Khám phá sức mạnh nhiệm mầu của việc hướng tâm về Đức Phật qua nghi thức sám hối, một phương pháp tu tập cổ xưa mang đến sự tịnh hóa và an lạc sâu sắc. Tìm hiểu về cách thức thực hành đơn giản nhưng hiệu quả, giúp tiêu trừ nghiệp chướng và tìm thấy bình yên nội tại trên chiasedaophat.com.
Hồng danh sám hối Đức Phật là gì?
Việc tu tập theo Pháp Hoa, đặc biệt là nghi thức sám hối tội căn, là một phần quan trọng thuộc Tích môn theo giáo lý của Trí Giả Đại sư. Ngài đã chỉ dạy pháp Ngũ hối, tức là thực hành năm phương pháp tu tập dựa trên Mười Đại Nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát. Trong đó, phương pháp đầu tiên Trí Giả Đại sư nhấn mạnh là việc tán thán Đức Phật trước khi thực hiện lễ lạy sám hối. Các vị Tổ sư thường soạn những bài kệ để ca ngợi Đức Phật, thể hiện sự tôn kính tuyệt đối với Ngài, Đấng tối thượng, vô song trong ba cõi, là bậc Thầy của trời người, Cha lành của muôn loài.
Một bài kệ tiêu biểu được tụng đọc thường xuyên là:
Pháp vương vô thượng tôn
Tam giới vô luân thất
Thiên nhơn chi Đạo sư
Tứ sanh chi từ phụ
Ư nhứt niệm quy y
Năng diệt tam kỳ nghiệp
Xưng dương nhược tán thán
Ức kiếp mạc năng tận.
Chỉ cần một niệm tâm hướng về Phật, mọi nghiệp chướng đã tích lũy qua ba a-tăng-kỳ kiếp đều có thể tiêu tan. Khi tâm hướng về Phật, mọi lo toan, phiền muộn sẽ lắng dịu, tâm trở nên thanh tịnh, cảm nhận được năng lực gia trì từ Phật, mang lại cảm giác an lạc, giải thoát như đang ở cõi Niết Bàn. Nếu chỉ một niệm nghĩ đến Phật đã có sức mạnh tiêu trừ nghiệp lực nhanh chóng đến vậy, thì tại sao chúng ta không thường xuyên nghĩ nhớ đến Ngài, mà lại còn nghĩ đến những điều xấu ác, những người làm hại mình, để rồi tự chuốc lấy khổ đau? Việc nghĩ đến những điều tiêu cực, những người ác ý có thể khơi dậy nghiệp lực, khiến chúng ta đọa lạc ngay cả khi đang ở trong môi trường Phật pháp. Việc các Phật tử ở nơi được xem là chốn giải thoát lại không hòa hợp, còn giận hờn nhau là một sai lầm lớn.
Đức Phật dạy rằng, Bồ Tát tuy thị hiện trong cõi Ta Bà đầy phiền não, nhưng vẫn giữ được tâm giải thoát. Ngược lại, chúng ta lại ở trong hoàn cảnh thuận lợi để tu tập, nhưng lại để phiền não sinh khởi. Bồ Tát vào đời để cứu độ chúng sanh, làm lắng dịu phiền não, thanh tịnh hóa trần lao, thể hiện ý nghĩa “hoa sen nở rộ nơi nào Bồ Tát đến”. Đời là chốn bùn nhơ tội lỗi, nhưng Bồ Tát đến đó để tỏa hương sen thơm ngát. Vậy tại sao chúng ta, những người đang tu tập tại chùa, lại để phiền não sinh khởi khi tiếp xúc với những người xuất thế?
Chúng ta cần phải dẹp bỏ tâm phiền não. Ở nơi giải thoát, chúng ta hãy tập trung tâm ý. Một phương pháp thực hành là giữ cho mắt chỉ mở một phần ba, nhìn thẳng về phía trước, không liếc nhìn xung quanh, vì nhìn ngó lung tung dễ dẫn đến chuyện. Khi tu tập, hãy tập trung tâm vào hình ảnh Đức Phật đẹp đẽ, biểu tượng cho đức tướng của Như Lai mà ta yêu kính, điều này sẽ giúp tâm dễ dàng thanh tịnh.
Hãy gom tâm mình lại, chỉ còn ta và Phật, rồi thu hẹp hơn nữa, ta và Phật là một, bởi vì Phật đã dung hòa vào tâm ta. Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng Phật, tâm và chúng sanh vốn là một thể. Khi đạt được sự hợp nhất này, Tịnh độ tâm sẽ hiển lộ. Thực hành pháp tu này, theo kinh Pháp Hoa, có thể thực hiện ở bất cứ đâu. Khi tâm được gom lại, dù ở dưới gốc cây, trên gò mả hay trong cung điện, tất cả đều trở thành đạo tràng. Ngay tại nơi đó, Đức Phật thị hiện, thuyết pháp và nhập Niết Bàn. Đó là nơi tâm ta và Phật hợp nhất, hay nói cách khác là nhập vào Pháp giới. Khi tâm và Phật thống nhất, chúng ta sẽ nhìn ra Pháp giới, nhìn ra xã hội và thiên nhiên với một màu sắc thanh tịnh.
Trở lại với pháp tu sám hối, bước đầu tiên là xưng tán Đức Phật. Tiếp theo là thành tâm lễ lạy Ngài. Thứ ba là sám hối tội lỗi của bản thân, xin Phật từ bi chỉ dạy và nguyện từ bỏ những lỗi lầm đã gây ra. Thứ tư là phát nguyện noi theo Phật trong suy nghĩ, lời nói và hành động. Cuối cùng là hồi hướng công đức đã tu tập được trong đời này cho tất cả chúng sanh. Như vậy, chỉ với một pháp tu sám hối, chúng ta đã thực hành cả năm pháp: Tán thán, lễ Phật, sám hối, phát nguyện và hồi hướng.

Muốn đem Phật pháp vào tâm, chúng ta phải sám hối
Ý nghĩa Hồng danh sám hối
Việc thực hành pháp tu Hồng danh sám hối và lễ lạy Đức Phật giúp chúng ta nương nhờ trí tuệ của Ngài để nhận diện và hóa giải những mối quan hệ phức tạp, cả với người thân lẫn người từng là thù địch. Khi áp dụng pháp tu này, tôi cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng hơn. Sự tĩnh lặng trong tâm hồn giúp tôi cảm nhận được sự hiện diện của những người vô hình trong chùa, hoặc khi chiêm ngưỡng núi sông, mưa nắng, tâm thức tôi đôi khi liên tưởng đến những người đã khuất. Đây là biểu hiện của mối liên hệ tương quan giữa tâm thức của chúng ta và tâm thức của những người đã ra đi.
Tương tự, mối quan hệ tương duyên với Đức Phật được thể hiện qua lòng cảm mến và niềm tin. Chính vì có sự cảm mến sâu sắc và đã gieo trồng căn lành nơi Phật, chúng ta mới có thể cảm nhận được Ngài. Khi nhìn vào tượng Phật, chúng ta nghĩ đến Đức Phật hiện thực. Ngược lại, những người mang nghiệp ác khi thấy tượng Phật có thể sinh lòng sợ hãi, thậm chí có người muốn phá hoại tượng Phật, đó là biểu hiện của tà ma. Cũng như các Phật tử có mặt ở đây hôm nay để nghe pháp là nhờ đã có căn lành nơi Phật.
Có thể khẳng định rằng pháp Hồng danh sám hối mang lại hiệu quả cao, tuy nhiên, điều quan trọng là phải thực hành đúng pháp.
Lễ Phật, xưng niệm danh hiệu Phật và suy niệm về Ngài chính là việc tu tập ba nghiệp thân, khẩu, ý. Đầu tiên, khi tâm khởi lên sự kính trọng đối với Phật, chúng ta mới có thể xưng niệm danh hiệu Ngài và thực hiện lễ lạy. Do đó, lễ Phật để sinh công đức là hành động quy mạng lễ, tức là lạy Phật với tất cả lòng kính trọng. Ngược lại, lễ Phật một cách ngã mạn là lạy mà không có sự phục tùng, hoặc chỉ lạy cho có lệ, lạy một cách vô cảm. Ví dụ, khi các thầy nhỏ tuổi lạy tôi, có người kính trọng và lạy, nhưng có người không ưa cũng lạy vì thấy người khác lạy. Trong trường hợp đó, tôi khuyên họ không cần lạy, hoặc tôi tránh sang một bên để họ không thể lạy.
Đối với Đức Phật, chúng ta cần sử dụng cả ba nghiệp thanh tịnh để lễ Ngài thì công đức mới sinh khởi. Ba nghiệp thanh tịnh giúp chúng ta dễ dàng tập trung, nhưng thực chất, tâm là yếu tố quan trọng nhất khi lễ Phật. Vì vậy, nếu chúng ta thực sự kính trọng và yêu thương Phật, dù chỉ ngồi yên lặng, tâm cảm ứng với Phật vẫn sâu sắc, khiến ta có cảm giác như đang thực sự lạy Ngài. Cá nhân tôi, khi nghĩ rằng nếu Phật pháp không còn, tôi cũng không thiết sống, thì công đức đã sinh khởi. Tôi đã dành trọn vẹn cuộc đời mình cho Phật pháp. Theo kinh Pháp Hoa, Phật pháp còn tồn tại khi con người còn tin tưởng, học hiểu và thực hành giáo lý của Phật, cũng như chứng ngộ được giáo lý đó. Do đó, nếu tôi xây dựng ngôi chùa và giảng đường này mà không sử dụng cho mục đích hoằng pháp thì đó là sự lãng phí.
Ngày xưa, Đức Phật thuyết pháp trong rừng. Ngày nay, chúng ta xây chùa để phục vụ con người, điều quan trọng là con người có niềm tin, có căn lành, và chúng ta nuôi dưỡng căn lành đó lớn dần.
Tiếp nối phần lễ lạy Phật, đến phần sám hối, chúng ta đọc:
“Tất cả chư Phật trong ba đời
Vô lượng thế giới khắp mười phương
Con dùng ba nghiệp rất thanh tịnh
Thành kính lễ lạy không hề sót”.
Khi ba nghiệp thanh tịnh, sức mạnh biến hóa là vô cùng. Xưng niệm danh hiệu Phật, lễ lạy Phật, tội lỗi của bản thân và cả tội lỗi của ông bà tổ tiên cũng sẽ tiêu trừ.
Nhận thức sâu sắc về điều này, tôi thường thực hiện việc lạy Phật thay cho người khác, tức là vì tất cả chúng sanh trong Pháp giới đang đau khổ trên cuộc đời này, cũng như vì người thân đang gặp khó khăn, tôi lạy Phật thay cho họ.
Trong tháng Giêng này, mỗi ngày tôi đều thay hàng vạn người để lạy Phật. Tôi có một tập giấy cầu an, và tôi thay mặt những người đó để lạy Phật với ba nghiệp thanh tịnh. Chắc chắn họ sẽ nhận được phước lành, giải trừ oan nghiệp, mang lại lợi lạc cho cả người sống và người đã khuất.
Thật vậy, khi mới bắt đầu tu tập, tôi cảm thấy có rất nhiều oan gia trái chủ. Nhưng sau mười năm tu hành, số lượng oan gia này đã giảm bớt đáng kể, đúng như lời Phật dạy rằng tu hành đúng pháp sẽ khiến người oán thù trở thành người thân thương. Trên thực tế, tôi thấy những người có thiện cảm với mình ngày càng nhiều hơn, còn người ghét thì ít đi. Đó là kết quả của pháp tu Hồng danh sám hối, chỉ cần xưng niệm danh hiệu Phật và lễ lạy, ngay cả khi chưa hiểu hết hành trạng của Ngài nhưng vẫn kính trọng Ngài thật lòng, thì phước lành đã sinh khởi.
Tuy nhiên, bước thứ hai cao hơn là lễ lạy Báo thân Phật. Lễ tên Phật là lễ sanh thân Phật. Cao hơn nữa là biết hành trạng của Phật để lễ Báo thân Phật. Để dễ hiểu, khi nghe tên Trí Quảng, người có sự cảm nhận sẽ biết tôi tu từ năm 1950 và những gì tôi đã đóng góp cho đạo pháp.
Lễ Phật với sự cảm ứng từ sanh thân Phật lên Báo thân Phật (hành trạng của Phật) tức là chúng ta thấy được quá trình tu hành của Phật, từ đó sinh lòng kính trọng Ngài sâu sắc hơn. Đây chính là cách lễ Phật theo tinh thần Đại thừa.
Người tu theo Đại thừa là theo Báo thân Phật, tức là làm theo Phật, vì chỉ kính trọng Phật thôi là chưa đủ. Đức Phật đã dạy rằng Ngài đã từng làm những việc lợi ích cho nhiều người, và chúng ta cũng phải làm như vậy. Điều này có nghĩa là chúng ta nhận biết được phước đức và trí tuệ của Phật, đó chính là Báo thân Phật.
Chúng ta cũng có Báo thân, nhưng đó là nghiệp báo, nên hiện thân thường xấu xí, ô uế, bệnh hoạn, ngu dốt. Còn với các vị Phật khác, chúng ta có thể không biết, nhưng chúng ta biết Đức Phật Thích Ca đã từng thị hiện trên cõi đời này. Ngài cho biết Ngài đã trải qua vô lượng kiếp tu hành Bồ Tát đạo, từ đó kết thành Báo thân thông minh, tài giỏi, có đầy đủ các tướng hảo trang nghiêm, tức là phước đức và trí tuệ của Phật Thích Ca viên mãn.
Vì vậy, trên thực tế, những người thông minh hơn chúng ta có thể là do họ đã tu tập từ những đời trước. Theo Nguyên thủy, ai tu trước thì người đó lớn tuổi hơn, nhưng theo Đại thừa, ai có trí tuệ hơn thì người đó làm thầy, không phụ thuộc vào tuổi tác.
Theo Đại thừa, dù tôi 81 tuổi, nếu tái sanh lại, tôi có thể là một đứa bé. Trong đời này, tôi là Hòa thượng Pháp sư, nhưng ở đời sau, nếu các vị tôn túc lớn tuổi hơn, thì lúc đó tôi có thể là một tiểu hòa thượng. Tuy nhiên, nếu các vị tôn túc đắc đạo và biết tôi là Pháp sư tái sanh, họ sẽ không dám xem thường chú tiểu này.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tìm kiếm nơi tái sanh của vị thầy của mình và khi gặp một cậu bé 5 tuổi, Ngài đã nhận ra đó là thầy của mình và kính cẩn lạy. Vậy ai là thầy của ai? Có một câu chuyện kể rằng một vị trụ trì viên tịch và tái sanh. Các vị Lạt Ma lớn tuổi đã tìm thấy cậu bé 5 tuổi. Cậu bé hỏi các vị Lạt Ma đi đâu. Thông thường, trẻ khoảng 5-6 tuổi vẫn còn nhớ được ký ức của kiếp trước. Các vị Lạt Ma nói chúng tôi đang tìm thầy của mình. Cậu bé hỏi đó là ông nào và hỏi một vị Lạt Ma già tại sao lại sử dụng chuỗi tràng hạt của mình, vì chuỗi đó có một hạt bị nứt. Vị Lạt Ma nghe vậy cảm thấy sợ hãi, vì ông đã sử dụng chuỗi này nhưng không hề biết có hạt bị nứt, trong khi cậu bé lại biết rõ.
Theo Đại thừa, người nào thông minh hơn, làm được nhiều việc hơn thì người đó được xem là lớn hơn. Kính trọng tuổi tác là điều bình thường. Thứ hai là kính trọng trí tuệ. Thứ ba là kính trọng những việc làm thánh thiện. Đức Phật đã dạy rằng sống 100 năm mà không làm được gì thì cuộc đời đó thật vô ích. Sống một ngày mà làm được việc tốt thì đáng sống.
Quay trở lại việc lễ Phật, chúng ta bắt đầu bằng lễ sanh thân Phật. Hành động này tuy có phước nhưng không nhiều. Bước thứ hai là lễ Báo thân Phật, tức là lễ hành trạng của Phật, hay nói cách khác là lễ trí thông minh siêu việt và đức hạnh cao tột của Phật, đồng thời cảm nhận được rằng Phật đã từng che chở, nuôi dưỡng chúng ta từ những kiếp quá khứ.
Do đó, khi chúng ta lễ Phật, chúng ta thấy Phật bằng niềm tin. Có niềm tin, chúng ta nghĩ đến Phật và thấy Phật, Phật mới gia hộ cho chúng ta. Chúng ta cần đánh dấu bước ngoặt tu hành kể từ ngày có niềm tin và phải nuôi dưỡng niềm tin đó lớn dần. Chúng ta có căn lành và niềm tin nên mới đến chùa. Tuy nhiên, nếu không may gặp phải một người thầy không tốt, khiến chúng ta chán nản và bỏ đạo thì đó là điều đáng sợ nhất, được gọi là nhứt-xiển-đề (người đoạn diệt căn lành).
Người chưa tu tập đôi khi còn giữ được niềm tin, nhưng khi tu tập mà không đạt được kết quả như mong đợi, họ dễ dàng bỏ cuộc. Điều này được thể hiện qua câu nói: “Nhứt niên Phật tại tiền. Nhị niên Phật thăng thiên. Tam niên Phật bất kiến”. Khi mới bắt đầu tu tập, chúng ta thường hết lòng, nhưng sau một năm, ngày nào cũng tụng kinh, ăn ngủ như vậy, sinh tâm nhàm chán và mất niềm tin. Như đã nói, mất niềm tin nơi Phật là điều đáng sợ nhất. Nếu đã quyết tâm xuất gia thì phải đi đến cùng, không nên bỏ dở.
Trên thực tế, tôi nhận thấy khi còn là cư sĩ, họ rất tinh tấn. Nhưng sau một năm tu tập, họ bắt đầu nản lòng. Đến năm thứ hai, họ trở nên lười biếng, gọi là Phật thăng thiên, và người này tu Bát quan trai, chờ Phật ngủ để họ có thể ăn uống.
Nếu có căn lành, chúng ta sẽ cảm nhận được rằng Đức Phật luôn nhìn chúng ta. Hòa thượng Thiện Hòa đã dạy tôi rằng, dù ở trong phòng kín một mình, ta cũng phải có ý thức như đang ở nơi đông người, ai cũng có thể nhìn thấy ta, do đó không được làm điều sai trái.
Nếu không có niềm tin sâu sắc vào Phật và không tu tập đúng pháp, thì đến năm thứ hai, chúng ta sẽ bắt đầu lười biếng, và đến năm thứ ba, chúng ta sẽ không còn cảm nhận được sự hiện diện của Phật nữa.
Vì vậy, hãy cố gắng tu tập, giữ gìn căn lành và làm cho căn lành của mình ngày càng lớn mạnh hơn. Khi đó, công đức sẽ sinh khởi và chúng ta sẽ cảm nhận Đức Phật gần gũi hơn. Cá nhân tôi, khi mới tu tập, tôi cảm thấy Phật ở xa, nhưng bây giờ tôi cảm thấy Phật gần gũi hơn, gần gũi ngay trong suy nghĩ của tôi. Suy nghĩ của tôi đã gần với suy nghĩ của Phật, bởi vì càng đọc kinh Phật, tôi càng thấy lời Phật dạy phù hợp với suy nghĩ của mình, từ đó tôi càng ham tu học.
Ngược lại, nếu đọc kinh mà cảm thấy kinh điển lỗi thời, rồi lên mạng xem đủ thứ chuyện tội lỗi, bậy bạ, chúng ta dễ bị nhiễm ô. Trong khi đó, những điều đạo đức thì lại khó thực hành theo.
Tôi luôn tụng kinh, không cần phải ở trước Phật mới tụng kinh. Một số người tụng kinh một lúc rồi cởi bỏ y phục lễ bái, nói đủ thứ chuyện vô bổ, làm sao có thể sinh công đức?
Sau khi lễ Phật, nếu trong tâm vẫn còn hình ảnh Phật, tức là chúng ta đang gần Phật. Do đó, chúng ta thấy được hạnh nguyện của Phật, công đức của Phật, thì hạnh nguyện của chúng ta cũng sẽ gần với Phật. Làm sao biết được hạnh nguyện của mình gần với Phật? Ví dụ, quý vị nhìn tôi và nghĩ đến Phật, nghe tôi nói và nghĩ đến Phật, điều đó có nghĩa là tôi đã có một chút giống Phật. Vì vậy, gần Phật là giống Phật.
Còn nếu chúng ta nói mình là đệ tử Phật, nhưng nhìn từ đầu đến chân không có gì giống Phật, lời nói cũng không giống Phật. Như vậy, chúng ta giống như đứa con ngỗ nghịch mà lại muốn Phật gia hộ, điều đó là không thể.
Khi chúng ta giống Phật, không cần cầu xin Phật che chở, Ngài cũng sẽ che chở. Thật vậy, tất cả những Phật sự tôi làm được đều nhờ Phật gia hộ.
Lễ Phật, khi thấy được Báo thân Phật, chúng ta đã gần Phật. Giai đoạn thứ ba là thấy được Pháp thân Phật, tức là chuyển hóa được thân tâm và trở thành Hóa thân Phật.
Khi lễ Hồng danh sám hối, tôi lần lượt lễ từ Phật Phổ Quang, Phật Phổ Minh, đến Phật Phổ Tịnh, tâm hướng thẳng về tuệ giác vĩ đại của ba vị Phật này, khiến niềm tin trong tôi bừng sáng. Và khi lễ đến vị Phật cuối cùng là Phật Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà, tôi nhận ra rằng Phật A Di Đà và Phật Thích Ca là một.
Ban đầu, khi lễ Phật, tôi thấy từng vị Phật riêng biệt. Nhưng khi lễ đến Phật Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà, tôi nhận ra rằng Phật A Di Đà không còn ở Tây phương nữa, nghĩa là Báo thân Phật bao trùm khắp nơi, khắp Pháp giới, do đó Ngài bao trùm cả chúng ta nữa, khiến tôi cảm thấy vô cùng an lành.
Vì vậy, trong Pháp giới tạng thân của Phật có sự hiện hữu của chúng ta, nên chúng ta ở trong thân Phật và được Phật che chở. Tuy nhiên, kinh điển không nói như vậy, mà nói rằng khi chết, chúng ta vãng sanh về Tây phương Cực Lạc, chui vào trong hoa sen, hoặc được Bồ Tát Đại Thế Chí ném hoa sen cho mình. Khi bước lên hoa sen, sen sẽ búp lại và đưa chúng ta về Tây phương Cực Lạc, nơi chúng ta tu tập, nghe pháp và chứng được Vô sanh pháp nhẫn.
Thuở nhỏ, khi nghe vậy, tôi cảm thấy rất thích và mỗi ngày tôi niệm Phật từ 10 đến 50 chuỗi tràng hạt để mong được Đức Đại Thế Chí cho một bông sen. Vì vậy, tôi thường niệm Phật, ngay cả trong giấc mơ cũng niệm Phật.
Theo tôi, khi lễ Hồng danh sám hối, lễ đến vị Phật Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà, tức là chúng ta đã hiện hữu trong Pháp thân Phật. Và Pháp thân Phật tác động qua thân ta, giúp nghiệp của ta tiêu trừ, bởi vì pháp Phật có công năng thanh tẩy nghiệp chướng. Đó là kết quả tốt đẹp mà người thực hành lễ Hồng danh đúng nghĩa sẽ đạt được.
Bốn câu kệ mở đầu, như đã đề cập, là sự triển khai của mười nguyện lực của Phổ Hiền Bồ Tát. Nương theo nguyện lực của Phổ Hiền, chúng ta có thể thâm nhập vào trí tuệ của Phật.
Khi lễ đến vị Phật cuối cùng, chúng ta thấy tất cả chư Phật ở mười phương. Khi đó, tánh thấy của chúng ta đều hiện diện trước các vị Phật ở mười phương. Không phải chúng ta đứng trước chư Phật, mà là tánh thấy của chúng ta gắn kết với chư Phật. Điều quan trọng là chỉ trong một niệm, chúng ta đã lễ lạy được tất cả chư Phật ở mười phương.
Còn nếu quý vị chỉ đọc suông: “Nhứt giả lễ kính chư Phật. Nhị giả xưng tán Như Lai. Tam giả quảng tu cúng dường. Tứ giả sám hối nghiệp chướng…” thì chỉ đọc hết mười nguyện Phổ Hiền là xong.
Tuy nhiên, chỉ đọc câu “Lễ kính chư Phật” mà không thấy được tất cả chư Phật ở mười phương thì chưa có ý nghĩa gì. Khi đọc câu này, chúng ta phải thấy được tất cả chư Phật ở mười phương. Lúc đó, niềm tin của chúng ta, tánh thấy của chúng ta sẽ hiện diện trước các vị Phật đó. Nhờ vậy, trong một niệm tâm, chúng ta đã lễ lạy đủ tất cả chư Phật, không sót một ai. Bởi vì con người vật chất không thể đi xa được, nhưng tâm thức của chúng ta, tánh thấy của chúng ta có khả năng đi khắp mọi nơi một cách nhanh chóng, biến hóa khôn lường, đó gọi là xứng tánh khởi tu, hay tu ở tâm.
Thật vậy, khi tôi đi Ấn Độ bằng tâm, tôi nghĩ đến Bồ Đề Đạo Tràng, nghĩ đến non Linh Thứu, tức thì tâm tôi đã đến đó. Tánh thấy của tôi đã ở đó. Do đó, dù ngồi đây nhưng tâm tôi đã đến nơi đó.
Vì vậy, người tu tập đạt được kết quả, họ nói rằng Tịnh độ tuy xa nhưng không rời xa Ta bà một bước. Điều này là do họ nhận ra bằng tâm, bằng tánh. Khi đạt được sự giác ngộ này, sử dụng tâm để tu tập, bằng tánh để thấy, thì sự tu tập hơn nhau ở điểm này.
Tánh biến hóa khôn lường được thể hiện qua câu chuyện Tề Thiên Đại Thánh được Đức Quan Âm cho ba sợi lông cắm sau ót. Điều này có nghĩa là khi Phật, Pháp, Tăng được cấy vào trong đầu, trong ót của chúng ta, thì ba nghiệp của chúng ta sẽ trở nên thanh tịnh và có khả năng biến hóa vô cùng, không chỉ dừng lại ở 72 phép thần thông. Tề Thiên có thể giải quyết vô số việc, bất kể có bao nhiêu việc xảy ra.
Đức Phật Thích Ca biết rõ mọi việc và có thể làm được tất cả mọi việc, vì vậy Ngài có tôn hiệu là Năng Nhân. Ngài độ cho những ai đáng được độ. Đối với những người chưa đáng độ, Ngài ví như trái non chưa chín, chưa thể ăn được, chưa thể độ vì họ chưa phát tâm.
Sau khi lễ Phật, chúng ta đọc kệ Phổ Hiền hạnh nguyện sẽ đầy đủ hơn là chỉ đọc mười hạnh Phổ Hiền. Có 60 bài kệ Phổ Hiền hạnh nguyện. Mở đầu, Bồ Tát Phổ Hiền cho biết rằng chỉ khi ba nghiệp thanh tịnh mới có thể lễ Phật một cách trọn vẹn. Nếu ba nghiệp không thanh tịnh, thì dù chỉ lễ một vị Phật cũng không thể đạt được.
“Sức oai thần hạnh nguyện Phổ Hiền
Phân thân hiện khắp trước Như Lai
Một thân lại hiện sát trần thân
Mỗi thân lạy khắp sát trần Phật…”
Nương theo lực của Phổ Hiền, bởi vì Ngài đã tu chứng được lực siêu nhiên và nhờ lực của Ngài trợ giúp chúng ta, nên dù chỉ có một thân, chúng ta cũng có thể hiện ra vô số thân. Điều này là do tâm thức của chúng ta có khả năng biến hóa vô cùng. Vì vậy, có bao nhiêu vị Phật, chúng ta đều có thể hiện đủ bấy nhiêu thân để lễ lạy một cách trọn vẹn, không sót, ngay cả khi thân vật lý của chúng ta vẫn đang ở yên một chỗ.
Để hiểu sâu hơn về ý nghĩa và cách thực hành Hồng danh sám hối, mời bạn khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.
