Nhân dịp húy nhật Tổ sư Thanh Quý, một bậc thầy kính yêu của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, nhà thơ Lương Đình Khoa đã thể hiện lòng tri ân sâu sắc qua một bài thơ đầy cảm xúc. Tác phẩm không chỉ khắc họa chân dung cao quý của một vị lãnh đạo Phật giáo Việt Nam mà còn gợi mở về cuộc đời và đạo hạnh của Ngài. Hãy cùng khám phá những dòng thơ ý nghĩa và tìm hiểu thêm về cuộc đời Ngài trên Chia sẻ Đạo Phật.
Nhân dịp húy nhật của Tổ sư Thanh Quý, nhà thơ Lương Đình Khoa đã sáng tác bài thơ và chia sẻ những câu chuyện tiểu sử về ngài, thể hiện lòng kính ơn sâu sắc. Bài viết này giới thiệu cuộc đời và phẩm hạnh cao quý của một trong những bậc lãnh đạo Phật giáo Việt Nam.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh và chư Tăng dâng hương tưởng niệm Hoà thượng Thanh Quý – Chân Thật ngày 1/3/2020
Bài thơ tưởng niệm Tổ sư Thanh Quý
Năm Giáp Thân, quê Thanh – Người chào đời
Trong hình hài và tiếng khóc đầu tiên
Tên húy là Hữu Kỉnh, thuộc dòng họ Nguyễn
Cùng gia đình, di cư đến Thừa Thiên.
Năm 11 tuổi, Người tìm đến cửa thiền
Năm 14 tuổi, lệ tiễn biệt bổn sư
Được sư anh đặc cách thọ giới Sa di
Với pháp danh: Thanh Quý.
Năm 27 tuổi, thân tâm trí vững vàng
Thọ cụ túc đại giới đàn Vĩnh Gia
Đến năm 43 tuổi, công viên quả mãn
Sư anh truyền đăng, pháp hiệu Chân Thật, với kệ rằng:
“Chân Thật duy tùng thể tánh trung
Thâm cùng vọng thức bổn lai không
Thỉ tri thị vật nguyên vô vật
Diệu dụng vô khuy chỉ tự công”
Năm 47 tuổi, trụ trì chùa Diệu Nghiêm
Năm 50 tuổi, làm tăng cang chùa Từ Hiếu
Năm 79 tuổi, toàn cảnh chùa được chỉnh trang
Trùng tu, tôn tạo tổ đình khang trang.
Mùa xuân năm ấy, mưa bay
Năm 1968, khói bom bao phủ
Trong tư thế sư tử tọa cát tường
Người đã xả bỏ thân báo an nhiên
Như áng mây trắng thong dong
Đến đi tự tại, tông phong rạng ngời.
Tám mươi lăm năm hiện diện cõi đời
Sáu mươi tám hạ lạp, ơn Người còn mãi.
*
Con từ bụi cát mà sinh
Thuộc hàng hậu thế, cúi đầu kính dâng
Lạy Người, sư Tổ thâm sâu
Từng câu chuyện kể, thấm vào tâm can.
Khi chú điệu ngồi khóc bên cây me
Vì lỡ tay làm vỡ chảo, lòng lo âu
Người dỗ dành, cho tiền mua chảo mới
Và không quên phủi bụi trên áo chú
(Chú điệu vui vẻ, không bị la mắng
Hân hoan đón nhận tâm từ Người trao).
Khi thị giả Phùng Xuân quên đũa
Vì mải học kinh trong lúc chờ đợi
Lặng lẽ dùng bữa bằng thìa
Sau đó, Người nhẹ nhàng bảo đốn tre ngoài vườn
Nếu chùa thiếu đũa ăn cơm…
Bài học về chánh niệm còn vang vọng mãi.
Nhớ lại công án năm 1946
Pháp chiến tranh hung tàn muốn cướp nước, đày dân
Huế oằn mình trong vòng phong tỏa
Cả chùa phải di tản, lúa chôn dưới vườn.
Ngày trở về, Người gọi hai sư chú
Dưới cái nắng gay gắt, đào lúa mang đi xay
Lời Người như ngọn gió lay:
“Chết mới hết mệt… Mà ai hết mệt?”
Người mang khí chất của một bậc long trượng
Dù trò xa cách, vẫn luôn ngóng đợi hỏi thăm
Trên đường gặp chú Sa di
Người cũng nhường đường, tránh né đi.
Những bức thư huynh đệ gửi đến
Người trang nghiêm giữ trọn nghĩa tình
Luôn mặc áo tràng khi nghe pháp thoại
Như đang hiện diện, lắng nghe lời dạy.
Thế thôi, con học cả đời
Trí tuệ của Phật, của Người truyền trao.
Chúng con nguyện lấy tình thương làm lẽ sống
Lấy tuệ giác làm sự nghiệp không rời
Bên thềm húy nhật của Người
Đôi vần thơ nhỏ thay lời kính ơn.
Nguyện xin Phật, Tổ chứng minh
Nam mô Tự Lâm Tế chánh tông, Tứ thập nhất thế, húy Thượng Thanh Hạ Quý, hiệu Chân Thật Đại Lão Hòa Thượng Tổ sư chứng giám.
Chú thích
(1) Ngài Thanh Quý sinh năm Giáp Thân (1884) tại làng Gia Miêu, tỉnh Thanh Hóa. Năm 11 tuổi, ngài xuất gia tại chùa Từ Hiếu với Tổ sư Hải Thiệu – Cương Kỷ. Do còn nhỏ, ngài chưa được thọ giới Sa di. Sau khi Tổ sư Hải Thiệu viên tịch, sư huynh là ngài Thanh Thái – Huệ Minh đã thế độ cho ngài trước kim quan của bổn sư, ban pháp danh Thanh Quý, với ý nghĩa là người đệ tử út mang chữ Thanh đầu.
(2) Bài kệ được Thiền sư Thích Nhất Hạnh dịch: “Chân lý nằm trong thể tính không / Trước sau vọng thức vẫn là không / Vật kia như thật mà không thật / Diệu dụng công phu hãy một lòng.”
(3) Theo lời kể của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, vào năm 1946, khi chiến tranh Pháp-Việt diễn ra ác liệt và Huế bị phong tỏa, chùa Từ Hiếu đã phải di tản. Trước khi đi, thầy trò đã chôn lúa dưới vườn để dự trữ. Sau khi hồi cư, một hôm, Hòa thượng Thanh Quý đã cùng hai sư chú Phùng Xuân và Thiên Chân ra vườn đào lúa lên xay. Giữa trời nắng gắt, làm việc một lúc, Hòa thượng mồ hôi nhễ nhại và nói: “Mệt quá! Chắc khi nào chết thì mới hết mệt… Nhưng nếu chết rồi thì ai hết mệt?”. Câu nói giản dị này đã trở thành một công án sâu sắc, giúp Thiền sư Thích Nhất Hạnh chiêm nghiệm suốt đời.
Đoạn thơ và những câu chuyện được chia sẻ là lời tri ân sâu sắc dành cho Tổ sư Thanh Quý. Để khám phá thêm những bài viết ý nghĩa về Đạo phật, mời quý vị tiếp tục theo dõi.