Nhân quả nghiệp báo đạo Phật và ý nghĩa trong Truyện Kiều

nghiep bao thien ac nhan qua 0746 1
0
(0)

Đạo Phật lý giải mọi diễn biến trong cuộc sống bằng quy luật nhân quả, nơi mỗi hành động gieo xuống sẽ trổ quả về sau, và quả báo hôm nay là minh chứng cho những gì ta đã làm trước đây. Vượt trên sự hiểu biết thông thường, giáo lý này còn khám phá sâu sắc mối liên hệ giữa nghiệp báo và số phận con người, điều mà kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du đã khéo léo lồng ghép, mang đến cái nhìn triết học đầy suy tư về sự tương giao giữa tài năng, mệnh số và ý trời. Khám phá thêm về sự huyền diệu của đạo Phật tại Website Chia sẻ Đạo Phật.

Trong giáo lý Phật giáo, thuyết nhân quả là một nền tảng căn bản, khẳng định rằng mọi sự vật, hiện tượng đều không tự nhiên sinh ra mà chịu sự tác động tương hỗ lẫn nhau. Bài kệ quen thuộc:

Dục tri tiền thế nhân,

Kim sanh thọ giả thị.

Dục tri lai thế quả,

Kim sanh tác giả thị.

diễn tả rõ nét quy luật này: hành động trong hiện tại quyết định quả báo trong tương lai, và quả báo hiện tại là kết quả của những nhân đã gieo trong quá khứ. Tuy nhiên, quan niệm nhân quả trong đạo Phật còn sâu sắc và phức tạp hơn thế, vượt ra ngoài phạm vi đơn giản của bài kệ.

Thuyết nhân quả nghiệp báo của đạo Phật trong truyện Kiều 1

Nhân quả Nghiệp báo là một giáo lý phổ quát căn bản đầu tiên của đạo Phật. Đạo Phật chủ trương tất cả mọi hành vi tạo tác của ba nghiệp thân, miệng, ý con người đều tạo thành những Nghiệp nhân và Nghiệp nhân đó sẽ thành Nghiệp quả hiện hành báo ứng ở ba thời gian quá khứ, hiện tại, vị lai.

Tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du, dựa trên “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, đã nâng tầm câu chuyện lên một tầng bậc triết lý sâu sắc. Là một người Nho học, Nguyễn Du đã tiếp thu tư tưởng “tài mệnh tương đố” và “trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”, thể hiện qua những câu thơ như:

Lạ gì bỉ sắc tư phong,

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

[Truyện Kiều câu 5 – 6]

Nghĩ đời mà ngán cho đời,

Tài tình chi lắm cho trời đất ghen.

[Truyện Kiều câu 2153 – 2154]

Những câu thơ này dường như đổ lỗi cho “Trời xanh” hay “hóa công” đã gây ra bi kịch cho Thúy Kiều. Tuy nhiên, chính Nguyễn Du dường như cũng không hoàn toàn tin vào sự bất công của “Trời xanh” khi ông viết ở đoạn kết:

Ngẫm hay muôn sự tại trời,

Xem thêm: Kỷ Dậu 1969: Khai vận 2025 với ngày giờ xuất hành chiêu tài lộc

Trời kia đã bắt làm người có thân.

Bắt phong trần phải phong trần,

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

[Truyện Kiều câu 3241-3244].

Ngay sau đó, ông lại viết:

Đã mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

[Truyện Kiều câu 3249-3252]

Sự mâu thuẫn này cho thấy Nguyễn Du đang tìm kiếm một lời giải thích khác cho số phận của Thúy Kiều, và ông đã tìm thấy nó trong triết lý nhân quả của đạo Phật.

Các học giả đã nghiên cứu sâu về vấn đề này. Trần Trọng Kim nhận định rằng phước họa đến từ chính hành động của con người, hoàn toàn tự do và có trách nhiệm với việc mình làm, điều này hoàn toàn khớp với cuộc đời nàng Kiều. Cao Huy Đỉnh bổ sung rằng đạo Phật giải thích khổ đau bằng luật nhân quả, rằng con người tự gieo mầm khổ cho mình từ kiếp trước và gánh chịu quả báo kiếp này. Các học giả khác như Đào Duy Anh, Nguyễn Đăng Thục, Trần Văn Giàu cũng thừa nhận tư tưởng chủ đạo của Truyện Kiều nằm trong lý thuyết Nhân Quả của Phật giáo, dù có những cách diễn giải khác nhau.

Thúy Kiều, một người đa sầu đa cảm, đã bị ám ảnh bởi nghiệp lực, bắt đầu từ cuộc gặp gỡ với mã Đạm Tiên. Niềm tin “thác là thể phách, còn là tinh anh” khiến cô hồn Đạm Tiên trở thành hiện thân của nghiệp lực theo nàng.

Sự đa tình của Kiều, thể hiện qua mối tình sâu đậm với Kim Trọng ngay từ lần đầu gặp gỡ, đã tạo nên “nhân” đầu tiên cho sự đau khổ. Câu thơ:

Người quốc sắc, kẻ thiên tài,

Tìm hiểu thêm: Giải Mã Giấc Ngủ Khi Tu Tập: Đánh Bật Tập Khí Bằng Phương Pháp Tự Nhiên

Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.

[Truyện Kiều câu 163-164]

đánh dấu sự hình thành “chủng tử Nghiệp luyến ái”. Trong suốt 15 năm lưu lạc, nỗi đau thể xác không sánh bằng sự dằn vặt tâm can về “giấc mộng hương quan” và “người tình Kim Trọng”. Chính cái “Nhân đa tình” này đã khiến nàng chịu cái “Quả nhớ nhung, đau đớn”.

Thuyết nhân quả nghiệp báo của đạo Phật trong truyện Kiều 2

Vậy là cái nhân đau khổ đầu tiên đã hình thành, chủng tử Nghiệp luyến ái kiếp hiện sinh đã tạo. Điều này rất quan trọng. Trong mười lăm năm lưu lạc của Kiều, sự khổ đau chịu đựng về thân xác đâu bằng sự dằn vặt tâm can về “giấc mộng hương quan” và “người tình Kim Trọng”. Cái Nhân đa tình đã bắt Kiều thọ cái Quả nhớ nhung, đau đớn như thế.

Khi rơi vào lầu xanh, Kiều định tự vẫn, nhưng Đạm Tiên hiện về nhắc nhở:

Rỉ rằng: “nhân quả dở dang,

Đã toan trốn nợ đoạn tràng được sao”

[Truyện Kiều câu 995-956]

Điều này cho thấy “Trời xanh” không phải là thủ phạm gây ra bi kịch, mà chính là những nghiệp nhân Kiều đã gây tạo trong quá khứ. “Trời” ở đây là một khái niệm, một định luật chi phối vũ trụ, chứ không phải một đấng quyền năng ban phúc giáng họa. “Trời” vừa là Nghiệp nhân, vừa là Nghiệp quả, và con người có khả năng thay đổi số phận: “có Trời mà cũng có ta” [Truyện Kiều câu 2657], “xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” [TK câu 420]. Nguyễn Du khẳng định:

Kiếp này nợ trả chưa xong,

Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau.

[Truyện Kiều câu 1019-1020]

hoặc

Kiếp xưa đã vụng đường tu,

Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi.

[Truyện Kiều câu 1195-1196]

Tuy nhiên, nghiệp quả có thể thay đổi nếu thay đổi nghiệp nhân, đó là ý nghĩa của chữ “Tu” trong đạo Phật: “Tu là chuyển Nghiệp”. Nghiệp nhân của Kiều rất nặng, nhưng nàng đã gieo những nghiệp nhân tốt đẹp trong hiện tại: lòng hiếu thảo với cha mẹ, tình thủy chung với Kim Trọng.

Khám phá: Nhâm Tuất 1982: Chọn tuổi "vàng" xây nhà đón may mắn 2023

Hành động hy sinh cao cả của Kiều:

Lấy tình thâm, trả nghĩa thâm,

Bán mình đã động hiếu tâm đến trời.

[Truyện Kiều câu 2683-2684]

đã đủ sức chuyển hóa nghiệp lực, làm nhẹ quả báo tiền kiên, mang lại hậu vận đoàn viên:

Khi nên trời cũng chiều người,

Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi thân sau.

[Truyện Kiều câu 2689-2690]

Một số nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Du bế tắc vì không lý giải rõ nghiệp nhân quá khứ của Kiều. Hoàng Ngọc Hiến cho rằng quan hệ “Nhân Quả” không được bộc lộ trong tác phẩm, vì nội dung chỉ nói về kiếp này của Kiều. Tuy nhiên, nhận định này phiến diện. Theo quan niệm nhân quả thông thường, chỉ cần nhìn vào quả báo hiện tại để suy ra nghiệp nhân quá khứ. Chỉ Đức Phật mới có trí tuệ thấu suốt nghiệp lực của chúng sanh qua nhiều đời. Việc liệt kê chi tiết nghiệp nhân của một đời người đã khó, huống chi là nghiệp lực chi phối qua nhiều kiếp.

Thuyết nhân quả nghiệp báo của đạo Phật trong truyện Kiều 3

Nghiệp quả vẫn có thể thay đổi nếu thay đổi được Nghiệp nhân. Đây là ý nghĩa chính trong chữ Tu của đạo Phật: “Tu là chuyển Nghiệp”. Kiều có một Nghiệp nhân rất nặng và nàng phải thọ nhận Nghiệp quả đó ở kiếp này.

Nếu Nguyễn Du tỉ mỉ liệt kê nghiệp nhân quá khứ của Kiều, Truyện Kiều có lẽ đã không còn sức lay động lòng người đến vậy. Tư tưởng nhân quả trong Truyện Kiều mang tính đại chúng, gần gũi với quan niệm dân gian “Ở hiền gặp lành”, “Gieo gió gặt bão”, có tác dụng định hướng nhân cách và xây dựng xã hội. Việc sắp đặt cho Kiều báo oán những kẻ ác như Tú bà, Sở Khanh, Bạc Hạnh thể hiện quan điểm này, đảm bảo sự công bằng.

Một số ý kiến cho rằng việc Kiều giết chết đám oan gia mâu thuẫn với tinh thần từ bi của Phật giáo. Tuy nhiên, cần hiểu rằng tư tưởng nhân quả trong Truyện Kiều phản ánh quan niệm của quần chúng. Dù oan nghiệp chưa tan, tác phẩm vẫn mang giá trị giáo dục luân lý sâu sắc: “Hại một người, cứu muôn người”, cảnh báo những kẻ manh nha làm ác.

Thuyết nhân quả nghiệp báo của đạo Phật trong truyện Kiều 4

Trong quan niệm Nhân Quả thông thường, cũng chỉ cần nhìn vào quả báo đang thọ nhận ở hiện tại để biết Nghiệp nhân của quá khứ, và đó là thái độ của người tin Nhân Quả, thừa nhận Nhân Quả. Đâu cứ nhất thiết phải trình bày và liệt kê ra Nhân nào đã sinh ra Quả nào, mà có muốn liệt kê ra cũng không được! Chỉ với Trí Tuệ của Đức Phật mới có thể nhìn thấy được tất cả nghiệp lực mà mỗi chúng sanh đã gây tạo trong nhiều đời, nhiều kiếp.

Tư tưởng Phật giáo, đặc biệt là triết lý Nhân quả Nghiệp báo, không giữ vai trò chủ đạo tuyệt đối nhưng đã góp phần quan trọng lý giải những mâu thuẫn trong Truyện Kiều mà quan niệm “ông trời” không đủ sức giải thích. “Trời” trong truyện dường như vẫn nắm quyền lực tối cao, nhưng không thể giải thích tại sao Kiều tài hoa lại gặp bi kịch, hay tại sao kẻ ác lại nhởn nhơ:

Mấy người bạc ác tinh ma,

Mình làm mình chịu, kêu mà ai thương.

[Truyện Kiều câu 2393-2394]

Cuối cùng, quyền lực đó đã thuộc về con người. Con người hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành động của mình. Đây chính là giá trị tư tưởng nhân bản sâu sắc và thiết thực nhất của Truyện Kiều.

Thuyết nhân quả nghiệp báo của đạo Phật trong truyện Kiều 5

Theo tinh thần đạo Phật thì đúng là: “Lấy oán báo oán, oán oán chất chồng. Lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan”. Nhưng như trên đã nói, tư tưởng Nhân Quả biểu hiện trong truyện Kiều mà cụ thể ở tình huống này là tư tưởng, quan niệm của quần chúng. Về oan nghiệp lẫn nhau giữa Kiều và những Tú bà, Bạc Hạnh… chưa hẳn đã tan, nhưng tác dụng giáo dục mang tính luân lý của tác phẩm đối với xã hội thì rất tích cực.

Hy vọng qua những phân tích trên, quý độc giả có thể thấy rõ hơn sự giao thoa tinh tế giữa nhân quả nghiệp báo đạo Phật và ý nghĩa sâu sắc trong Truyện Kiều, đồng thời khám phá thêm nhiều kiến thức hữu ích khác trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang