Giữa dòng chảy của thời mạt pháp, khi lời Phật có nguy cơ mai một, Kinh Vô Lượng Thọ nổi lên như ngọn hải đăng dẫn lối, soi đường cho chúng sanh tìm về bờ giác. Để hành trì tinh tấn hơn, đặc biệt là với những ai bận rộn, một phương pháp thực hành linh hoạt đã được đề xuất, giúp giữ vững niềm tin trên bước đường tu tập, có thể khám phá thêm tại chiasedaophat.com.
Nghi Thức Công Phu Buổi Tối: Tụng Kinh Vô Lượng Thọ (Phẩm 32-37)
Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác là một bộ kinh nền tảng, nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã trình bày chi tiết về cảnh giới Tây Phương Cực Lạc, đồng thời làm rõ nguyện lực của Đức Phật A Di Đà và mối liên hệ sâu sắc giữa chúng sanh cõi Ta Bà với Ngài.
Đức Phật cũng nhấn mạnh rằng, trong thời mạt pháp, khi Phật pháp có nguy cơ suy tàn, pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ nổi lên như một phương pháp tối ưu để chúng sanh thoát ly vòng luân hồi sinh tử. Kinh Vô Lượng Thọ được xem là bộ kinh cuối cùng còn sót lại trên thế gian, tồn tại thêm 100 năm nữa trước khi mạt pháp kết thúc hoàn toàn. Do đó, việc nghiên cứu và tin tưởng vào những lời dạy trong kinh này được coi là yếu tố then chốt để đạt được giác ngộ và giải thoát.
Đối với những Phật tử có quỹ thời gian hạn hẹp, Hòa thượng Pháp sư Tịnh Không đã đưa ra một phương pháp thực hành linh hoạt. Thay vì tụng trọn bộ kinh, có thể chia thời khóa tụng kinh thành hai phần: buổi sáng tụng Phẩm thứ 6 (Phát đại thệ nguyện) và buổi tối tụng từ Phẩm thứ 32 đến Phẩm thứ 37. Phương pháp này vẫn đảm bảo sự viên mãn trong việc thực hành.
Dưới đây là nội dung và thời khóa nghi thức công phu buổi tối, tập trung vào việc tụng Kinh Vô Lượng Thọ từ phẩm thứ 32 đến phẩm thứ 37, dành cho các Phật tử tham khảo và thực hành.
1. Nguyện Hương
Nguyện mây hương quý lan tỏa khắp mười phương cõi, thành tâm dâng cúng chư Phật, tôn pháp, các vị Bồ Tát, cùng vô biên chúng Thanh Văn và tất cả bậc Thánh Hiền. Nguyện hương này khởi nguồn từ lòng đại bi, lan tỏa đến khắp chúng sanh, giúp họ đều phát tâm Bồ Đề, và sau khi mãn báo thân này, được sinh về cõi Cực Lạc.
Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)
2. Tán Thán Phật
Thân sắc Như Lai thật trang nghiêm, trong đời không ai sánh bằng, không thể nghĩ bàn. Vì vậy, con nay xin đảnh lễ Sắc thân của Ngài. Trí tuệ vô tận của Phật cũng tương tự, thấu suốt tất cả pháp thường trụ. Con xin nương vào sức nguyện lớn và trí tuệ lớn của Ngài để độ khắp chúng sanh, khiến họ lìa bỏ thân khổ đau, sinh về cõi Cực Lạc an vui. Con nay thanh tịnh ba nghiệp, quy y và lễ tán Ngài, nguyện cùng tất cả chúng sanh đồng được sinh về cõi Cực Lạc.
3. Nhất Tâm Đảnh Lễ
Con nay chí tâm đảnh lễ:
- Nam Mô Thường Tịch Quang Tịnh Độ A Di Đà Như Lai, Pháp Thân mầu nhiệm thanh tịnh khắp Pháp Giới Chư Phật. (lạy 1 lạy)
- Nam Mô Thật Báo Trang Nghiêm Độ A Di Đà Như Lai, Thân tướng hải vi trần khắp Pháp Giới Chư Phật. (lạy 1 lạy)
- Nam Mô Phương Tiện Thánh Cư Độ A Di Đà Như Lai, Thân trang nghiêm giải thoát khắp Pháp Giới Chư Phật. (lạy 1 lạy)
- Nam Mô Cõi An Lạc Phương Tây A Di Đà Như Lai, Thân căn giới Đại Thừa khắp Pháp Giới Chư Phật. (lạy 1 lạy)
- Nam Mô Cõi An Lạc Phương Tây A Di Đà Như Lai, Thân hóa đến Mười Phương khắp Pháp Giới Chư Phật. (lạy 1 lạy)
- Nam Mô Cõi An Lạc Phương Tây Giáo Hạnh Lý Ba Kinh, tột nói bày Y Chánh khắp Pháp Giới Tôn Pháp. (lạy 1 lạy)
- Nam Mô Cõi An Lạc Phương Tây Quán Thế Âm Bồ Tát, thân tử kim muôn ức khắp Pháp Giới Bồ Tát. (lạy 1 lạy)
- Nam Mô Cõi An Lạc Phương Tây Đại Thế Chí Bồ Tát, thân trí sáng vô biên khắp Pháp Giới Bồ Tát. (lạy 1 lạy)
- Nam Mô Cõi An Lạc Phương Tây Thanh Tịnh Đại Hải Chúng, thân hai nghiêm phước trí khắp Pháp Giới Thánh Chúng. (lạy 1 lạy)
4. Tán Lư Hương
Lư hương vừa ngún chiên đàn, khói thơm lan tỏa khắp muôn ngàn cõi xa. Lòng con kính ngưỡng thiết tha, mong chư Phật chứng minh.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).
5. Bài Văn Phát Nguyện
Nam mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo (3 lần).
Con nay phát nguyện lớn, trì tụng Kinh Vô Lượng Thọ, để đền đáp bốn ơn nặng và cứu khổ ba đường. Nếu ai thấy nghe, đều phát tâm Bồ Đề, khi mãn báo thân này, đều sinh về cõi Cực Lạc.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. (3 lần)
6. Kệ Khai Kinh
Phật Pháp vốn sâu xa nhiệm màu, trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu. Nay con nghe thấy, chuyên trì tụng, nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm màu…
Nam Mô Đại Thừa Vô Lượng Thọ Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).
7. Tụng Nội Dung Kinh (Phẩm 32 – 37)
Phẩm 32: Thọ Lạc Không Cùng Tận
Đức Phật giải thích cho Di Lặc Bồ Tát và chư thiên, nhân loại rằng công đức trí tuệ của Thanh Văn, Bồ Tát tại cõi Phật Vô Lượng Thọ là vô cùng tận. Cảnh giới thanh tịnh, an lạc và vi diệu của cõi Cực Lạc là không thể diễn tả hết. Pháp môn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ là pháp môn tối thượng, giúp hành giả xuất nhập tự tại, cúng dường chư Phật, quán chiếu tu đạo, đạt được pháp hỷ viên mãn, trí tuệ sáng suốt và tâm không thối chuyển. Hành giả sống an nhàn, tinh tấn tu hành, dung nhiếp cả thái hư, đạt đến trung đạo. Sự tương ưng giữa nội tâm và ngoại cảnh, sự trang nghiêm tự nhiên, hành động chánh trực, thân tâm khiết tịnh, không nhiễm ái dục, chí nguyện kiên định, không tăng không giảm, cầu đạo hòa chánh, không bị tà tâm lay chuyển, luôn tuân lời Phật dạy. Nếu đã quyết tâm, cần kiên trì, không nghĩ ngợi điều khác, không lo buồn ưu não, an nhiên vô vi. Tâm rỗng rang như hư không, không chấp trước vào một pháp nào, bình thản không tham dục, trọn thành thiện nguyện, dốc lòng cầu tiến, thể hiện lòng từ bi ai mẫn, lễ nghĩa đầy đủ, sự lý viên dung, đạt đến giải thoát. Tự tánh thanh tịnh, chí nguyện vô thượng, thân tâm tịch định an lạc. Khi tâm khai ngộ, hành giả sẽ đạt lý giác ngộ triệt để, thấy được thật tướng các pháp, bản thể vũ trụ, quang sắc xen nhau, tất cả đều là như như, biến chuyển vô cùng. Từ đó, hành giả nắm rõ vạn vật, sáng sạch hiển lộ, tột đẹp vô cùng, không gì sánh được, rõ ràng không trên dưới, thông suốt không ngằn mé. Vì vậy, cần siêng năng tinh tấn tu tập để chắc chắn được vãng sanh về cõi vô lượng thanh tịnh của Phật A Di Đà, chấm dứt năm đường sinh tử, đóng kín ác đạo. Việc đạt đạo không khó, vãng sanh há lại không được sao! Cõi kia không trái lẽ, thuận theo tự nhiên, bỏ tất cả như hư không. Siêng năng niệm Phật cầu sanh quyết đến Cực Lạc, thọ mạng an lạc không cùng. Sao còn tham đắm thế sự, vốn toàn là vô thường, đầy dẫy sầu khổ?
Phẩm 33: Khuyến Dụ Sách Tấn
Con người vì tranh đua mà sống trong cảnh khổ cực, nhọc thân làm lụng để tự cung cấp. Dù tôn quý hay ti tiện, nghèo khổ hay giàu sang, lớn nhỏ, trai hay gái, đều phải lao tâm khổ trí, suy nghĩ lo toan. Không nhà thì lo nhà, quyến thuộc, tài vật, có hay không cũng lo. Có rồi lại sợ thiếu, muốn bằng người khác. Do đó, cần biết ít muốn vừa đủ. Lại còn lo sợ vô thường, nước lửa, trộm cướp, oan gia trái chủ. Dù lửa thiêu, nước chìm, tiêu tan sạch sẽ, tâm ý vẫn không chịu buông xả. Mạng chung hết thở, không ai tránh khỏi, nghèo giàu như nhau, sầu khổ trăm mối. Vì vậy, ở đời, cha con, anh em, vợ chồng, thân thuộc nên thương kính nhau, không nên ghét giận. Có thì nên thông cảm, không nên tham tiếc. Lời nói hòa nhã, đừng chống đối nhau. Hễ tranh cãi liền sinh giận dữ, thành oán thù nhiều kiếp về sau. Sự việc ở đời mang lại nhiều khổ lụy, dù chưa gặp phải, cũng phải gấp có ý tưởng ngăn trừ. Con người vì ái dục mà phải sinh tử qua lại trong sáu nẻo, tự chịu khổ vui, không ai thay thế. Lành dữ biến hóa theo đó mà thọ sanh, không đồng, tụ họp không hạn kỳ. Lúc còn cường tráng sao không nỗ lực tu tập, đợi đến lúc nào?
Người đời không phân biệt được tốt xấu, cát hung, họa phước. Thần trí ngu muội, lại theo các giáo điều sai lầm, liên tiếp điên đảo. Nguồn gốc vô thường, mê mờ không chịu suy xét, chẳng tin kinh pháp, không biết lo xa, say mê giận hờn, tham đắm tài sắc, trọn chẳng ngừng nghỉ, thật đáng thương thay!
Đời trước ngu muội, không biết đạo đức, không ai chỉ bảo, có gì lạ đâu? Sinh tử luân hồi, thiện ác báo ứng đều chẳng tin tưởng, cho là không có. Tự thử nhìn lại: Cha khóc con, con khóc cha, anh em vợ chồng than khóc lẫn nhau, một đời sinh tử tiễn đưa thương tiếc, buồn thương trói buộc không sao giải nổi. Nghĩ nhớ ân sâu không ngoài tình dục. Sao chẳng suy cùng xét kỹ, chuyên tâm hành đạo? Khi tuổi già mạng hết, không biết làm sao?
Kẻ mê thì nhiều, người ngộ đạo rất ít. Phần nhiều ôm lòng giết hại, ác khí tràn đầy, làm điều hư dối, trái ngược trời đất, mặc tình tạo tội. Khi mạng sống hết, đọa vào ác đạo, không biết ngày ra. Các ngươi phải nghĩ kỹ, xa lìa điều ác, siêng làm việc lành. Ái dục vinh hoa không thể giữ mãi, đều phải ly biệt, chẳng có vui gì! Nên phải siêng năng tinh tấn cầu sanh về cõi An Lạc, được trí tuệ sáng suốt, công đức thù thắng, đừng theo tâm tham dục, cô phụ kinh giới, uổng phí đời sau.
Phẩm 34: Tâm Được Mở Sáng
Ngài Di Lặc Bồ Tát bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Lời Thế Tôn dạy rất sâu, rất đúng, nhờ ơn đức từ bi giải thoát ưu khổ. Phật là Đấng Pháp Vương tôn quý, siêu việt trong hàng Thánh, quang minh vô tận, trí tuệ không cùng, Đạo sư khắp cả trời người. Ngày nay con được gặp Phật, lại được nghe hồng danh Vô Lượng Thọ, tâm trí được sáng tỏ, rất là vui mừng”.
Phật bảo Di Lặc Bồ Tát: “Kính Phật là điều đại thiện, niệm Phật còn quan trọng hơn. Niệm Phật giúp cắt hết lưới nghi, dứt hết ái dục, lấp hết nguồn ác, đi khắp ba cõi không bị chướng ngại, khai thị chánh đạo, độ người chưa độ. Các ngươi phải biết chúng sanh mười phương, nhiều kiếp đến nay luân chuyển trong năm đường, sầu khổ không dứt. Sanh đã là khổ, già cũng khổ, bệnh càng khổ hơn, chết rất đau khổ. Hôi thúi bất tịnh, không có gì vui. Nên quyết cắt đứt, tẩy trừ tâm xấu, nói năng hành động thành tín, trong ngoài hợp nhất. Trước tự độ mình, lại ra độ người, hết lòng cầu nguyện, chứa nhóm căn lành. Chỉ cần tinh tấn, khó nhọc một đời ngắn ngủi, về sau được sanh về cõi Vô Lượng Thọ, an vui vô cùng, vĩnh viễn dứt sạch sinh tử, không còn khổ hoạn, thọ mạng ngàn vạn kiếp, tự tại tùy ý. Nên phải tinh tấn cầu đạt, tâm nguyện không được nghi ngờ. Như còn chút nghi hoặc, sẽ sanh về cung điện thất bảo ở biên địa của cõi Cực Lạc, chịu các tai ách, trải qua năm trăm năm”.
Ngài Di Lặc bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn! Chúng con xin vâng lời Phật dạy, chuyên cần tu học, y giáo phụng hành, không dám có lòng nghi ngờ”.
Phẩm 35: Trược Thế Ác Khổ
Phật bảo Di Lặc: “Các ngươi sanh trong đời này, tâm ý chánh trực, không làm điều ác, đó là có đức hạnh lớn. Vì sao vậy?
Mười phương thế giới của chư Phật, thiện nhiều ác ít, rất dễ khai hóa. Chỉ có thế gian năm ác trược này rất là cực khổ. Ta nay thành Phật ở đây để giáo hóa quần sanh, bỏ năm điều dữ, dứt năm sự thống khổ, lìa năm sự thiêu đốt, điều phục tâm ý, khiến làm năm điều lành, phước đức được thành tựu.
Những gì là năm?
- Điều thứ nhất: Các loài chúng sanh ở thế gian thích làm điều ác, mạnh hiếp yếu, chèn ép nhau, tàn sát tổn hại, ăn nuốt lẫn nhau, không biết làm lành để chịu hậu quả. Nên có kẻ cùng khổ, cô độc, câm điếc đui ngọng, si ác ngông cuồng, là do đời trước không tin đạo đức, không chịu làm lành. Những hạng tôn quý, hào phú, hiền minh, trưởng giả, trí dũng tài cao, là do biết từ ái hiếu thuận, tu thiện tích đức từ đời trước.
Khi còn sanh tiền đã làm sai trái, sau khi mạng chung vào chốn u minh, chuyển thọ thân hình, sanh vào các nẻo. Nên có địa ngục, súc sanh – ví như lao ngục ở thế gian có cực hình kịch khổ. Thần thức tùy tội đã tạo mà thọ mạng có dài ngắn theo nhau trả báo. Tội ác chưa hết lại tiếp tục chịu tội, xoay vần nhiều kiếp không thôi, rất khó giải thoát, khổ thống không thể nói hết được! Ác đạo tuần hoàn, cảm ứng tự nhiên. Tuy không báo ứng tức thời, nhưng thiện ác chung quy vẫn phải chịu quả báo.
- Điều thứ hai: Nhân loại thế gian không theo pháp luật, hoang dâm thái quá, mặc tình phóng túng. Trên thì không minh, tại vị không chính, hãm hại oan uổng, tổn hại trung lương. Tâm miệng khác biệt, mưu toan nhiều bề, trong ngoài dối trá, giận dỗi ngu si. Muốn lợi về mình, tham lam không chán. Lợi hại được thua, oán giận thành thù, tan nhà mất mạng, không xét trước sau. Giàu có keo kiệt, không chịu bố thí, chất chứa cho đầy, nhọc tâm khổ thân. Đến khi mạng chung, không đem được gì. Thiện ác họa phước tùy nghiệp thọ sanh, hoặc sanh vào nơi sung sướng hay vào chốn khổ độc. Thấy người làm lành lại còn hủy báng, không chịu bắt chước. Thường nghĩ trộm cắp, rình đoạt của người, tiêu phá hết rồi lại đi tìm nữa. Chết đọa vào ba đường ác, chịu vô lượng khổ, xoay vần nhiều kiếp, khó được ra khỏi, đau khổ vô cùng.
- Điều thứ ba: Người đời nương nhau mà sống, còn trong trời đất, thọ mạng chẳng được là bao? Kẻ bất lương, tâm không chính đính, ôm lòng tà ác, luôn nghĩ dâm dục, phiền não tràn hông, thái độ tà ngụy buông lung, hao tổn tài sản, làm điều phi pháp. Ai cầu xin gì cũng không chấp thuận, lại còn tụ bè kết đảng, hưng binh gây chiến, đánh cướp giết hại, chiếm đoạt bức hiếp, chu cấp cho vợ con, no thân hưởng lạc, khiến người chán ghét, lo lắng khổ cực, tạo nhiều tội ác. Chết vào tam đồ, chịu vô lượng khổ, qua lại nhiều kiếp, khó được giải thoát, khổ đau khôn xiết.
- Điều thứ tư: Người ta ở đời không chịu tu thiện, nói dối, nói lời hung dữ, nói đâm thọc, nói thêu dệt, ganh ghét người lành, hãm hại người hiền, bất hiếu với cha mẹ, khinh mạn sư trưởng, chẳng thành tín với bằng hữu, tự cao tự đại, cho mình có lý, cậy mình ỷ thế, lấn hiếp mọi người mong người kính nể, không biết hổ thẹn, ôm lòng kiêu mạn, khó thể giáo hóa. Nhờ chút phước đức từ đời trước, đời này làm ác, phước đức mất hết. Thọ mạng hết rồi, các điều ác bao vây, oán cừu dẫn dắt, không sao tránh khỏi, chỉ việc tiến vào vạc lửa, thân thể tan nát, tâm thần thống khổ. Bấy giờ nghĩ lại ăn năn thì đã muộn rồi!
- Điều thứ năm: Người đời phóng túng lười biếng, không chịu làm lành, tu sửa thân tâm. Cha mẹ khuyên bảo, ngang trái chống đối như là oan gia, phụ bạc ân nghĩa không chút báo đền. Phóng túng lêu lổng, rượu chè xa hoa, đần độn bướng bỉnh, chẳng chút lễ nghĩa, không thể can gián. Giao tiếp lục thân quyến thuộc không chút ân tình, không nhớ ơn cha mẹ, không đoái nghĩa thầy trò bằng hữu, chỉ lo cho tự thân, không được một điều lành, không tin Phật pháp, không tin sinh tử thiện ác. Muốn hại hiền nhân, phá hoại Phật pháp, ngu si mông muội, tự cho thông minh, không biết từ đâu sanh đến, chết sẽ đi về đâu, bất nhân bất thuận, lại muốn trường thọ. Thương xót khuyên bảo lại không chịu nghe, khô hơi khản tiếng cũng thành vô ích. Tâm ý cố chấp, không chịu thấu hiểu. Mạng chung cận kề, hối tiếc đã không tu thiện, đến khi nhắm mắt ăn năn hối hận, sao còn kịp nữa!
Trong vũ trụ, năm đường phân minh, thiện ác báo ứng, họa phước rành rành, thân tự chịu lấy, không ai thay được. Người thiện làm lành thì từ cảnh sướng đến cõi sướng, từ sáng vào sáng. Người ác làm ác, từ cảnh khổ vào cõi khổ, từ tối vào chỗ tối. Ai hay biết được? Chỉ có Đức Phật biết rõ, khai thị chỉ dạy, người tuân hành rất ít, nên sinh tử không thôi, ác đạo không dứt. Người đời tạo ác như thế, nên tự nhiên có ba đường ác, chịu vô lượng khổ, xoay vần nhiều kiếp, không có hạn kỳ ra khỏi, khó được giải thoát, đau đớn không thể nói được. Do vậy nên có ngũ ác, ngũ thống, ngũ thiêu, như lò lửa lớn thiêu đốt thân người.
Nếu tự nhất tâm giữ ý, đoan thân chánh niệm, ngôn hành tương xứng, chí tâm làm lành, không làm việc ác, thì được độ thoát, đầy đủ phước đức, được trường thọ đến đạo Bồ đề. Đây là năm điều đại thiện.
Phẩm 36: Bao Lượt Khuyên Lơn
Phật bảo Di Lặc Bồ Tát: “Những ngũ ác, ngũ thống, ngũ thiêu đó chuyển tiếp cho nhau, nếu phạm tội tất phải vào ác đạo. Hiện đời sẽ bị bệnh hoạn tai ương, cầu sống không được, cầu chết không xong, để cho người đời thấy sự chiêu cảm đó. Mạng chung đọa vào ba đường ác, thống khổ quá lắm, tự bị thiêu đốt, cùng kết oán thù, tàn hại lẫn nhau.
Tạo một tội nhỏ, lần thành to lớn, do tham đắm tài sắc, không chịu bố thí, muốn khoái lạc bản thân, không chịu phản tỉnh, si ám thúc dục, tranh lợi về mình. Phú quý vinh hoa, đương thời vừa ý, không chịu nhẫn nhịn, không chuyên tu thiện. Không bao lâu, uy thế theo đó tiêu diệt, nghiệp lực an bài, báo ứng tự nhiên. Dù có lo lắng hoảng hốt, cũng phải vào ba ác đạo, xưa nay như vậy. Đau khổ lắm thay!
Các ngươi được giáo pháp của chư Phật chỉ dạy, phải suy nghĩ chín chắn, tự ghi nhớ kỹ, trọn đời không được biếng trễ.
Kính Phật, trọng hiền, lương thiện từ bi, cầu thoát ba cõi, dứt sạch gốc sinh tử, lìa hẳn lo sợ thống khổ tam đồ.
Thế nào gọi là hành thiện bậc nhất?
Phải tự tịnh tâm, chánh thân. Tai, mắt, mũi, miệng đều phải đoan chánh. Thân tâm thanh tịnh, cùng thiện tương ưng, đừng theo thị dục, không phạm điều ác. Ngôn sắc hòa diệu, thân hành chuyên cần, hành vi cử chỉ bình tĩnh từ tốn. Vội vàng hấp tấp, không suy xét chắn chắn sẽ hư hỏng hối hận về sau, uổng phí một đời”.
Phẩm 37: Như Nghèo Đặng Của Báu
Các ngươi đã trồng nhiều căn lành, phải nhẫn nhục tinh tấn, đừng phạm cấm giới, từ tâm chuyên nhất, thanh tịnh trai giới. Tu một ngày một đêm ở cõi Ta Bà hơn làm lành ở cõi Vô Lượng Thọ cả trăm năm.
Tại sao vậy?
Cõi nước của Đức Phật đó đều hành thiện tích đức, không có một chút ác. Tu thiện ở Ta Bà mười ngày đêm hơn làm lành ngàn năm ở các cõi Phật khác.
Tại sao vậy?
Vì cõi nước Phật ở phương khác thì phước đức tự nhiên có, không có duyên để làm ác. Chỉ có thế giới Ta Bà này thiện ít ác nhiều, toàn là khổ độc chưa từng ngừng nghỉ.
Ta vì thương các ngươi nên đã hết lòng chỉ dạy, trao cho kinh pháp, vậy phải nhớ giữ tuân hành. Tôn ti nam nữ, quyến thuộc bằng hữu chỉ bảo lẫn nhau, cùng nhau kiểm điểm, hòa thuận đạo nghĩa, hoan hỷ từ hiếu. Nếu có sai phạm phải tự hối cải, bỏ ác làm lành, sáng nghe tối sửa, phụng trì kinh giới, như nghèo được của, sửa xưa tu nay, gột rửa thân tâm, tự nhiên cảm ứng được như sở nguyện. Khi Phật còn tại thế, quốc ấp thôn trang đều được hóa độ, thiên hạ hòa thuận, nhật nguyệt trong sáng, mưa thuận gió hòa, tai dịch không khởi, quốc thái dân an, binh đao vô dụng, nhân đức hưng vượng, giữ gìn lễ nghĩa, nước không trộm cướp, không có oán tặc, mạnh không hiếp yếu, đều được an lành. Ta thương các ngươi còn hơn cha mẹ thương con. Ta nay làm Phật ở đời này, chỉ rõ điều lành điều dữ, dứt khổ sinh tử, được năm điều thiện, lên chốn an lạc vô vi.
Khi ta nhập Niết Bàn, kinh điển lần lần diệt mất, nhân dân gian trá, làm nhiều điều ác, ngũ thiêu ngũ thống, về lâu sau càng làm ác nhiều thêm nữa. Các ngươi nên khuyên bảo nhau như lời Phật dạy, không được tái phạm”.
Ngài Di Lặc Bồ Tát chấp tay thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Người đời ác khổ như vậy, Phật đều từ bi thương xót độ thoát tất cả. Con xin nghe lời ân cần dạy bảo của Thế Tôn, không dám sai trái”.
8. Bát Nhã Tâm Kinh
Quán Tự Tại Bồ Tát, khi thực hành sâu xa Bát Nhã Ba La Mật Đa, chiếu soi thấy năm uẩn đều là không, vượt qua tất cả khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc không khác với Không, Không không khác với Sắc. Sắc tức là Không, Không tức là Sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.
Xá Lợi Tử! Tất cả các pháp đều là tướng Không, không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không tăng, không giảm. Vì vậy, trong Không không có Sắc, không có Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Không có giới mắt, cho đến không có giới ý thức. Không có vô minh, cũng không có sự tận cùng của vô minh. Cho đến không có già chết, cũng không có sự tận cùng của già chết. Không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Không có trí, cũng không có sự chứng đắc.
Do không có gì để chứng đắc, nên các vị Bồ Tát, nương vào Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không còn chướng ngại. Do không chướng ngại, nên không có sợ hãi, xa lìa điên đảo mộng tưởng, đạt đến Niết Bàn cứu cánh. Ba đời chư Phật, nương vào Bát Nhã Ba La Mật Đa, nên đạt được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Vì vậy, hãy biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, có thể trừ diệt tất cả khổ, chân thật không hư.
Vì vậy, nói chú Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức là nói chú rằng:
(Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha – đọc câu này 3 lần)
9. Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú
Nam-mô A Di Đà Bà Dạ,
Đa Tha Dà Đa Dạ, Đa Điệt Dạ Tha.
A Di Rị Đô Bà Tỳ,
A Di Rị Đa, Tất Đam Bà Tỳ,
A Di Rị Đa, Tì Ca Lan Đế,
A Di Rị Đa, Tì Ca Lan Đa,
Dà Di Nị, Dà Dà Na,
Chỉ Đa Ca Lệ, Ta Bà Ha. (3 lần).
10. Tán Phật A Di Đà
Phật A Di Đà thân sắc vàng ròng,
Tướng tốt quang minh tự trang nghiêm.
Năm Tu Di uyển chuyển bạch hào,
Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc.
Trong hào quang hóa vô số Phật,
Vô số Bồ Tát hiện ở trong.
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh,
Chín phẩm sen vàng lên giải thoát.
Con nay quy mạng lễ A Di Đà Phật,
Ở phương Tây thế giới an lành.
Con nay xin phát nguyện vãng sanh,
Cúi xin Đức Từ Bi tiếp độ.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật.
Nam mô A Di Đà Phật (108, 1080 hay nhiều hơn)
11. Phát Nguyện Đảnh Lễ Phật A Di Đà, Cầu Vãng Sanh Cực Lạc Quốc
- Kính lạy Phật Di Đà,
- Con nay xin phát nguyện,
- Thường xuyên đảnh lễ Ngài,
- Cho đến lúc lâm chung,
- Thân thể không đau bệnh, (1 lạy)
- Kính lạy Phật Di Đà,
- Con nay xin phát nguyện,
- Thường xuyên đảnh lễ Ngài,
- Cho đến lúc lâm chung,
- Tâm hồn không hôn mê, (1 lạy)
- Kính lạy Phật Di Đà,
- Con nay xin phát nguyện,
- Thường xuyên đảnh lễ Ngài,
- Cho đến lúc lâm chung,
- Không tham đắm ngũ dục, (1 lạy)
- Kính lạy Phật Di Đà,
- Con nay xin phát nguyện,
- Thường xuyên đảnh lễ Ngài,
- Cho đến lúc lâm chung,
- Tâm niệm Phật Di Đà, (1 lạy)
- Kính lạy Phật Di Đà,
- Con nay xin phát nguyện,
- Thường xuyên đảnh lễ Ngài,
- Cho đến lúc lâm chung,
- Xả ly Ta Bà khổ, (1 lạy)
- Kính lạy Phật Di Đà,
- Con nay xin phát nguyện,
- Thường xuyên đảnh lễ Ngài,
- Cho đến lúc lâm chung,
- Hân nguyện về Tịnh Độ, (1 lạy)
- Kính lạy Phật Di Đà,
- Con nay xin phát nguyện,
- Thường xuyên đảnh lễ Ngài,
- Cho đến lúc lâm chung,
- Con thấy kim thân Phật, (1 lạy)
- Kính lạy Phật Di Đà,
- Con nay xin phát nguyện,
- Thường xuyên đảnh lễ Ngài,
- Cho đến lúc lâm chung,
- Phật phóng quang nhiếp độ, (1 lạy)
- Kính lạy Phật Di Đà,
- Con nay xin phát nguyện,
- Thường xuyên đảnh lễ Ngài,
- Cho đến lúc lâm chung,
- Liên hoa con hóa sanh, (1 lạy)
- Kính lạy Phật Di Đà,
- Con nay xin phát nguyện,
- Thường xuyên đảnh lễ Ngài,
- Khi vãng sanh Tịnh Độ,
- Hoa nở tâm khai ngộ, (1 lạy)
- Kính lạy Phật Di Đà,
- Con nay xin phát nguyện,
- Thường xuyên đảnh lễ Ngài,
- Khi vãng sanh Tịnh Độ,
- Chứng ngộ pháp Vô Sanh, (1 lạy)
- Kính lạy Phật Di Đà,
- Con nay xin phát nguyện,
- Thường xuyên đảnh lễ Ngài,
- Khi vãng sanh Tịnh Độ,
- Chóng viên thành toàn giác, (1 lạy)
Nam Mô Pháp Giới Tạng Thân A-Di-Đà Phật (3 lần)
12. Phát Nguyện Vãng Sanh Tây Phương
Đệ tử chúng con hiện là phàm phu trong vòng sinh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu bản nguyện công đức của Phật A Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ.
Đệ tử chúng con, chưa biết Phật thân tướng tốt quang minh, vẻ đẹp trang nghiêm, nguyện Phật thị hiện cho con được thấy. Lại thấy tướng màu Quan Âm, Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.
Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
Phật A Di Đà đến rước từ xa,
Quan Âm cam lồ rưới nơi đầu,
Thế Chí kim đài trao đỡ gót,
Trong một sát na lìa ngũ trược,
Khoảng tay co duỗi tới liên trì,
Khi hoa sen nở thấy Từ Tôn,
Nghe tiếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong liền ngộ Vô Sanh nhẫn,
Không rời an dưỡng lại Ta Bà,
Khéo đem phương tiện lợi quần sanh,
Hãy lấy trần lao làm Phật sự.
Con nguyện như thế, Phật chứng tri,
Kết cuộc về sau được thành tựu…
13. Hồi Hướng
Lạy Phật công đức thù thắng hạnh,
Vô biên thắng phước giai hồi hướng.
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh,
Tốc vãng Vô Lượng Quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não,
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu.
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ,
Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.
Nguyện sinh Tây Phương Tịnh độ trung,
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu.
Hoa khai kiến Phật ngộ Vô sanh,
Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhất thiết.
Ngã đẳng dữ chúng sinh,
Giai cộng thành Phật đạo.
14. Phục Nguyện
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật Liên Tòa Chứng Minh.
Phục Nguyện, thượng chúc Phật nhật tăng huy, pháp luân thường chuyển, phong điều vũ thuận, quốc thới dân an, thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc.
Đệ tử chúng con nguyện đem công đức này hồi hướng trang nghiêm Tây Phương Phật tịnh độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường. Xin hồi hướng oan gia trái chủ trong nhiều đời nhiều kiếp, cũng như hiện tại, hữu hình và vô hình, nếu có ai thấy nghe đều phát tâm Bồ Đề, hết một báo thân này, sanh qua cõi Cực Lạc.
Đệ tử chúng con nguyện cầu Đức Phật A Di Đà chấn tích quang lâm, phóng ngọc hào quang gia hộ đệ tử chúng con biết trước giờ lâm chung, thân không tật bệnh, tâm không hôn mê, nhất tâm niệm Phật, Phật và thánh chúng tay cầm đài vàng tiếp dẫn chúng con vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.
Đệ tử chúng con nguyện Đức Quan Thế Âm Bồ Tát Thị Từ chấn tích quang lâm, phóng ngọc hào quang hộ đệ tử chúng con cùng tất cả chúng sanh thân tâm thường an lạc, tật bệnh tiêu trừ, căn lành tăng trưởng, phước huệ trang nghiêm. Xuân đa các khánh, hạ bảo bình an, thu tống tam tai, đông nghinh bách phúc, một hậu đắc Di Đà thọ ký.
Đệ tử chúng con nguyện Đức Phật A Di Đà thụy từ phóng ngọc hào quang, tiếp dẫn chư hương linh, vong linh cửu huyền thất tổ, thập nhị loại cô hồn, ngạ quỷ hà sa, hữu vị vô danh, hữu danh vô vị nam nữ thương vong lai đáo Phật tiền văn kinh thính pháp, tốc xả mê đồ, siêu sanh tịnh độ. Phổ nguyện âm siêu dương thới, pháp giới chúng sanh, tình dữ vô tình, đồng sanh Cực Lạc, đồng kiến Di Đà, đồng ngộ Vô Sanh, đồng thành Phật Đạo. A DI ĐÀ PHẬT.
15. Tam Tự Quy Y
- Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng (1 lạy)
- Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ Kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lạy)
- Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại (1 lạy)
Trích trong Kinh Vô Lượng Thọ – Bản Hán dịch: Ngài Hạ Liên Cư – Việt dịch: HT Thích Đức Niệm – Cư sĩ Minh Chánh.
Mong rằng những nội dung chi tiết về nghi thức tụng Kinh Vô Lượng Thọ từ phẩm 32 đến 37 này sẽ là nguồn tham khảo hữu ích cho quý vị trên bước đường tu tập và khám phá sâu hơn về Đạo phật.