Hòa thượng Thích Minh Cảnh: Tên gọi và hành trình truyền thừa

46847329 1874703859244571 9129493547936907264 n 1557 1
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Danh xưng và hành trình sự nghiệp của Hòa thượng Thích Minh Cảnh ẩn chứa nhiều câu chuyện thú vị, từ những bút hiệu đầy cá tính đến nguồn gốc pháp danh ý nghĩa. Khám phá những biệt danh độc đáo của Ngài và bài học cuộc đời qua từng trang dịch kinh, bạn sẽ càng thêm ngưỡng mộ con đường tu tập của Người, truy cập chiasedaophat.com để tìm hiểu thêm.

Nguồn gốc các pháp danh và bút hiệu của Hòa thượng Thích Minh Cảnh

Hòa thượng Thích Minh Cảnh, với pháp húy Chơn Đài, từng sử dụng các bút hiệu Đồ Khùng và Thăng Điền. Việc hiểu rõ nguồn gốc của những tên gọi này giúp chúng ta thêm phần kính trọng và thấu hiểu về cuộc đời Ngài.

Sư ông Thích Huệ Hưng, khi còn tại thế, từng chứng kiến Thầy Minh Cảnh miệt mài dịch kinh Tế Điên. Một lần, khi được hỏi đang làm gì, Thầy đáp “Dạ bạch thầy con dịch Tế Điên”. Sư ông đã quở trách: “Bao nhiêu kinh điển không dịch, làm chuyện tầm vơ, đồ khùng”. Lời quở trách này sau đó đã trở thành bút hiệu Đồ Khùng của Thầy trong bộ Tế Điên. Có lẽ vì cảm thấy có lỗi với sư ông, nên trong một số bài dịch thuộc bộ Suối Nguồn, Thầy đã sử dụng bút hiệu Thăng Điền.

Tác phẩm Tế Điên hoà thượng do Cố Hoà thượng thượng Minh Hạ Cảnh dịch, với bút hiệu Đồ Khùng.

Tác phẩm Tế Điên hoà thượng do Cố Hoà thượng thượng Minh Hạ Cảnh dịch, với bút hiệu Đồ Khùng.

Trong bản thảo hồi ký, Thầy Minh Cảnh chia sẻ về nguồn gốc pháp danh Minh Cảnh: “Ở Long An, những ngày có dạy học, tôi cũng theo ngồi học với quý thầy. May được có trí nhớ dai, ghi nhận tốt nên được thầy Pháp Sư Lớn (HT. Hành Trụ) khen là thằng nhỏ sáng dạ, mới đặt cho cái tên là Minh Cảnh. Tên đó chỉ đặt ngẫu nhiên, không theo tên chữ trong hệ phái vì không làm lễ quy y thọ pháp với thầy. Tuy là tên ngẫu nhiên nhưng nó phù hợp từng chỗ, từng lúc với tôi sau này.”

Sau khi được Thượng tọa Thích Trí Tịnh thu nhận làm đệ tử, pháp danh Minh Cảnh vẫn được giữ nguyên. Thượng tọa Thích Trí Tịnh đã đặt tên cho các đệ tử theo từng đợt với các chữ cái đầu khác nhau:

  • Đợt đầu: Chữ Trí (ví dụ: Trí Minh, Trí Quảng).
  • Đợt thứ hai: Chữ Tịnh (ví dụ: Tịnh Đức, Tịnh Viên, Tịnh Thuận, Tịnh Nhựt).

Cố Hòa thượng Thích Minh Cảnh.

Cố Hòa thượng Thích Minh Cảnh.

Về pháp danh Minh Cảnh, Thầy viết: “Tên tôi bắt đầu bằng chữ Minh, không phải do Thầy đặt, nhưng sau đó mấy huynh đệ quy y với Thầy cũng lấy chữ Minh cả, như: Minh Ấn, Minh Lễ, Minh Dương, Minh Tùy… Không biết có phải tôi là người mở đầu huynh đệ chữ Minh hay không, nếu phải, cũng là một điều vinh dự cho tôi.”

Sau này, các đệ tử nam xuất gia của Thầy đều mang chữ Hoằng (ví dụ: Hoằng Từ, Hoằng Thông, Hoằng Tri). Như vậy, hàng đệ tử nam xuất gia của Thầy được phân thành bốn chữ: Trí, Tịnh, Minh, Hoằng. Đối với đệ tử nữ xuất gia, chỉ có hai chữ là Viên và Thanh.

Sư huynh Thiện Huê tại chùa Đại Giác cũng noi theo Thầy Minh Cảnh để đặt tên cho đệ tử của mình, với quy ước nam là chữ Minh, nữ là chữ Viên.

Pháp danh Minh Cảnh của Thầy, dù ban đầu được đặt ngẫu nhiên, lại trùng hợp với hệ thống đặt tên chữ của Thầy bổn sư. Sau này, khi thăm Hòa thượng Thích Hành Trụ, Thầy Đồng Điển đã khuyên Thầy Minh Cảnh nên xin đổi tên để phù hợp với dòng phái. Tuy nhiên, Thầy đã từ chối, giải thích rằng tên gọi dùng để phân biệt người với người, việc được mang tên do ân sư ban tặng đã là quý báu. Hơn nữa, việc đổi tên sẽ gây phiền phức trong giao tiếp và có thể bị xem như xóa bỏ đi ân tình, sự thương yêu và quá khứ đã gắn bó. Vì những lẽ đó, Thầy luôn yêu thích tên cũ Minh Cảnh. Sau này, Thầy bổn sư có ban cho Thầy một tên tự là Hân Thành, nhưng vì nghe có người trùng tên, Thầy cho rằng có thể Thầy đã quên và vô tình đặt trùng, nên Thầy vẫn giữ tên Minh Cảnh.

Pháp húy Chơn Đài và sự kế thừa

Pháp húy Chơn Đài của Hòa thượng Thích Minh Cảnh bắt nguồn từ việc kế thừa và phát huy tâm nguyện của sư ông Thích Huệ Hưng.

Năm 6-7 tuổi, Thầy Minh Cảnh được Hòa thượng Thích Huệ Hưng (cũng là anh cả trong gia đình, gọi là Thầy Mười) gởi học với Hòa thượng Hành Trụ, sau đó xuất gia với Hòa thượng Thích Trí Tịnh. Năm 1980, Thầy kế thế trụ trì Tu viện Huệ Quang thay Hòa thượng Thích Huệ Hưng.

Di ngôn cuối đời của Trưởng lão Hòa thượng Thích Huệ Hưng.

Hòa thượng Thích Huệ Hưng được tổ Đạt Thái – Chánh Thành chùa Vạn An (Sa Đéc) nhận làm đệ tử và ban pháp húy Ngộ Trí. Mặc dù sư ông Huệ Hưng có nhiều đệ tử y chỉ, nhưng không còn ai thọ pháp xuất gia. Do đó, sau khi sư ông Huệ Hưng viên tịch, Thầy Minh Cảnh đã nhận mình là đệ tử và tự xin pháp húy Chơn Đài.

Việc Thầy Minh Cảnh đặt pháp danh cho các đệ tử bắt đầu bằng chữ Không (bao gồm cả pháp danh Không Hạnh của người viết bài này) là thể hiện mong muốn các đệ tử của mình là đồ tôn của sư ông Thích Huệ Hưng và mạch truyền thừa của Huệ Quang theo tông Lâm Tế.

Thứ tự truyền thừa trong tông phái được ghi nhận như sau:

Tổ Đạo Giới Định Tông
Phương Quang Chứng Viên Thông
Hành Siêu Minh Thiệt Tế
Liễu Đạt Ngộ Chơn Không.

Thầy Minh Cảnh không nhận đệ tử nữ xuất gia. Đối với Phật tử quy y, đệ tử nam mang pháp danh Minh, đệ tử nữ mang pháp danh Diệu.

Tâm nguyện cuối cùng được ghi lại là: “Nhất tâm Đảnh lễ: Từ Lâm Tế chánh tông tứ thập thế Huệ Quang đường thượng đệ nhị thế húy Chơn Đài thượng Minh hạ Cảnh Nguyễn Công hòa thượng Tôn sư giác linh thùy từ chứng giám.”

Khám phá: Cầu nguyện Phật giáo: Hướng tới điều tốt đẹp cho cộng đồng bằng sức mạnh nội tại và sự hỗ trợ linh thiêng

Xem thêm: Hành động từ bi nối dài đời sống, độc ác đoản mệnh: Quy luật nhân quả từ Đức Phật

Tìm hiểu thêm: Giải phóng chấp trước: Con đường vạn năng dẫn đến an lạc

Để hiểu sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của Hòa thượng Thích Minh Cảnh, quý vị có thể khám phá thêm nhiều bài viết thú vị trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang