Nghiệp báo Luân hồi: Vòng lặp Vận mệnh

atr avatar 4634 1763270497
0
(0)

Quy luật sinh diệt của vũ trụ được vận hành theo nguyên lý nhân quả, nơi nghiệp lực đóng vai trò chủ đạo trong việc định hình mọi biến chuyển của cuộc sống. Dù bạn xuất thân từ đâu, con đường giác ngộ và tái sinh đều phụ thuộc vào hành động thiện lành hay ác nghiệp bạn tạo ra. Khám phá sâu hơn về lẽ luân hồi và cách nghiệp báo chi phối vận mệnh tại Chia sẻ Đạo Phật.

Luân hồi là biểu hiện của quy luật sinh diệt của vạn pháp, vận hành theo định luật Duyên khởi, từ nhân đến quả. Nghiệp lực, với sức mạnh chủ động, định hình sự sinh diệt và biến đổi này qua ba thời kỳ: quá khứ, hiện tại và tương lai. Sự chuyển biến này phụ thuộc vào biệt nghiệp (của cá nhân) và cộng nghiệp (của cộng đồng), cũng như tốc độ và cường độ của các nhân đã tạo ra bởi thân, khẩu, ý, khởi nguồn từ ba độc tham, sân, si do vô minh. Luân hồi tồn tại và biểu hiện tùy thuộc vào lực dụng của nghiệp nhân do hành vi cá nhân tạo ra, dẫn dắt chúng sinh từ cõi này sang cõi khác, từ cảnh giới này sang cảnh giới khác trong ba cõi sáu đường để thọ nhận quả báo đã gieo trồng.

Khác với quan điểm của Bà-la-môn giáo cho rằng bốn đại chủng tính là vĩnh viễn không thay đổi, Phật giáo khẳng định sự bình đẳng trước nghiệp báo. Dù sinh ra trong dòng dõi thấp kém, nếu tu tập thiện nghiệp và phước đức, con người có thể tái sinh vào dòng dõi cao quý hoặc cõi trời. Ngược lại, dù xuất thân cao quý, nếu tạo ác hạnh, sẽ đọa vào dòng dõi thấp kém hoặc địa ngục. Đức Phật chỉ chấp nhận hình thức luân hồi do nghiệp lực chi phối, dựa trên hệ thống nhân quả Duyên khởi, chứ không chấp nhận một “ngã” thường hằng. Sự bất bình đẳng trong cuộc sống hiện tại của con người là do hành vi thiện ác trong quá khứ đã tạo ra nghiệp lực mạnh yếu khác nhau.

## Luân hồi

Luân hồi, tiếng Sanskrit là Saṃsāra, nghĩa là chúng sinh từ vô thỉ đến nay, do nhân ba độc tham-sân-si của nghiệp hoặc, mà trôi lăn sinh tử trong ba cõi sáu đường, như bánh xe quay không ngừng. Luân hồi còn có nghĩa là sinh tử tương tục, lưu chuyển. Đây là một giáo nghĩa cốt lõi của Bà-la-môn giáo, được Phật giáo tiếp nhận và điều chỉnh cho phù hợp với chân lý Vô ngã.

Luân hồi không chỉ giới hạn ở cõi Ta-bà mà bao trùm cả sáu cõi ba đường. Chúng sinh bị chi phối bởi hành vi thiện ác, phát xuất từ tâm tham ái chấp ngã, tạo nghiệp và nhận lãnh quả lành dữ tùy theo nghiệp lực đã tạo. Luân hồi cũng áp dụng cho mọi sự vật hiện hữu trong thế gian qua hiện tướng cộng nghiệp, đều tuân theo định luật sinh diệt.

Luân hồi được xem là một biểu hiện của Nghiệp, là công năng sinh khởi biến dịch từ nghiệp nhân đến nghiệp quả, vận hành theo quy luật Nhân quả Duyên khởi, Vô thường và Vô ngã. Như lời Phật dạy trong kinh, nơi đến của các hữu tình trong sinh tử luân hồi là do tâm duyên vào các cảnh, nhiễm dính bụi đời, thường bị loạn động. Bản tâm luôn dẫn đầu, làm chủ mọi tác nhân, tác động lên hành vi qua thân, miệng, tạo ra nghiệp nhân thiện ác, dẫn dắt chúng sinh trong biển sinh tử luân hồi để thọ nhận quả báo.

Truyện tích Tỳ-kheo Cakkhupala bị mù mắt, dù là bậc A-la-hán, là minh chứng cho sức mạnh của ác tâm trong quá khứ. Dù vô tình gây tội sát sinh trong đời này, nghiệp ác từ đời trước vẫn khiến ngài chịu quả báo mù lòa. Lời Phật dạy “Các pháp do ý dẫn đầu, làm chủ và tác động. Do vậy, nếu ai đem ý nghĩ vẫn đục mà miệng nói, thân làm, thì sự khổ não đi theo người ấy như cái xe lăn theo chân con vật kéo xe ấy” nhấn mạnh vai trò của ý niệm.

Ngược lại, truyện tích chàng trai Mattakundali cho thấy sức mạnh của thiện ý. Dù lâm bệnh nặng, niệm ngưỡng mộ Phật đã giúp chàng tái sinh về cõi trời Đao Lợi. Lời Phật dạy “Các pháp do ý dẫn đầu, làm chủ và tác động. Do vậy, nếu ai đem ý nghĩ trong sáng mà miệng nói, thân làm, thì sự an vui đi theo người ấy như bóng theo hình” khẳng định giá trị của thiện niệm.

Tâm thức tác động lên ngoại cảnh, sinh ra mọi hệ lụy tùy thuộc vào thiện tâm hay ác tâm, thiện ý hay ác ý, chân tâm hay vọng tâm. Như các nhà Hoa nghiêm và Duy thức chủ trương: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Phật giáo đứng trên phương diện tương đối nhị nguyên nhân quả để thiết lập vọng chân, thiện ác, nhân quả duyên sinh.

Theo luận Vô tâm, chúng sinh vì mê vọng, chấp tâm là thật, tạo ra các loại nghiệp, dẫn đến luân hồi sinh tử không dứt. Ái ngã, ái pháp xuất hiện, cấu kết tạo nghiệp, trói buộc chúng sinh trong luân hồi. Kinh Tạp A-hàm dạy: “Do vì vô minh che khuất, ái kết trói buộc, nên chúng sinh phải sinh tử luân hồi. Nếu ái kết không dứt, thì khổ biên không hết.”

Luận Câu Xá sớ giải thích: “Tất cả mọi thứ phiền não đều phát xuất từ nhân chấp ngã, nghiệp sinh tử thì do phiền não khởi; tam hữu (ba cõi) luân hồi có được từ nhân hoặc nghiệp, bởi vậy nếu chấp ngã thì không bao giờ giải thoát được.”

A-tỳ-đạt-ma tạng Hiển tông luận trình bày:
> Các uẩn là vô ngã
> Tạo ra nghiệp não phiền
> Chính do nó nối kết
> Vào thai như lửa đèn
> Gặp nhau tiếp tục tăng
> Liên tục do nghiệp hoặc
> Hướng lại về đời khác
> Luân lưu không mối manh.

Dù thấy rõ năm uẩn là vô ngã, chúng sinh vì vô minh nghiệp hoặc mà không thấy, tạo ra vô lượng phiền não, nuôi lớn vô minh, trôi lăn trong sáu cõi ba đường chịu khổ đau. Điều này được ví như ngọn đèn gặp lửa càng sáng càng tăng. Mười hai chi Duyên khởi minh họa cho sự sinh khởi của một sinh mệnh hữu tình qua hoặc nghiệp: “Từ hoặc sinh hoặc nghiệp, từ nghiệp sinh sự tướng, từ sự, sinh sự hoặc, lý chi hữu ở đây.”

Hoặc nghiệp khổ là con đường phiền não, con đường nghiệp và con đường khổ, thông cả ba cõi. Dù là nghiệp thiện trong ba cõi, nếu còn lệ thuộc vào nhân quả duyên khởi vô thường sinh diệt thì vẫn mang bộ mặt khổ. Tuy nhiên, quả khổ này có thể thay đổi được, vì nhân hoặc nghiệp không có tự tính, nên quả cũng không.

## Nghiệp

Nghiệp, tiếng Sanskrit là Karman, Pāli là Kamma, nghĩa là tạo tác, hành vi, tác dụng, ý chí. Nó chỉ hoạt động của thân và tâm do ý chí tác động. Khi liên hệ với nhân quả, nghiệp chỉ cho tác nhân của hành vi quá khứ, hình thành lực lượng liên tục đến ngày nay qua thọ quả, gọi là nghiệp lực.

Nghiệp bao gồm cả tư tưởng thiện ác, khổ vui, luân hồi đời trước, đời này và đời sau. Phật giáo chấp nhận những quan điểm này, dung hợp thành chủ trương về nghiệp theo nhân sinh quan của mình, đôi khi đối lập với thuyết thường ngã của Bà-la-môn giáo qua chủ trương vô ngã. Nghiệp được chia làm ba phần: thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.

### Tướng trạng của nghiệp

Theo các nhà Nhất thiết hữu bộ, ba độc tham, sân, si nuôi lớn bản ngã vô minh, tạo ra tội phước. Hành động làm lợi mình hại người là ác, làm lợi người giúp đỡ người là thiện. Việc thiện ác này không ngoài mục đích nuôi lớn vô minh ái ngã qua thân, khẩu, ý.

* **Thân nghiệp:** Hành vi của thân thể theo sự tác động của ý chí.
* **Khẩu nghiệp:** Lời nói phát xuất từ miệng theo sự tác động của ý chí.
* **Ý nghiệp:** Ý chí trong nội tâm muốn làm một việc gì đó.

Ngoài ra, nghiệp còn có **tư nghiệp** (đồng với ý nghiệp), là gốc của hành động.

Giữa Tiểu thừa và Đại thừa Phật giáo có quan điểm khác nhau về nghiệp. Các nhà Nhất thiết hữu bộ cho rằng thân và khẩu nghiệp thuộc sắc pháp, ý nghiệp thuộc tâm pháp. Các nhà kinh Lượng Bộ và Đại thừa cho rằng cả ba nghiệp đều thuộc tâm pháp.

Sinh mệnh của dòng chảy tương tục này mang tính cách cơ giới qua sự tích tụ của năm thủ uẩn, thọ quả từ nghiệp nhân trước kia. Nghiệp là sinh mệnh và ngược lại. Nghiệp thức biểu hiện bên ngoài là thức (vijñāna) trong mười hai nhân duyên, tiềm ẩn bên trong là hành (saṅkhāra), hay tư (catanā, ý chí). Đức Phật dạy: “Hữu tình lấy nghiệp làm tự thể, là sự tương tục của nghiệp, lấy nghiệp làm mẫu thai, lấy nghiệp làm quyến thuộc, lấy nghiệp là sở vi, phàm sự phân biệt như thế đều do nghiệp phân phối.” Đây là phương tiện dùng “độc trị độc” để hướng dẫn hữu tình từ mê ra ngộ.

Các nhà Nhất thiết hữu bộ phân loại nghiệp:

* **Biểu nghiệp:** Hành động được biểu hiện rõ ràng ra bên ngoài.
* **Vô biểu nghiệp:** Hành động tiềm tàng lưu chuyển sau khi đã thực hiện.

Cả hai loại này có thể thiện hoặc bất thiện. Tội báo và phước đức sinh ra từ sự thọ dụng của tha nhân. Thí dụ, hành động bố thí mang lại hai phước nếu người nhận thọ dụng. Bảy loại nghiệp này (thân, khẩu) cộng với ý nghiệp thuộc tâm pháp, là tướng trạng sai biệt của nghiệp, có quả báo đời này, đời sau.

Tất cả hiện tượng sinh tử lưu chuyển các loài hữu tình đều phát xuất từ nhân nghiệp. Quả báo có hai loại: **chánh báo** (tốt xấu, thông minh ngu dốt) và **y báo** (sơn hà đại địa, cây cối, động thực vật). Tất cả đều do nghiệp lực chiêu cảm.

Đức Phật dùng Thập nhị nhân duyên để thuyết minh về sự hình thành và hủy diệt qua hai cách quán lưu chuyển và hoàn diệt. Các nhà Hữu bộ cũng dùng Thập nhị nhân duyên để giải thích hiện tượng tương tục biến dịch của sinh mệnh và vũ trụ qua nghiệp cảm duyên khởi. Các nhà Pháp tướng tông Duy thức chủ trương A-lại-da duyên khởi, lấy A-lại-da thức làm căn bản.

Quan điểm về nghiệp của Hữu bộ và kinh Lượng Bộ có khác biệt. Hữu bộ cho rằng nghiệp có thật trong ba đời. Kinh Lượng Bộ cho rằng nghiệp biến mất trong khoảnh khắc, nhưng chủng tử quả báo đã gieo vào tạng thức. Các nhà Duy thức cho rằng chỉ có thức là thực hữu.

Nhất thiết hữu bộ chủ trương con người có thể sinh ra do nhiều nghiệp dẫn đến một lần sinh, hoặc một nghiệp dẫn đến nhiều lần sinh. Nghiệp có hai loại: **cộng nghiệp** (chung cho cộng đồng, như khí thế gian) và **bất cộng nghiệp** (riêng cho cá nhân, biệt nghiệp).

Nghiệp lực là sức mạnh thúc đẩy sinh mệnh qua lại trong luân hồi sinh tử. Giống như hạt lúa nảy mầm, nghiệp cũng có dòng tương tục từ nhân đến quả, không đoạn không thường.

Sinh mệnh hữu tình, từ khi sinh ra đến khi chết, luôn hoạt động thay đổi liên tục, gọi là thọ mệnh. Ba biểu hiện của sinh mệnh là thọ, noãn, thức. Khi ba yếu tố này không còn duyên cho nhau, sinh mệnh chấm dứt. Tuy nhiên, nghiệp vẫn được bảo trì qua sức mạnh của nó. “Hai pháp thường theo nhau, đó là nghiệp và thọ. Hễ có nghiệp thì có thọ, không nghiệp thì cũng không có thọ.”

Cái chết có vẻ như là sự chấm dứt hoàn toàn, nhưng về mặt đương thể của sinh mệnh, nó vẫn có khả năng tương tục qua ngũ uẩn mới. Thức đi thác thai vào thân thể mẹ là ý chí (tư) vô ý thức, là sinh mệnh, chứ không phải ý thức có thể nhớ biết.

### Bản chất của nghiệp

Trong ba nghiệp thân, khẩu, ý, **ý nghiệp là tối quan trọng**. Nếu ý khởi lên thiện, ác mà không câu hữu với thân, khẩu thì gọi là ý nghiệp. Nếu ý câu hữu với thân, khẩu thì tạo ra hai nghiệp: của ý và của hành vi thân, khẩu.

Bản chất của nghiệp là thiện, ác, vô ký, gọi là tính nghiệp. Nghiệp nhân trong hiện tại sẽ chịu quả báo ngay trong hiện tại hoặc tương lai, tùy thuộc vào nghiệp lực mạnh yếu, thiện ác.

* **Mười thiện nghiệp đạo (bạch nghiệp đạo):** Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói lời ác, không nói lời vô ích, không tật đố, không sân giận, không tà kiến. Quả báo là danh lợi, sinh vào cõi nhơn, thiên tôn quý.
* **Mười ác nghiệp đạo (hắc nghiệp đạo):** Ngược lại với mười thiện nghiệp. Quả báo là tai họa.

Đức Phật dạy: “Người ta gieo nhân nào thì hưởng quả ấy; làm lành thì được quả tốt, làm ác thì chịu quả xấu, người trồng thì người hưởng.”

Những hành động cố ý tạo ra thiện hay ác nghiệp đều phải chịu quả báo tương xứng, không thể tránh khỏi. “Những kẻ tạo nghiệp ác, dù có lên không, xuống biển hay vào hang núi cũng không nơi nào có thể trốn thoát.”

Có những hành động vượt ngoài kiểm soát của ý, do ngộ nhận, không cố ý, gọi là **tư nghiệp vô ý** hay **tác nghiệp không cố ý**. Vô ký nghiệp và không cố ý tác nghiệp đều không sinh ra quả báo.

Trong tư nghiệp, **nghiệp tăng trưởng** (tăng thượng nghiệp) có sức mạnh, còn tư nghiệp cố ý yếu, hợp với tư nghiệp không cố ý thành **nghiệp không tăng trưởng**.

Các nghiệp được phân loại theo cách thọ nghiệp:

* **Thân thọ nghiệp:** Do nghiệp ác cõi dục tạo ra, chiêu cảm năm thức thọ khổ báo.
* **Tâm thọ nghiệp:** Do thiện nghiệp cõi sắc, vô sắc tạo ra, nhờ ý thức thứ sáu mà thọ báo vui.

Ngoài ra còn có ba thọ nghiệp dựa trên cảm thọ: **thuận khổ thọ nghiệp, thuận vui thọ nghiệp, và thuận không khổ không vui thọ nghiệp**.

Các nghiệp còn được phân loại theo tính chất và quả dị thục:

* **Hắc hắc dị thục nghiệp:** Bất thiện nghiệp cõi dục, quả dị thục không tốt.
* **Bạch bạch dị thục nghiệp:** Thiện nghiệp cõi sắc, vô sắc, quả dị thục tốt.
* **Hắc bạch hắc bạch dị thục nghiệp:** Thiện nghiệp cõi dục, tính chất và quả dị thục lẫn lộn.
* **Phi hắc phi bạch dị thục nghiệp:** Khi đoạn trừ phiền não, nghiệp này không còn hiệu quả chiêu cảm quả báo.

Ba nghiệp đầu thuộc hữu lậu nghiệp, cần đạt đến vô lậu nghiệp để đoạn trừ hoàn toàn. Bản tính thiện, ác, vô ký của sinh mệnh hữu tình được luận bàn dựa trên luật nhân quả Duyên khởi, tùy thuộc vào tác nhân nghiệp (có tác ý hay không, mạnh yếu, thiện ác) và thời gian.

Đức Phật dạy:
* “Hết thảy cái có sinh đều có tử, thọ mệnh cuối cùng rồi cũng phải hết.”
* “Y vào nghiệp mà chịu duyên báo, thiện, ác đều có quả của nó.”
* “Tu phúc được sinh lên cõi trời, tạo ác thì phải vào địa ngục.”
* “Tu đạo thì dứt được sống, chết, mà nhập Niết-bàn vĩnh viễn.”
* “Không ở trên không, không dưới biền, không trong rừng núi, không một chỗ nào trốn được cái chết.”
* “Ngay đến chư Phật Bồ-tát, Duyên giác, Thinh văn còn phải bỏ cái thân vô thường, huống nữa là phàm phu.”

Theo các nhà Tiểu thừa Hữu bộ, nghiệp không mất và thực hữu trong ba đời. Nghiệp đã tạo ra sẽ để lại hậu quả tương xứng. Chúng ta chỉ có thể đoạn trừ nghiệp khi tu đạo. Chủ trương này dựa trên quan niệm “Tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu” – ba giai đoạn quá khứ, hiện tại, tương lai đều có thực, thể pháp liên tục hiện hữu.

Chúng sinh tùy nghiệp mà thọ sinh: ác đọa địa ngục, tu phước sinh thiên, hành đạo được Niết Bàn. Nghiệp là ba thứ độc (tham, sân, si), phát sinh hành động làm tổn hại kẻ khác. Người thiện tự diệt ác, làm việc thiện như bố thí, trì giới.

Chúng sinh bị vô minh che lấp, ái kết ràng buộc, trôi lăn trong sinh tử, thọ đủ mọi khổ vui. Vô lượng phiền não thúc đẩy thân, khẩu, ý tạo ra nghiệp. Nghiệp thân, khẩu, ý, đời nay, đời sau, phân biệt thiện, bất thiện, vô ký. Quả báo khổ, vui, không khổ không vui. Nghiệp hiện báo, nghiệp sinh báo, nghiệp hậu báo. Vô lượng sinh tử biến dịch qua vô thường, tạo thành nhân quả Duyên khởi, hoàn thành nhân sinh quan và vũ trụ quan Phật giáo.

**Tóm lại:** Mọi sinh mệnh hữu tình sinh, sống, chết đều lệ thuộc vào nghiệp nhân và nghiệp quả. Nghiệp quả hiện tại là chủng tử nghiệp nhân từ kiếp trước, biểu hiện qua thân xác (đẹp xấu, cao thấp…) và tâm thức (thông minh, ngu dốt…). Nghiệp nhân hiện tại được hình thành từ thân, khẩu, ý, trong đó ý là tác nhân chính, tiếp xúc và tác động lên hoàn cảnh, tạo ra chủng tử nghiệp nhân mới.

Mỗi chúng ta mang hai loại chủng tử: di truyền từ kiếp trước và tạo ra trong hiện tại. Chúng ta có thể làm chủ và sửa đổi nghiệp nhân hiện tại qua ý nghĩ, hành vi để tránh khổ, tìm vui, và hướng đến một xã hội lý tưởng.

Luân hồi nghiệp báo, đứng trên phương diện tương đối nhị nguyên của tục đế, là phương pháp sửa đổi con người, cải tạo xã hội hiệu nghiệm qua nhân quả báo ứng. Nếu chúng sinh nhận ra các pháp (bao gồm ngã, pháp) là vô ngã, không thường, không đoạn, thì nghiệp báo luân hồi sẽ không sinh khởi.

Theo đệ nhất nghĩa, nghiệp không sinh vì không có tính. Vì nhân duyên nên không diệt. Nghiệp không có tự tính, như huyễn, như mộng, như âm vang, như quáng nắng.

Để hiểu sâu hơn về nghiệp và luân hồi, hãy cùng khám phá thêm những giáo lý uyên thâm trong chuyên mục Đạo phật.

Tìm hiểu thêm: Năng Lượng Tích Cực: Chìa Khóa Kiến Tạo Cuộc Sống An Lạc Từ Trái Tim

Xem thêm: Hạnh Phúc Giữa Đời Thường: Vượt Áo Trắng Dục Vọng, Tìm An Lạc Như Phật Dạy

Khám phá: Nghiệp Chướng hay Tình Yêu: Vượt Qua Trắc Trở Để Nuôi Con Bằng Tất Cả Trái Tim

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang