Hòa thượng Thích Trí Thủ người thầy của nhiều thế hệ học tăng

thichtrithu chandung 1218 1
0
(0)

Sự nghiệp giáo dục và hoằng pháp của Hòa thượng Thích Trí Thủ đã góp phần định hình nên nền tảng Phật giáo Việt Nam, với việc chú trọng đào tạo tăng tài dựa trên ba phương diện Giới, Định, Tuệ. Để làm sâu sắc thêm hành trình tu tập này, mời bạn khám phá thêm tại Website Chia sẻ Đạo Phật.

Truyền trao đèn pháp

Hòa thượng Thích Trí Thủ là một bậc thầy uyên bác, đã đào tạo nên nhiều thế hệ tăng sĩ tại các Phật học viện danh tiếng như Báo Quốc (Huế), Phổ Đà (Đà Nẵng), Hải Đức (Nha Trang) và Quảng Hương Già Lam (Sài Gòn). Cuộc đời của Ngài chủ yếu dành trọn cho sự nghiệp giáo dục tăng tài và hoằng pháp, góp phần quan trọng vào sự phát triển của Phật giáo Việt Nam, hơn là chú trọng vào các lĩnh vực phật sự khác.

Trong công tác đào tạo tăng tài, Hòa thượng đã chú trọng phát triển toàn diện ba phương diện căn bản của việc tu học Phật pháp: Giới học, Định học và Tuệ học.

Về Giới học, Ngài không ngừng nỗ lực vận động các cấp lãnh đạo Phật giáo tổ chức các đại giới đàn, không chỉ cho các giới tử xuất gia mà còn cả giới tử tại gia, bao gồm cả giới Thanh văn và Đại thừa. Điều này thể hiện sự coi trọng việc truyền trao giới pháp một cách rộng rãi và đầy đủ. Bên cạnh đó, Ngài còn trực tiếp giảng dạy giới luật một cách tỉ mỉ và tinh tế. Để hỗ trợ việc học tập của các tăng sĩ, Ngài đã biên soạn và chú giải các bộ luật quan trọng như Yết ma và Tứ phần, trở thành tài liệu học tập quý giá cho nhiều thế hệ.

Chính vì những đóng góp to lớn này, Ngài Giác Nhiên cùng nhiều cao tăng khác tại Huế đã tôn kính dâng tặng Ngài bức hoành phi sơn son thiếp vàng với bốn chữ “Giới Châu Quảng Thí”, ý nghĩa là một vị Bồ tát có khả năng rộng rãi bố thí pháp giới như châu báu.

Đối với Định học, một lần nọ, Ngài đã đặt câu hỏi cho chúng tôi: “Các vị có biết Đức Phật đã dạy pháp nào là căn bản cho việc nhiếp tâm không?”. Khi chúng tôi còn đang suy nghĩ, Ngài đã chỉ dạy: “Pháp Tứ niệm xứ và Pháp ngũ đình tâm quán là những pháp căn bản để nhiếp phục tâm ý”.

Hòa thượng đã khéo léo kết hợp nhuần nhuyễn giữa Thiền Tông và Tịnh Độ tông trong phương pháp giáo hóa chúng tăng. Ngài giải thích: “Thiền định giúp chúng ta định tâm và kiến tánh thành Phật; Tịnh độ không chỉ dừng lại ở việc định tâm kiến tánh mà còn phải xây dựng Tín, Hạnh và Nguyện để trang nghiêm tự thân và thế giới, nhằm đền đáp tứ ân và cứu giúp chúng sanh ba cõi”. Ngài khuyến khích chúng tôi mỗi ngày phải tự trang nghiêm bản thân và thế giới bằng cách tham gia thiền định tại chánh điện ít nhất từ 30 phút đến 1 giờ mỗi tối, và thực hiện 108 lạy Phật mỗi khuya để nuôi dưỡng và phát triển niềm tin, hành động và nguyện lực.

Về Tuệ học, Ngài đã chú giải kinh Bát Nhã Tâm Kinh, cung cấp một tài liệu quan trọng cho chúng tôi nghiên cứu và học tập. (Nghiên cứu Bát Nhã Tâm Kinh và trích dẫn lời dạy của Ngài).

Hòa thượng không chỉ truyền dạy bằng lý thuyết mà còn bằng chính tấm gương thực hành của mình.

Hòa thượng Thích Trí Thủ: Vị Thầy của nhiều thế hệ học tăng 1

Hành trình trở thành Phật tử theo lời dạy của HT. Thích Trí Thủ

Chúng tôi, những thế hệ học tăng, đã theo học tại Phật học viện Báo Quốc, Huế. Dưới sự chứng minh và hướng dẫn của Ngài, chúng tôi đã được trao truyền giới pháp cụ túc tại giới đàn Phước Huệ, thuộc Phật học viện Hải Đức, Nha Trang vào năm 1973. Hòa thượng Thích Trí Thủ là đàn chủ và Hòa thượng Phúc Hộ là đàn đầu trong sự kiện quan trọng này.

Bất kể lĩnh vực nào mà Hòa thượng dấn thân, hành động của Ngài đều hướng đến lợi ích chung: vì sự nghiệp đào tạo tăng tài, vì lợi ích của cộng đồng, dân tộc, nhân loại và muôn loài. Hạnh nguyện cao cả duy nhất của Ngài là “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”, và Ngài đã thực hiện hạnh nguyện ấy qua vô lượng phương tiện.

Bài kệ niêm hương cúng dường vào mỗi buổi sáng của Ngài đã thể hiện rõ ý nghĩa này:

“Phần hương nhất nguyện Pháp không

Xem thêm: Đoạn trích ngắn này tập trung vào ký ức, cảm xúc và sự gắn bó sâu sắc với biển cả, đặc biệt là sóng biển, cùng với yếu tố "phạm giới sát sinh" gợi lên sự phức tạp và nội tâm nhân vật. Tiêu đề mới nên phản ánh được những điều này, thay vì chỉ tập trung vào việc "đánh con gì".

Dưới đây là một số lựa chọn tiêu đề mới, mỗi lựa chọn nhấn mạnh một khía cạnh khác nhau:

**Lựa chọn 1 (Nhấn mạnh ký ức và cảm xúc):**

Sóng Biển Quảng Trị Trong Mơ: Lời Thì Thầm Của Tuổi Thơ Và Bí Ẩn Đời Người

**Lựa chọn 2 (Nhấn mạnh sự ám ảnh và bí ẩn):**

Giấc Mơ Sóng Biển Dữ Dội: Khám Phá Lời Nguyền Ký Ức Từ Quảng Trị

**Lựa chọn 3 (Nhấn mạnh sự đối lập và nội tâm):**

Sóng Vỗ Ký Ức: Tội Lỗi Tuổi Thơ Và Tình Yêu Vô Bờ Với Biển Cả

**Lựa chọn 4 (Ngắn gọn và gợi mở):**

Giấc Mơ Sóng Biển: Khi Ký Ức Lớn Hơn Cả Biển Cả

**Lựa chọn 5 (Kết hợp yếu tố "đánh con gì" nhưng theo hướng giải mã tâm lý):**

Sóng Biển Trong Giấc Mơ: Giải Mã Những Lời Nhắn Từ Quá Khứ Và Hiện Tại

Dựa trên yêu cầu "làm nổi bật điểm hay nhất" và sự đa dạng, tôi chọn tiêu đề sau, vì nó gợi lên chiều sâu cảm xúc, bí ẩn và sự kết nối tâm linh mạnh mẽ với biển cả.

**Tiêu đề mới:**

Sóng Biển Quảng Trị Trong Mơ: Lời Thì Thầm Của Tuổi Thơ Và Bí Ẩn Đời Người

Đại nguyện đồng tham biến cát tường

Sát hải trần thân thi diệu lực

Trầm kha chướng loại tận an khương”.

Tạm dịch:

“Đốt nén tâm hương dưới Phật đài

Phổ hiền hạnh cả nguyện nào sai

Hiện thân cát bụi vào muôn nẻo

Chữa bệnh trầm kha khắp mọi loài”.

Đối mặt với cái ác để đấu tranh đòi hỏi lòng dũng cảm, nhưng đứng về phía kẻ ác để bảo vệ người hiền và cảm hóa họ trở thành người thiện thì đó mới là phẩm chất của một vị Bồ tát đích thực. Bài học này, tôi đã lĩnh hội được từ người Thầy kính yêu của mình.

“Có lẽ nhờ vào nhân duyên sâu dày hiếm có, mà mỗi bước đường đạo của tôi dường như luôn song hành cùng dấu chân của Thầy, khiến cho mỗi khi hồi tưởng về quá khứ, tôi luôn thấy hình ảnh của mình hòa quyện trong bóng dáng vĩ đại của Thầy.”

Tiểu sử Hòa thượng Thích Trí Thủ

Hòa thượng Thích Trí Thủ: Vị Thầy của nhiều thế hệ học tăng 2

Hòa thượng Thích Trí Thủ (đứng bên trái) với Đức Đệ nhất Tăng thống – Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết

Giữ tâm bình thường

Vào năm 1977, tại Phật học viện Báo Quốc – Huế, khi đang giảng dạy luật cho chúng tôi, Hòa thượng đã chia sẻ một triết lý sâu sắc: “Bình thường tâm thị đạo”. Điều này có nghĩa là trong quá trình tu tập, chúng ta cần giữ cho tâm mình luôn ở trạng thái bình thường, an tịnh. Chính cái tâm giản dị, thường tại này là con đường dẫn đến Đạo.

Việc học đạo là học cách nuôi dưỡng và giữ gìn cái tâm bình dị ấy trong chính mình. Tu đạo là thực hành theo cái tâm ấy mỗi ngày, trong mọi oai nghi của cuộc sống: đi, đứng, nằm, ngồi. Nhờ vậy, chúng ta có thể đạt được đầy đủ ba ngàn oai nghi và tám vạn tế hạnh, giúp chế ngự và chuyển hóa tám vạn bốn ngàn phiền não đang ngày đêm hiện hữu trong tâm thức.

Khám phá: Mục Kiền Liên Cứu Mẹ: Bí Ẩn Đọa Thai Thanh Đề và Luật Nghiệp Báo Vô Song

Hòa thượng dạy rằng: “Ta đi đến đâu, nếu mọi người đối xử với ta bằng một tâm bình dị, ta biết rằng ta có thể gắn bó lâu dài với họ, và họ cũng có thể gắn bó lâu dài với ta. Mối quan hệ này có thể trở thành tình thân hữu bền chặt. Ta có thể lưu lại nơi đó để thực hiện Phật sự”.

“Ngược lại, nếu ta đến một nơi mà mọi người tỏ ra cung kính thái quá, đón tiếp ta bằng những nghi lễ cầu kỳ, phức tạp, ta biết rằng ta không thể ở lâu tại đó, và mối quan hệ này khó có thể bền chặt. Sau khi hoàn thành công việc, ta nên bày tỏ lòng biết ơn và tìm cách rời đi, không nên nán lại quá lâu. Lý do là vì sự tiếp đón trọng thị ấy không xuất phát từ một tâm bình dị, mà từ một tâm cầu kỳ, bất thường. Những gì phức tạp, cầu kỳ, bất thường thì khó có thể tồn tại lâu dài.”

Đây là một bài học quý giá mà tôi đã học được từ người Thầy của mình.

Hòa thượng Thích Trí Thủ: Vị Thầy của nhiều thế hệ học tăng 3

Hòa thượng Thích Trí Thủ hộ hương cho các giới tử

Giây bìm bị cắt

Tại Phương trượng Tu viện Quảng Hương Già Lam, mỗi buổi sáng lúc ba giờ, Hòa thượng đã thức dậy, tĩnh tọa, uống trà và sau đó vào chánh điện thực hiện nghi thức 108 lạy Phật theo bài sám do chính Ngài soạn thảo.

Ngoài những thời khóa tu tập chung với đại chúng, Ngài còn duy trì các thời khóa tu tập riêng tại Phương trượng. Sau đó, Ngài thường dành thời gian chăm sóc cho các cây kiểng trong vườn chùa. Hành động tưới cây của Ngài không đơn thuần là một công việc thường nhật, mà là một pháp hành từ bi sâu sắc.

Trước khi tưới, Ngài cẩn thận nhặt hết những lá vàng rơi rụng trên cây và trong chậu. Sau đó, Ngài tưới nước một cách chậm rãi, từ ngọn xuống gốc và từ gốc lên ngọn, đảm bảo từng chiếc lá, từng cành cây đều được thấm nhuần. Hành động này không chỉ giúp cây sống mà còn giữ cho cây luôn xanh tốt và sạch sẽ.

Có lần, khi Ngài vắng mặt vì Phật sự trong một tuần, đại chúng đã cử một vị khác phụ trách chăm sóc vườn cây. Tuy nhiên, sau đó, vườn cây không còn xanh tốt và sạch sẽ như trước. Trên chậu và cây xuất hiện nhiều lá vàng úa, đặc biệt là dây bìm bìm leo trên cây bồ đề đã bị cắt đứt và để héo trên cây. Chứng kiến cảnh này, Ngài đã gọi chúng tôi lại và dạy: “Các vị tu tập phải luôn chăm sóc tâm từ bi của mình mỗi ngày, đừng bao giờ lơ là. Kinh Pháp Hoa đã dạy: ‘Dĩ từ tu thân’, các vị đã học kinh Pháp Hoa rồi mà!”

Ngài tiếp tục giải thích: “Tất cả muôn loài, từ hữu tình đến vô tình, đều có sự sống. Do đó, khi ta ngắt một chiếc lá, chặt một cành cây để sử dụng cho công việc Phật sự, ta đều phải khấn nguyện và chú nguyện với tất cả tâm từ bi của mình trước khi thực hiện. Nếu không làm như vậy, oán khí từ cây cỏ có thể tác động đến tâm ta, làm tổn hại đến đức hạnh và lòng từ bi của ta.”

Hòa thượng dạy rằng, người biết tu tập thì trong mọi cử chỉ, dù lớn hay nhỏ, đều thể hiện trọn vẹn đức đoạn trừ, đức trí tuệ và đức từ bi.

Khi ta biết tu tập, những hành động hàng ngày sẽ giúp ta thành tựu phước đức do đoạn trừ phiền não. Phiền não càng lớn, phước đức càng giảm; phiền não càng giảm, phước đức càng tăng; khi phiền não hoàn toàn vắng mặt, phước đức sẽ viên mãn. Đây gọi là đoạn đức.

Khi ta biết tu tập, ta có sự giác tỉnh và soi chiếu trong mỗi hành động, giúp phát sinh nhận thức đúng đắn, tránh rơi vào những lầm tưởng khi sáu căn tiếp xúc với ngoại cảnh. Vì vậy, phước đức sinh khởi từ trí tuệ phát triển trong cuộc sống. Trí tuệ sinh ra đức hạnh, và đức hạnh nuôi dưỡng trí tuệ.

Khi ta biết tu tập, thiết lập hạnh nguyện để mang lại lợi ích cho chúng sanh từ tâm bồ đề, thì mọi suy nghĩ, hành động và lời nói của ta đều lan tỏa chất liệu từ bi. Chính nhờ hành động từ bi đối với các loài hữu tình và vô tình, phước đức của ta sẽ ngày càng lớn mạnh và viên thành. Đây chính là ân đức.

Tìm hiểu thêm: Bí ẩn các tông phái Phật giáo: Hành trình khai phá vô vàn con đường tu tập

Nếu thiếu vắng đoạn đức và trí đức, ta không bao giờ có thể thành tựu được ân đức. Đoạn đức và trí đức càng sâu sắc, ân đức càng lớn lao. Đoạn đức và trí đức càng phát triển, ân đức càng lan tỏa và thấm nhuần khắp tất cả chúng sanh, từ hữu tình đến vô tình.

Đó là bài học mà tôi đã học được từ người Thầy của mình.

Hòa thượng Thích Trí Thủ: Vị Thầy của nhiều thế hệ học tăng 4

Trong Phật giáo chỉ có cái thấy đúng như thực đối với vạn hữu để sống đẹp, sống có ý nghĩa, sống không còn gieo những hạt nhân xấu ác để khỏi phải bị gặt quả khổ đau.

Đối mặt với một công án

Trong kinh Bộc Lưu, Đức Phật đã dạy các Tỷ-kheo: “Khi đi qua một dòng sông, không dừng lại, không đi theo mà hãy vượt qua”.

Nếu ta dừng lại bên dòng sông, ta sẽ bị dòng nước chảy xiết cuốn trôi; nếu ta đi theo dòng nước, ta sẽ bị nhấn chìm. Do đó, để tránh bị xói mòn, cuốn trôi hay nhấn chìm, ta không nên dừng lại, không nên đi theo mà hãy tập trung vượt qua.

Được biết, sau năm 1975, ông Mai Chí Thọ, khi đó là Giám đốc Sở Công an Thành phố Hồ Chí Minh, đã mời Hòa thượng Thích Trí Thủ đến làm việc. Ông Mai Chí Thọ đã hỏi Hòa thượng: “Phật giáo có theo chính quyền không? Nếu không theo là chống. Nếu Phật giáo chống chính quyền, chính quyền có công an, có quân đội, có nhà tù…”. Hòa thượng mỉm cười và trả lời: “Phật giáo chúng tôi không theo mà cũng không chống”.

Câu trả lời này là một bài học vô giá cho tất cả Tăng Ni, Phật tử, không chỉ trong hiện tại mà còn cho cả tương lai. Phật giáo không xu phụ bất kỳ quyền lực chính trị nào, và cũng không lợi dụng bất kỳ thế lực chính trị nào để truyền đạo. Lý do là vì mọi quyền lực chính trị thế gian đều mang tính tạm thời, không vĩnh cửu. Trong khi đó, đạo giải thoát, giác ngộ mới là vĩnh cửu và phổ quát. Chúng ta không thể dùng cái vĩnh cửu và phổ quát để chạy theo và phục vụ cái tạm thời và giới hạn. Vì vậy, Hòa thượng đã khẳng định với ông Mai Chí Thọ: “Phật giáo không theo chính quyền”.

Đồng thời, Hòa thượng cũng đã giải thích với ông Mai Chí Thọ rằng: “Phật giáo không chống chính quyền”. Bởi lẽ, trong thế gian này, không có bất kỳ đối tượng nào mà Phật giáo cần phải chống đối, kể cả chính quyền. Mọi đối tượng đang tồn tại trong thế gian đều bị ràng buộc bởi quy luật nhân duyên sinh tử và bị thúc đẩy bởi những động cơ chấp ngã, chấp pháp. Phật giáo không xem những chấp trước đó là đối tượng để chống đối, mà xem chúng là đối tượng để thiền quán, nhằm nhận thức rõ bản chất vô thường của chúng để vượt qua. Nhờ vậy, chúng ta không bị những bản chất vô thường ấy đánh lừa, và đạt được phẩm chất giác ngộ viên mãn.

Hơn nữa, trong Phật giáo, chúng ta chỉ có cái thấy đúng như thật về vạn pháp để sống một cuộc đời đẹp đẽ, ý nghĩa, không gieo những hạt giống xấu ác, để tránh phải gặt hái quả khổ đau. Và trong Phật giáo, chúng ta chỉ có tâm từ bi, để giúp người khác sống đẹp, sống có ý nghĩa, không gieo những hạt giống xấu ác, để họ không phải chịu những hậu quả đau khổ trong đời này và các đời sau.

Vì vậy, với cái thấy đó và với tâm từ bi ấy, Phật giáo không chống ai cũng không theo ai, mà chỉ thể hiện cái thấy, cái tâm đó dưới nhiều hình thức thuận nghịch khác nhau để cứu người, giúp đời. Chúng ta không bám víu vào cuộc đời để hưởng thụ ngũ dục, hay chạy theo ngũ dục để rồi bị chìm đắm trong bóng tối khổ đau.

Do đó, lời dạy của Hòa thượng “Không chống mà cũng không theo” dành cho ông Mai Chí Thọ ngày ấy, có phải chăng là một công án của Thiền học Việt Nam hiện đại, dành cho tất cả chúng ta thực tập để khám phá ý nghĩa thâm diệu trong thời đại của mình?

Mỗi khi đối diện với công án này, tôi cảm nhận được sự sâu sắc và ý nghĩa của cuộc sống, và tôi thấy Thầy mình, dù đã vĩnh viễn ra đi, vẫn luôn mỉm cười nhìn những thế hệ học trò của Người.

Hy vọng những chia sẻ về cuộc đời và đạo nghiệp của Hòa thượng Thích Trí Thủ sẽ giúp bạn đọc hiểu sâu sắc hơn về một bậc thầy vĩ đại, đồng thời khơi gợi niềm quan tâm khám phá thêm về Đạo phật qua những bài viết chuyên sâu.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang