệm – CS. Minh Chánh dịch, Phật thuyết Đại thừa Vô lượng thọ Trang nghiêm Thanh tịnh Bình đẳng giác Kinh, Nxb. Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh, 2018.

[3] Thích Hưng Từ dịch, Kinh Quán Vô lượng thọ Phật, Nxb. Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh, 2018.

[4] HT.Thích Thiền Tâm dịch, Quê hương Cực lạc, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2010, tr.25.

[5] Đại sư Ấn Quang, Ấn Quang Đại sư gia ngôn lục, Như Hoà dịch, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2014, tr.94.

[6] Thích Chơn Thiện, Tư tưởng Kinh Đại thừa, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr.54 – 55.

[7] HT. Thích Minh Châu dịch; Kinh Tương Ưng Bộ I , V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn Đảo; Nxb. Tôn Giáo; Hà Nội; 2013; tr.673.

[8] HT. Thích Minh Châu dịch; Kinh Tiểu Bộ I, Pháp Cú; Nxb. Tôn Giáo; Hà Nội; 2015; tr.81.

Hành trình tìm về bình an nội tại không chỉ dừng lại ở đây, mời bạn tiếp tục khám phá thêm những bài viết sâu sắc về Đạo phật để mở rộng kiến thức và nuôi dưỡng tâm hồn.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang