Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hòa quyện sâu sắc với các giá trị nhân văn của Phật giáo, hướng con người tới điều thiện và cái đẹp. Khám phá hành trình tâm linh của Người qua lăng kính Phật giáo sẽ mở ra những góc nhìn mới mẻ về một vĩ nhân yêu đạo lý, tại Chia sẻ Đạo Phật.

Trong kho tàng tư tưởng vô giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại, tư tưởng về Phật giáo nổi bật với những giá trị cốt lõi về nhân sinh quan và thế giới quan. Trọng tâm là sự hướng con người đến “chân, thiện, mỹ”, “từ, bi, hỷ, xả”, “vô thường, vô ngã vị tha”, và “cứu khổ cứu nạn”. Những nguyên lý này đã góp phần định hình nên tư tưởng nhân văn sâu sắc của Người, thể hiện qua câu nói: “Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm”.
Suốt cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề có thái độ bài xích hay có hành động cực đoan đối với tôn giáo. Ngược lại, Người đã đích thân viếng thăm nhiều di tích Phật giáo, bày tỏ sự tôn kính và niềm tin vào các giá trị tâm linh truyền thống, xem đó là nguồn sức mạnh tinh thần cho sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước.
Người đặc biệt quan tâm và thành kính với Phật giáo, thấu hiểu sâu sắc giáo pháp nhu hòa nhưng kiên định của đạo Phật, vốn gắn bó mật thiết với dân tộc Việt Nam. Tư tưởng này đã góp phần hình thành nên nền độc lập tự chủ và bản sắc văn hóa đa dạng, bền vững của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra mối liên hệ mật thiết giữa Phật giáo Việt Nam và dân tộc: “Phật giáo Việt Nam với dân tộc như bóng với hình, tuy hai mà một…”.
Thấu hiểu nỗi khổ đau của dân tộc và xã hội, nhận thức rõ quy luật thiện ác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từ bỏ cuộc sống sung túc ở nước ngoài để trở về, gánh vác sứ mệnh cao cả vì dân tộc. Người đã trải qua hơn một thập kỷ sống trong gian khổ, thiếu thốn, thậm chí tù đày, để đấu tranh giành độc lập, quyền bình đẳng và lòng khoan dung cho con người. Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của tự do tín ngưỡng, Người đã soạn thảo và thông qua Hiến pháp năm 1946, văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước Dân chủ Nhân dân, ghi nhận quyền cơ bản: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do tín ngưỡng”. Điều này khác biệt với nhiều quốc gia cùng thời đã xóa bỏ mọi hình thức tôn giáo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Đại biểu Phật giáo.
Cách đây hơn 2.500 năm, Đức Phật đã đề cao khát vọng công bằng xã hội, dạy rằng: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Mỗi người khi mới sanh không phải có sẵn dấu tin-ca (tilca) trên trán, không đeo sẵn dây chuyền trong cổ”. Người cũng dạy các đệ tử: “Hãy tu hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho chư Thiên và loài người” và “Xưa và nay Ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ”.
Tương tự như hạnh nguyện của Đức Thế Tôn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, đã sớm nhận ra nỗi thống khổ: “Trên đời nghìn vạn điều cay đắng / Cay đắng chi bằng mất tự do”. Hoàn cảnh đó đã thôi thúc Người dấn thân vào hành trình bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước, với quyết tâm: “Tôi muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”. Dù đối mặt với sự theo dõi gắt gao của mật thám Pháp tại Paris, ý chí cứu nước, cứu dân của Người không hề lay chuyển: “Tôi thích làm chính trị thì tôi chẳng sợ chết, cũng chẳng sợ tù đày. Trong đời này chúng ta chỉ chết có một lần, tại sao lại sợ?”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi thiền trong hang đá.
Khi tiếp cận Phật giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy sự tương đồng với tư tưởng vị tha, cứu khổ, mưu cầu hạnh phúc và an lạc cho con người, cho xã hội. Chính Người, một nhà cách mạng vĩ đại, đã hành động như một nhà hiền triết, luôn hướng tới những giá trị cao đẹp nhất của con người.
Con người, trong hành trình tồn tại, luôn đối mặt với dục vọng, khổ đau, bệnh tật, sầu hận và cái chết. Nhu cầu vươn lên khỏi cảnh đời thấp hèn để tìm kiếm cuộc sống cao đẹp và an lạc hơn là bản năng sâu xa. Theo giáo lý nhà Phật, con người là sự tổng hợp của năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Việc điều hòa và phát triển năm uẩn này là con đường dẫn đến hạnh phúc, an lạc và giải thoát, thông qua trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục, tình cảm, sinh lý và lao động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Vua Lào lễ Phật tại chùa Quán Sứ năm 1963.
Người nhấn mạnh tầm quan trọng của “cái tâm” và “cái đức” trong mỗi con người. Đạo đức và tâm sáng là nền tảng cho hành động theo lương tâm. Bản thân Người là minh chứng sống động cho việc thực hành theo tâm và đức sáng cao cả. Đức Phật đã dạy tín đồ rằng, thông qua việc tu hành và thấu hiểu giáo lý, con người có thể hướng tới đức hạnh cao nhất: “Hãy gấp làm điều thiện, ngăn tâm làm điều ác”.
Thấu hiểu lời dạy của Đức Phật, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cô đọng quan điểm của mình một cách giản dị khi trả lời nhà báo: “Chủ tịch ghét gì nhất? Trả lời: Điều ác. Chủ tịch yêu gì nhất? Trả lời: Điều thiện”.
Vào cuối đời (tháng 6/1968), khi được hỏi ý kiến về việc chuẩn bị in sách “Người tốt, việc tốt”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gợi mở: “Ta phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần THIỆN trong con người nẩy nở để đẩy lùi phần ÁC, chứ không phải đập cho tơi bời”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Từ quan điểm này, Người luôn trăn trở làm thế nào để mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Trong Phật giáo, các vị Bồ tát xem nỗi khổ của chúng sinh là nỗi khổ của mình, nguyện cứu độ chúng sinh đến khi nào thành Phật. Ngài Địa Tạng Bồ tát có lời thệ nguyện: “Chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề, Địa ngục vị không thệ bất thành Phật”.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, khát vọng lớn nhất là: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Với tấm lòng bao dung, độ lượng và hướng thiện, Người đã dạy: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng tại chùa ở Thái Lan, Pháp danh là Thầu Chín.
Người tôn trọng mọi tôn giáo, tín ngưỡng, không xúc phạm niềm tin và phong tục tập quán. Thậm chí, Người còn trực tiếp giúp đỡ xây dựng chùa. Năm 1927, khi hoạt động cách mạng tại Uđon-thani (Thái Lan), ông Nguyễn (Hồ Chí Minh) đã kêu gọi bà con Việt kiều đóng góp công sức, vật liệu để xây dựng điện thờ chính cho chùa Oắt-phô.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm nhiều chùa và di tích lịch sử quan trọng như: chùa Hương, chùa Một Cột, chùa Quán Sứ, chùa Thầy, chùa Trầm, chùa Côn Sơn, đền Ngọc Sơn, đền Hùng, Kiếp Bạc, Cổ Loa,… Tại những nơi này, Người thành kính dâng hương, thể hiện sự kết nối với linh khí của đất trời và dân tộc. Người cũng không quên nhắc nhở các nhà sư: “ra sức cầu Phật cho kháng chiến chóng thành công”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến nhiều chùa như: chùa Hương, chùa Một Cột, chùa Quán Sứ, chùa Thầy, chùa Trầm, chùa Côn Sơn, đền Ngọc Sơn, đền Hùng, Kiếp Bạc, Cổ Loa,…
Ngay sau khi đất nước giành độc lập, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của các vùng đất linh thiêng và các công trình kiến trúc cổ. Nhận thấy nguy cơ suy đồi và tàn phá các di tích lịch sử, Người đã khẩn cấp ký Sắc lệnh số 65 (ngày 23/11/1945) nhằm bảo vệ: “Bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, cấm phá huỷ đình, chùa, đền, miếu, các cổ vật… có ích cho lịch sử”.
Vào ngày 5/1/1946, tại chùa Bà Đá, Hội Phật giáo Cứu quốc đã tổ chức tuần lễ “Mừng Liên hiệp quốc gia”, cầu nguyện cho nền độc lập. Trước sự chứng kiến của các thành viên Chính phủ, tăng ni và Phật tử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trang trọng đọc lời thề: “… Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Hy sinh, nếu cần đến hy sinh cả tính mạng, tôi cũng không từ”. Từ đó, Người khẳng định quan niệm: “Trong bầu trời không có gì tốt đẹp vẻ vang bằng phục vụ lợi ích cho nhân dân, việc gì có lợi cho nhân dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”.

Cây Bồ đề chùa Trấn Quốc do Tổng thống Ấn Độ tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Năm 1958, trong chuyến thăm Ấn Độ theo lời mời của Tổng thống nước này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có dịp đến thăm chùa và chia sẻ: “Chúng tôi rất sung sướng được thăm quê hương Đức Phật, quê hương của một trong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới”. Nhà thơ Huy Cận đã viết: “Khi bình sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn có một tấm lòng kính mộ sâu sắc và cảm động đối với Đức Phật Thích Ca – người sáng lập ra đạo Phật, cũng như đối với tất cả các vị sáng lập những tôn giáo lớn. Người đã cảm nhận ở các vị giáo chủ này trước hết là lòng thương cảm sâu sắc đối với số phận của những chúng sinh và ý muốn thiết tha làm sao giảm nhẹ hoặc xóa bỏ những nỗi đau khổ của con người trên trái đất”.
Cây Bồ đề, nơi Đức Phật Thích Ca tọa thiền và thành đạo, đã được Tổng thống Ấn Độ trao tặng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã cho trồng cây này tại chùa Trấn Quốc, một ngôi chùa linh thiêng bậc nhất của Thủ đô Hà Nội.

Phật giáo bị đàn áp dưới thời Ngô Đình Diệm.
Tại miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm đã thực hiện chính sách kỳ thị tôn giáo, gây chia rẽ dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi Tăng Ni, Phật tử: “hãy ra sức giúp đỡ cán bộ, hăng hái thực hiện mọi công tác của Chính phủ, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, ngăn chặn âm mưu của Mỹ – Diệm và bọn tay sai chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, hãy ra sức đấu tranh giành thống nhất đất nước”.
Khi chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành đàn áp Phật giáo bằng việc cấm treo cờ Phật giáo thế giới vào dịp Lễ Phật đản năm 1963, Tăng Ni, Phật tử miền Nam đã đứng lên đấu tranh mạnh mẽ.
Để phản đối chính sách bất công, tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm, vào ngày 11-6-1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu tại Sài Gòn với lời nguyện: “Khói thơm cảnh tỉnh bao người ác, Tro trắng phẳng san hố bất bình”.
Trước sự hy sinh phi thường và dũng cảm của Hòa thượng Thích Quảng Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vô cùng cảm động và gửi câu đối kính viếng: “Vị pháp thiêu thân vạn cổ hùng huy thiên nhật nguyệt. Lưu danh bất tử bách niên chính khí địa sơn hà”.

Bồ tát Thích Quảng Đức – Vị pháp thiêu thân.
Vào ngày 28-8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Tuyên bố, nghiêm khắc lên án chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man Tăng Ni, Phật tử và khủng bố, bắt bớ giáo sư, sinh viên, học sinh miền Nam. Người nhấn mạnh: “Bọn Ngô Đình Diệm đốt phá chùa chiền, khủng bố sư sãi và đồng bào theo đạo Phật. Chúng đóng cửa các nhà trường, bắt bớ hàng loạt giáo sư và sinh viên, học sinh. Tội ác của chúng, nhân dân ta đều căm giận. Cả thế giới đều lên tiếng phản đối, nhân dân tiến bộ Mỹ cũng tỏ lòng bất bình…”. Người khẳng định cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam nhất định thắng lợi, dưới sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới. Đồng thời, Người bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến nhân dân và chính phủ các nước, đặc biệt là nhân dân tiến bộ Mỹ, đã lên án Mỹ – Diệm và ủng hộ nhân dân miền Nam.
Mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phật giáo trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người là vô cùng sâu sắc, thể hiện qua cả nhận thức và hành động. Sự đồng hành của Phật giáo cùng dân tộc ngày càng được khẳng định rõ nét. Điều này lý giải vì sao Tăng Ni, Phật tử Việt Nam đã đi theo con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Ngay cả trong thời kỳ hòa bình, Phật giáo vẫn luôn đồng hành cùng dân tộc, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” theo mong ước của Người.
Tìm hiểu sâu hơn về sự giao thoa giữa tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những giá trị cốt lõi của Đạo phật để thấy rõ hơn bức tranh toàn diện về tâm hồn Người.
