Thơ tưởng niệm Tổ sư Thanh Quý người thầy Bổn sư của Thiền sư Thích Nhất Hạnh

× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Nhân dịp húy nhật Tổ sư Thanh Quý, một bậc thầy kính yêu của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, nhà thơ Lương Đình Khoa đã thể hiện lòng tri ân sâu sắc qua một bài thơ đầy cảm xúc. Tác phẩm không chỉ khắc họa chân dung cao quý của một vị lãnh đạo Phật giáo Việt Nam mà còn gợi mở về cuộc đời và đạo hạnh của Ngài. Hãy cùng khám phá những dòng thơ ý nghĩa và tìm hiểu thêm về cuộc đời Ngài trên Chia sẻ Đạo Phật.

Bài thơ tưởng niệm Tổ sư Thanh Quý - Hòa thượng Bổn sư của Thiền sư Thích Nhất Hạnh 1

Nhân dịp húy nhật của Tổ sư Thanh Quý, nhà thơ Lương Đình Khoa đã sáng tác bài thơ và chia sẻ những câu chuyện tiểu sử về ngài, thể hiện lòng kính ơn sâu sắc. Bài viết này giới thiệu cuộc đời và phẩm hạnh cao quý của một trong những bậc lãnh đạo Phật giáo Việt Nam.

Bài thơ tưởng niệm Tổ sư Thanh Quý - Hòa thượng Bổn sư của Thiền sư Thích Nhất Hạnh 2Thiền sư Thích Nhất Hạnh và chư Tăng dâng hương tưởng niệm Hoà thượng Thanh Quý – Chân Thật ngày 1/3/2020

Bài thơ tưởng niệm Tổ sư Thanh Quý

Năm Giáp Thân, quê Thanh – Người chào đời

Trong hình hài và tiếng khóc đầu tiên

Tên húy là Hữu Kỉnh, thuộc dòng họ Nguyễn

Cùng gia đình, di cư đến Thừa Thiên.

Năm 11 tuổi, Người tìm đến cửa thiền

Năm 14 tuổi, lệ tiễn biệt bổn sư

Được sư anh đặc cách thọ giới Sa di

Với pháp danh: Thanh Quý.

Năm 27 tuổi, thân tâm trí vững vàng

Thọ cụ túc đại giới đàn Vĩnh Gia

Đến năm 43 tuổi, công viên quả mãn

Sư anh truyền đăng, pháp hiệu Chân Thật, với kệ rằng:

“Chân Thật duy tùng thể tánh trung

Thâm cùng vọng thức bổn lai không

Thỉ tri thị vật nguyên vô vật

Diệu dụng vô khuy chỉ tự công”

Năm 47 tuổi, trụ trì chùa Diệu Nghiêm

Năm 50 tuổi, làm tăng cang chùa Từ Hiếu

Năm 79 tuổi, toàn cảnh chùa được chỉnh trang

Trùng tu, tôn tạo tổ đình khang trang.

Tìm hiểu thêm: Pháp Luân Công: Lời Hay Ý Đẹp Hay Ảo Tưởng Lợi Dụng?

Mùa xuân năm ấy, mưa bay

Năm 1968, khói bom bao phủ

Trong tư thế sư tử tọa cát tường

Người đã xả bỏ thân báo an nhiên

Như áng mây trắng thong dong

Đến đi tự tại, tông phong rạng ngời.

Tám mươi lăm năm hiện diện cõi đời

Sáu mươi tám hạ lạp, ơn Người còn mãi.

*

Con từ bụi cát mà sinh

Thuộc hàng hậu thế, cúi đầu kính dâng

Lạy Người, sư Tổ thâm sâu

Khám phá: Bí ẩn "Thánh vật sông Tô Lịch": Thượng tọa Thích Viên Thành vén màn sự thật khảo cổ

Từng câu chuyện kể, thấm vào tâm can.

Khi chú điệu ngồi khóc bên cây me

Vì lỡ tay làm vỡ chảo, lòng lo âu

Người dỗ dành, cho tiền mua chảo mới

Và không quên phủi bụi trên áo chú

(Chú điệu vui vẻ, không bị la mắng

Hân hoan đón nhận tâm từ Người trao).

Khi thị giả Phùng Xuân quên đũa

Vì mải học kinh trong lúc chờ đợi

Lặng lẽ dùng bữa bằng thìa

Sau đó, Người nhẹ nhàng bảo đốn tre ngoài vườn

Nếu chùa thiếu đũa ăn cơm…

Bài học về chánh niệm còn vang vọng mãi.

Nhớ lại công án năm 1946

Pháp chiến tranh hung tàn muốn cướp nước, đày dân

Huế oằn mình trong vòng phong tỏa

Cả chùa phải di tản, lúa chôn dưới vườn.

Ngày trở về, Người gọi hai sư chú

Dưới cái nắng gay gắt, đào lúa mang đi xay

Xem thêm: Vesak: Đại Lễ Liên Hiệp Quốc và Câu Chuyện Ba Sự Kiện Thiêng Liêng

Lời Người như ngọn gió lay:

“Chết mới hết mệt… Mà ai hết mệt?”

Người mang khí chất của một bậc long trượng

Dù trò xa cách, vẫn luôn ngóng đợi hỏi thăm

Trên đường gặp chú Sa di

Người cũng nhường đường, tránh né đi.

Những bức thư huynh đệ gửi đến

Người trang nghiêm giữ trọn nghĩa tình

Luôn mặc áo tràng khi nghe pháp thoại

Như đang hiện diện, lắng nghe lời dạy.

Thế thôi, con học cả đời

Trí tuệ của Phật, của Người truyền trao.

Chúng con nguyện lấy tình thương làm lẽ sống

Lấy tuệ giác làm sự nghiệp không rời

Bên thềm húy nhật của Người

Đôi vần thơ nhỏ thay lời kính ơn.

Nguyện xin Phật, Tổ chứng minh

Nam mô Tự Lâm Tế chánh tông, Tứ thập nhất thế, húy Thượng Thanh Hạ Quý, hiệu Chân Thật Đại Lão Hòa Thượng Tổ sư chứng giám.

Chú thích

(1) Ngài Thanh Quý sinh năm Giáp Thân (1884) tại làng Gia Miêu, tỉnh Thanh Hóa. Năm 11 tuổi, ngài xuất gia tại chùa Từ Hiếu với Tổ sư Hải Thiệu – Cương Kỷ. Do còn nhỏ, ngài chưa được thọ giới Sa di. Sau khi Tổ sư Hải Thiệu viên tịch, sư huynh là ngài Thanh Thái – Huệ Minh đã thế độ cho ngài trước kim quan của bổn sư, ban pháp danh Thanh Quý, với ý nghĩa là người đệ tử út mang chữ Thanh đầu.

(2) Bài kệ được Thiền sư Thích Nhất Hạnh dịch: “Chân lý nằm trong thể tính không / Trước sau vọng thức vẫn là không / Vật kia như thật mà không thật / Diệu dụng công phu hãy một lòng.”

(3) Theo lời kể của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, vào năm 1946, khi chiến tranh Pháp-Việt diễn ra ác liệt và Huế bị phong tỏa, chùa Từ Hiếu đã phải di tản. Trước khi đi, thầy trò đã chôn lúa dưới vườn để dự trữ. Sau khi hồi cư, một hôm, Hòa thượng Thanh Quý đã cùng hai sư chú Phùng Xuân và Thiên Chân ra vườn đào lúa lên xay. Giữa trời nắng gắt, làm việc một lúc, Hòa thượng mồ hôi nhễ nhại và nói: “Mệt quá! Chắc khi nào chết thì mới hết mệt… Nhưng nếu chết rồi thì ai hết mệt?”. Câu nói giản dị này đã trở thành một công án sâu sắc, giúp Thiền sư Thích Nhất Hạnh chiêm nghiệm suốt đời.

Đoạn thơ và những câu chuyện được chia sẻ là lời tri ân sâu sắc dành cho Tổ sư Thanh Quý. Để khám phá thêm những bài viết ý nghĩa về Đạo phật, mời quý vị tiếp tục theo dõi.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang