Cõi Địa ngục tồn tại ở đâu trong vũ trụ quan của con người?

× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Khám phá những tầng thứ khổ đau và sự tái sinh vào cảnh giới Vô minh qua lăng kính Phật giáo. Liệu có nơi nào trong vũ trụ mà tội lỗi và sự trừng phạt được định đoạt, hay tất cả chỉ là quy luật nhân quả của nghiệp lực? Website Chia sẻ Đạo Phật sẽ dẫn dắt bạn vào hành trình giải mã những bí ẩn về cõi âm.

Địa ngục, trong tiếng Hồ là Nê Lê, tiếng Phạn là Nại-lạc-ca. “Nại-lạc” nghĩa là người, “ca” nghĩa là ác. Nơi đây là nơi sinh ra những người ác, do đó có tên gọi như vậy. Có nơi còn dịch là Bất khả lạc, Khổ cụ, hay Khổ khí. Nguyên nhân chúng sinh đọa vào cảnh giới này là do khi còn sống đã tạo ra những hành động cực kỳ tàn ác về thân, khẩu và ý. Vì lẽ đó, họ phải sinh vào nơi đây và tiếp tục chịu đựng. Tên gọi địa ngục cũng mang ý nghĩa là “ngục ở dưới đất”, nơi giam hãm tội nhân, tước đoạt tự do tự tại của họ.

Theo Bà Sa luận, những tội nhân này bị bọn ngục tốt A Bàng giam giữ, không cho phép đi lại tự do. Địa ngục không chỉ tồn tại dưới đất mà còn có thể ở trên mặt đất hoặc trong không trung. Do đó, trong tiếng Phạn, nó được gọi là Nại-lạc-ca thay vì địa ngục. Luận này cũng đề cập đến việc các địa ngục có thể nằm trong hang núi, đồng ruộng, không trung hoặc miếu bên bờ biển. Các châu khác có thể chỉ có Biển địa ngục, Độc địa ngục, mà không có Đại địa ngục.

Cõi Địa ngục trụ ở đâu?  1Hình chỉ mang tính minh họa

Dựa trên Tam pháp độ luận, địa ngục được phân loại thành ba nhóm chính: Nhiệt ngục, Hàn ngục và Biên ngục.

1. Nhiệt ngục: Bao gồm tám tầng ngục nằm dưới châu Thiện Bộ. Dưới lớp đất bùn và đất sét trắng là bảy ngục lớn, cách đó một vạn chín ngàn do tuần. Sâu hơn nữa, ở hai vạn do tuần là ngục Vô Gián. Tổng cộng, từ dưới châu Thiện Bộ đến đáy ngục Vô Gián là bốn vạn do tuần. Ngục Vô Gián có chiều dài, chiều rộng và chiều cao mỗi chiều là hai vạn do tuần. Bảy ngục lớn kia, mỗi ngục có kích thước một vạn do tuần. Từ dưới châu Thiện Bộ đến ngục Vô Gián, địa ngục có hình dạng nhọn ở trên và to ở dưới, giống như đống thóc. Bên trong có tám ngục xếp chồng lên nhau. Kinh A Hàm cho biết, tổng cộng có tám ngục lớn, mỗi ngục lại có mười sáu ngục nhỏ bao quanh.

Mỗi ngục lớn có bốn cửa, và trước mỗi cửa lại có bốn Du tăng (những sinh vật khiến nỗi khổ của tội nhân tăng thêm khi bước vào). Như vậy, cộng với bảy ngục trước, tổng cộng có mười bảy tầng ngục. Tám ngục lớn cùng các ngục phụ thuộc tạo thành một trăm ba mươi sáu sở, giải thích tại sao kinh điển thường nói về một trăm ba mươi sáu Nại Lạc Ca.

Một là Đẳng Hoạt ngục: Còn gọi là Canh Hoạt ngục. Tội nhân ở đây bị ngục tốt làm cho sống lại hoặc bị gió thổi khiến sống lại. Dù nguyên nhân khác nhau, kết quả đều là sự hồi sinh để tiếp tục chịu khổ. Ngục này dành cho những người quen thói sát hại. Một ngày đêm ở ngục này tương đương với một vạn sáu ngàn ngày hai trăm ức năm ở thế gian. Tội nhân chịu thọ năm trăm tuổi ở đây.

Hai là Hắc Thắng ngục: Tội nhân bị trói bằng dây thép rồi bị rìu sắt chém. Ngục này dành cho những người có tập quán sát sinh và trộm cắp. Một ngày đêm ở đây tương đương với ba vạn hai ngàn bốn trăm ức năm ở thế gian. Tội nhân sống thọ một ngàn tuổi.

Ba là Chúng Hợp ngục: Còn gọi là Chúng khâu (hạp) ngục, nơi hai ngọn núi ép chặt tội nhân. Ngục này dành cho những người có tập quán sát sinh, trộm cắp và tà dâm. Sáu vạn bốn ngàn tám trăm ức năm ở thế gian bằng một ngày ở đây. Tội nhân sống thọ hai ngàn tuổi.

Bốn là Hô Hô ngục: Còn gọi là Khiếu Hoán ngục. Tội nhân bị bức bách trong ngục tối, phải vừa chạy vừa la hét. Ngục này dành cho những người có thói quen sát sinh, trộm cắp, tà dâm và nói dối. Một ngày đêm ở đây tương đương với mười hai vạn chín ngàn sáu trăm ức năm ở thế gian. Tội nhân thọ bốn ngàn tuổi.

Năm là Đại Hô ngục: Còn gọi là ngục Đại Hô Hoán. Bốn ngọn núi vây quanh, tội nhân không thể trốn thoát, chỉ biết gào khóc. Ngục này dành cho những người sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ và khuyến khích người khác uống rượu. Một ngày đêm ở đây tương đương với hai mươi lăm vạn chín ngàn hai trăm ức năm ở thế gian. Tội nhân thọ tám ngàn tuổi.

Sáu là Thiêu Nhiên ngục: Còn gọi là ngục Viêm nhiệt. Tội nhân bị kẹp bằng thép nung và chịu nóng bỏng. Ngục này dành cho những người sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu và có tà kiến. Năm mốt vạn bốn trăm năm ở thế gian bằng một ngày đêm ở đây. Tội nhân thọ mười sáu ngàn tuổi.

Bảy là Đại Thiêu Nhiên ngục: Còn gọi là ngục Đại Viêm Nhiệt. Tội nhân bị lửa núi phả vào và xẻo nướng. Ngục này dành cho những người sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, cho người uống rượu, có tà kiến, không tin vào Phật pháp, hoặc phá giới của Tỳ kheo ni. Thời gian chịu tội tương đương một nửa kiếp.

Tám là Vô Gián ngục: Còn gọi là ngục Vô Trạch. Một khi bị ném vào lửa khổ, tội nhân sẽ không bao giờ có khoảnh khắc an vui. Họ chịu khổ liên tục không ngừng nghỉ. Ngục này dành cho những người phạm tội ngũ nghịch. Tiếng Phạn là A Tỳ, nghĩa là “vô gián” (không gián đoạn) hoặc “vô cửu” (không có hồi kết).

Theo Kinh Quán Phật Tam Muội, một ngày một đêm chịu khổ ở ngục A Tỳ tương đương năm mươi tiểu kiếp ở thế gian. Thời gian chịu tội là một đại kiếp. Người phạm tội ngũ nghịch phải chịu tội trong năm kiếp. Ngoài ra, những chúng sinh phạm bốn trọng tội: ăn không của tín thí, phỉ báng, tà kiến, không biết nhân quả, đoạn tuyệt Bát Nhã, hủy báng mười phương Phật, ăn trộm của sư tăng, dâm dục vô độ, hãm hiếp tịnh ni, hủy nhục người thân, sẽ phải chịu tội báo một trăm linh bốn ngàn đại kiếp, và còn bị đưa vào mười tám vạc dầu ở phương Đông để chịu khổ. Các phương Tây, Nam, Bắc cũng tương tự.

2. Hàn ngục: Gồm tám tầng ngục nằm ở đáy núi Thiết Vi, bên ngoài châu này. Tội nhân ở đây phải chịu nỗi khổ vì rét mướt, khiến thân thể bị tổn thương.

Một là An-phù-đà ngục: Da thịt bị rét cắt gây phồng rộp nhỏ.

Hai là ngục Nê-la-phu-đà: Nốt phồng vỡ ra. Gió rét thổi khiến khắp người bị phồng rộp, nứt nẻ. Hai ngục này được đặt tên theo nỗi khổ về thể xác.

Ba là ngục Ba-tra-na: Giá rét tăng lên, môi không mấp máy được, chỉ có lưỡi còn cử động, phát ra âm thanh. Tên ngục dựa trên âm thanh phát ra.

Tìm hiểu thêm: Mậu Dần 1998 Nam mạng 2025: Chìa Khóa Vận Mệnh Hứa Hẹn Đột Phá

Bốn là ngục A-ba-ba: Rét tăng thêm ghê gớm, lưỡi không cử động được, chỉ có môi phát ra tiếng kêu. Tên ngục dựa trên âm thanh phát ra.

Năm là Á hầu ngục: Rét quá độ, môi lưỡi không cử động. Chỉ có tiếng động trong họng do hơi thở bị chấn động. Ba ngục trên được đặt tên theo âm thanh phát ra khi bị khổ.

Sáu là ngục Uất-ba-ba: Nghĩa là Hoa sen xanh. Da thịt bị toác ra như cánh hoa sen xanh bị xé rách. Tên ngục dựa trên hình dáng vết thương.

Bảy là ngục Ba-đầu-ma: Nghĩa là hoa sen hồng. Thịt bị toác ra như hoa sen hồng xòe nở. Tên ngục dựa trên hình dáng vết thương.

