Từ xa xưa, con người đã khao khát vượt qua giới hạn sinh tử, tìm kiếm con đường dẫn đến sự vĩnh cửu. Tuy nhiên, thay vì chạy theo ảo vọng bất tử nơi trần thế, Phật giáo lại chỉ ra một con đường khác, nơi con người tìm thấy sự bất diệt chân thực thông qua việc tu tập và chuyển hóa bản thân. Khám phá Chia sẻ Đạo Phật để hiểu rõ hơn về giáo lý sâu sắc này.
Quan niệm về sự trường sinh, sống lâu, sống thọ, dù hữu hạn, là có thật, nhưng sự bất tử theo nghĩa đen, tức là không bao giờ chết, thì không thể. Theo thời gian, con người đã thay đổi cách nhìn về sự bất tử. Nhận thức rằng sự tồn tại vĩnh cửu là không thể trong một thế giới đầy biến đổi và ô nhiễm, con người hướng tới việc “để lại danh gì với núi sông” (Nguyễn Công Trứ). Sự bất tử được hiểu là để lại tiếng thơm, một công trình vĩ đại, một chiến công hiển hách, hoặc một tinh thần bất khuất. Ngược lại, những nỗ lực tìm kiếm sự trường sinh của các bậc đế vương như Tần Thủy Hoàng hay Từ Hy Thái hậu đều quy về cát bụi. Phương Đông có những phương pháp như Yoga ở Ấn Độ hay Thiền định kết hợp với chế độ ăn uống đặc biệt ở Nhật Bản, mang lại những kết quả nhất định trong việc kéo dài tuổi thọ. Tuy nhiên, những phương pháp này đòi hỏi sự khổ công, kiên trì và sự phối hợp chặt chẽ của cả yếu tố nội tâm lẫn ngoại cảnh.
Trong Phật giáo, giáo lý về nhân quả, nghiệp duyên và luân hồi là cốt lõi. Do đó, không có phương pháp nào khuyến khích con người chạy theo sự bất tử hay trường sinh ở cõi trần đầy phiền não. Thay vào đó, con đường Chánh đạo dẫn dắt con người đến sự an lạc, thanh thản và siêu thoát vĩnh hằng. Câu hỏi đặt ra là làm sao để đạt được sự bất tử khi duyên nghiệp đã dứt, làm sao để trường sinh khi số mệnh đã định đoạt, hay làm sao để sống lâu hưởng thụ khi nghiệp ác từ kiếp trước đã đến hồi báo ứng? Sự tiếp nối hay chấm dứt của một kiếp sống phụ thuộc vào duyên và nợ, bất kể hoàn cảnh hiện tại giàu sang hay nghèo khó.
Giáo lý nhà Phật tập trung vào việc đoạn trừ phiền não, chấm dứt khổ đau và tìm kiếm sự giải thoát khỏi vòng sinh tử để đạt đến an nhiên Niết Bàn. Sự trường sinh bất tử chỉ có thể đạt được ở cõi siêu thoát vĩnh hằng, vượt ngoài vòng luân hồi, nơi chỉ có các bậc giác ngộ chân tu mới có thể chứng đắc.
Giáo lý nhà Phật không khuyến khích sự níu kéo một kiếp sống đầy khổ đau, chia ly và dục vọng ở cõi trần tạm bợ. Pháp Phật hướng dẫn chúng sinh đang chìm đắm trong bể khổ cách thức tu hành để tự giải thoát, và nếu có duyên lành thì giúp người khác cũng thoát ly sinh tử ngay trong đời hiện tại. Điều này đạt được thông qua việc nỗ lực tu tập, tinh tấn giữ gìn giới hạnh và thực hành các công hạnh thiện lành. Tu tập là quá trình chuyển hóa nghiệp lực, hóa giải hoặc thay đổi quả báo nhân quả, dù là trong kiếp sống này hay từ các kiếp trước, thông qua sự tĩnh tâm, nhất tâm hành trì và sám hối.
Hòa thượng Thích Quảng Đức đã để lại cho nhân thế một trái tim bất tử. Nhiều vị Hòa thượng, Tăng Ni và Phật tử đã hy sinh thân mình vì Chánh pháp trong các thời kỳ Pháp nạn, hoặc để cầu nguyện hòa bình, như Thích Tiêu Diêu, Thích Quảng Hương, Thích Nữ Diệu Quang, Đoàn Thị Yến Phi, Nhất Chi Mai, Quách Thị Trang. Những tấm gương này cho thấy sự bất tử có thể đạt được ngay trong cửa tử, khi cái chết được xem nhẹ tựa lông hồng.

Ảnh minh hoạ.
Về vấn đề trường sinh, có những câu chuyện về các vị danh tăng Việt Nam hiếm hoi đã đạt được tuổi thọ phi thường. Những câu chuyện này mang đến những suy ngẫm về những điều kỳ diệu trong cuộc sống và bài học về đạo hạnh cao quý, giúp con người đối diện tự tại với sinh tử luân hồi. Dưới đây là một số vị cao tăng Việt Nam đã sống trên 100 tuổi.
Đại lão Hòa thượng Thích Đạt Thanh, pháp hiệu Như Bửu, thế danh Võ Minh Thông, được xem là vị “Danh tăng trường thọ” sống lâu nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sinh năm 1853 tại Gia Định, Sư xuất thân trong gia đình kính ngưỡng Phật pháp. Theo lời kể, ngày Sư chào đời, một đàn bồ câu đã bay đến đậu trên mái nhà, được xem là điềm lành. Song thân Sư đã phát nguyện ăn chay trường và trì kinh niệm chú. Sư thông minh, hiếu học, tinh thông kinh điển và cả võ nghệ, nhưng luôn khiêm tốn. Năm 12 tuổi, Sư xuất gia với Tổ Minh Phương – Chơn Hương. Sau đó, Sư tiếp tục tu học kinh điển với Tổ Minh Vi-Mật Hạnh tại chùa Giác Lâm và thụ giáo nhiều bậc cao tăng uyên thâm. Sư sớm trở thành một tăng nhân nổi tiếng. Từ năm 1879, Sư lần lượt trụ trì các chùa Linh Nguyên, Long Quang. Năm 1926, Sư tham gia tổ chức Thiên Địa Hội chống thực dân Pháp và bị đày đi Côn Đảo. Suốt 4 năm lao tù khổ sai, Sư vẫn giữ giới luật thanh tịnh. Bằng ý chí kiên cường, Sư cùng bạn tù vượt ngục, lênh đênh trên biển. Trong cơn nguy biến, Sư giữ tâm định tĩnh, trì niệm kinh chú, và cuối cùng được một thuyền buôn cứu vớt. Một thương gia Phật tử đã cưu mang Sư, làm giấy tờ giả và đổi tên Sư thành Võ Bửu Đạt. Từ đó, Sư ngao du giáo hóa khắp miền Tây Nam Bộ. Năm 1949, Sư về Sài Gòn, sau đó dừng chân trụ trì chùa Giác Ngộ. Đến năm 1951, Sư được suy tôn làm Pháp Chủ Giáo hội Tăng Già Nam Việt. Sau 3 năm, Sư xin cáo lui về an dưỡng tại chùa Long Quang, trùng tu ngôi chùa này. Từ 1956 đến 1972, Sư lần lượt trú trì các chùa Long Nguyên, Chưởng Thánh, rồi trở về chùa Long Quang. Sáng mồng Một Tết Quý Sửu (1973), sau khi lễ Phật, Sư an nhiên thị tịch bên bàn thờ Tổ, thọ 120 tuổi, với 99 tuổi đạo.
Một vị cao tăng khác sống trên 100 tuổi là Đại lão Hòa thượng Thích Trừng Văn, pháp hiệu Giác Nguyên, sinh năm 1877. Thế danh Đặng Văn Ngộ, quê quán Bình Định. Mồ côi cha mẹ từ năm 6 tuổi, Sư được một quan Thái giám nhận làm dưỡng tử và cho xuất gia tại chùa Từ Hiếu – Huế. Năm 1903, Sư theo hầu sư phụ đến tu tại thảo am Thiếu Lâm. Năm 33 tuổi, Sư thọ Cụ túc giới, đắc pháp và được suy tôn làm Thủ tọa chùa Tây Thiên. Khi Hòa thượng Tâm Tịnh viên tịch, Sư được cử làm trụ trì chùa Tây Thiên, nổi tiếng là bậc cao tăng thanh tịnh, khiêm cung. Sư đã dành nhiều tâm huyết trùng tu chùa Tây Thiên, xây dựng tượng Phật A Di Đà uy nghi. Năm 1926, chùa được vua Bảo Đại ban sắc hiệu “Sắc Tứ Tây Thiên Di Đà Tự”. Sau đó, Sư cùng chư tăng thành lập trường Cao đẳng Phật học để đào tạo Tăng tài. Trong thời kỳ Pháp nạn (1963-1966), Sư cùng chư cao tăng xuống đường tuyệt thực, đấu tranh bất bạo động đòi quyền bình đẳng tôn giáo. Sư luôn từ chối lễ mừng thọ, khuyên dùng tiền để đúc tượng, sửa chùa, bố thí cho người nghèo. Đúng 01 giờ sáng mồng Một Tết Nguyên Đán năm Canh Thân (1980), Sư thản nhiên viên tịch, thọ 103 tuổi, với 70 hạ lạp.
Đại lão Hòa Thượng Thích Trừng Thủy, pháp danh Giác Nhiên, thế danh Võ Chí Thâm, sinh năm 1877, cùng tuổi và là pháp đệ của Hòa thượng Trừng Văn. Sư xuất thân từ gia đình gia phong tại Triệu Phong – Quảng Trị. Năm 7 tuổi, Sư quy y với Hòa thượng Tâm Tịnh tại chùa Tây Thiên Di Đà (Huế). Năm 55 tuổi, Sư cùng chư Tăng thành lập Hội An Nam Phật Học, làm Giám đốc Phật học đường Tây Thiên – Huế, rồi trú trì chùa Thánh Duyên. Sau đó, Sư được suy cử làm trú trì Tổ đình Thuyền Tôn – Huế, Viện trưởng Phật học Viện Trung phần – Nha Trang. Ở tuổi 86, dù tuổi cao sức yếu, Sư vẫn kiên cường chống gậy trúc dẫn đầu đoàn Tăng Ni xuống đường đòi bình đẳng tôn giáo trong Pháp nạn 1963. Đặc biệt, vào năm 1973, Sư được suy tôn chức Đệ Nhị Tăng Thống của Giáo hội PGVNTN. Sau năm 1975, Sư trở về chùa Thuyền Tôn tiếp dẫn đồ chúng tu tập. Ngày 02 tháng 2 năm 1979, Sư an nhiên viên tịch, hưởng thọ 102 tuổi đời, với 69 hạ lạp.
Qua những câu chuyện trên, có thể thấy các vị cao tăng đạt được tuổi thọ phi thường không phải do tìm kiếm sự trường sinh, tu luyện thần thông hay nhận được phép màu từ cõi trên. Nguyên nhân chính là do các Ngài đã “chuyển hóa nghiệp, thay đổi duyên” thông qua lối sống giản dị, thanh bần, vô ngã vị tha, kính thờ Tam Bảo và y giáo phụng hành. Khi đến lúc không còn muốn “sinh trụ”, các Ngài đón nhận sự “hoại diệt” một cách bình thản, thậm chí còn biết trước ngày giờ ra đi để chuẩn bị đón nhận giây phút thiêng liêng đó, thoát khỏi cõi trần ô uế.
Vì vậy, khi đã thấu rõ lẽ vô thường và duyên khởi duyên sinh, đối với nhà Phật, vấn đề trường sinh hay đoản thọ, bất tử hay mệnh yểu trở nên không còn quan trọng, thậm chí là “bất khả tư nghị”, không thể bàn luận.
Để hiểu sâu hơn về cách nhà Phật nhìn nhận sự sống và cái chết, mời quý bạn đọc khám phá thêm những góc nhìn tinh tế trong chuyên mục Đạo phật.