Tám là ngục Phần-Đà-Lợi: Nghĩa là hoa sen trắng. Xương bị toác ra như hoa sen trắng xòe nở. Ba ngục cuối này được đặt tên theo hình tướng của vết thương.

3. Biên Ngục: Bao gồm ba loại ngục: Sơn gian ngục (trong núi), Thủy gian ngục (trong nước), và Khoáng dã ngục (giữa đồng). Tội nhân ở đây phải chịu cả nóng lẫn lạnh do các nghiệp đặc biệt đã tạo ra.

Theo Chang Thung lục, có tám mươi tư ngàn tòa ngục cô độc nằm rải rác trong cõi Diêm phù đề, nơi tội báo nhẹ hơn. Tuy nhiên, các loại báo ứng chính có thể được tóm tắt như sau:

Tội cực nặng, đệ nhất căn bản: Giết cha mẹ, giết A-la-hán, phá hòa hợp Tăng, bức ép tịnh ni, làm chảy máu thân Phật mà không sám hối; tội ngũ nghịch và thượng phẩm thập nghiệp sẽ đọa vào tám ngục lớn. Tội thượng trung phẩm thập ác sẽ sinh vào các địa ngục hàn băng. Tội thượng hạ phẩm thập ác sẽ thác sinh vào tiểu địa ngục cô độc.

Kinh chép rằng, Diêm La vương, với một niệm ác, nắm giữ mọi việc trong ngục, tự mình chịu khổ mà không thể nói gì. Tương truyền, Diêm La vương xưa là Tỳ Sa quốc vương, khi thua trận trước Duy Đà Thủy vương, đã thề rằng sẽ sinh làm chúa địa ngục để cai trị tội nhân. Mười tám đại thần và hàng triệu quân lính cũng có lời thề tương tự. Tỳ Sa vương chính là Diêm La vương ngày nay. Mười tám đại thần là chúa của mười tám ngục, và hàng triệu quân lính chính là bọn ngục tốt ngưu đầu (đầu trâu) A Bàng.

Kinh Địa Ngục mô tả cung thành của Diêm Vương ở địa ngục rộng lớn, mỗi bề ba vạn dặm, làm bằng đồng sắt. Mỗi ngày đêm, có vạc đồng lớn chứa đầy nước đồng nóng chảy. Trước mặt Diêm Vương, một đại ngục tốt sẽ banh miệng Ngài ra, đổ nước đồng sôi vào, khiến từ họng trở xuống cháy nát. Các đại thần cũng chịu hình phạt tương tự trước khi bắt đầu công việc.

Mười bảy chúa ngục và địa bàn cai quản bao gồm:

Ca Diên coi ngục Nê Lê

Khuất Tôn coi ngục Đao Sơn (núi dao)

Phí Tiến coi ngục Phí sa (cát sôi)

Phí Diễn coi ngục Phí thí (phân sôi)

Xem thêm: Lời Khấn Gia Đình: Nâng Niu Hạnh Phúc, Lan Tỏa Yêu Thương Mỗi Ngày

Ca Thế coi ngục Hắc nhĩ

Cái Sai coi ngục Hỏa xa (xe lửa)

Thang Vị coi ngục Thang hoạch (vạc dầu sôi)

Thiết Ca Diên coi ngục Thiết sáng (giường sắt nung)

Ác Sinh coi ngục Cái Sơn

Thân Ngâm coi ngục Hàn băng (băng lạnh)

Tỳ Ca coi ngục Súc sinh

Dao Đầu coi ngục Đao binh

Di Đại coi ngục Thiết ma (cối xay thép)

Duyệt Đầu coi ngục Khôi hà (sông tro)

Xuyên Cốt coi ngục Thiết Sách

Khám phá: Tân Sửu 1961: 2025 – Bật Tông Phong Thủy, Thuận Lợi Tài Lộc Với Sắc Màu Nào?

Danh Thân coi ngục Thư trùng (giòi bọ)

Quán Thân coi ngục Dương đồng

Mỗi địa ngục này đều có vô lượng địa ngục phụ thuộc và một chúa ngục là bọn ngưu đầu. A Bàng, với bản tính hung ác, không hề có lòng từ bi. Khi thấy chúng sinh chịu ác báo, A Bàng cho rằng họ chỉ đang nhận quả báo, không đáng thương xót. Khi bị hỏi về sự tàn nhẫn này, A Bàng giải thích rằng những kẻ phạm tội bất hiếu, phỉ báng Phật pháp, chửi bới người thân, khinh mạn sư trưởng, hủy hoại mọi thứ, ác khẩu, lưỡng thiệt, ghen ghét, chia rẽ gia đình, giận dữ giết người, tham dục dối trá, tà mệnh, tà cầu, tà kiến, lười biếng, chơi bời và tạo oán kết, đều phải đến đây chịu khổ. A Bàng cho rằng nếu không trừng phạt nghiêm khắc, chúng sẽ không biết sợ hãi, không biết hổ thẹn, không biết xấu hổ, và sẽ tiếp tục tái phạm. Vì chúng sinh quá vô tri, không biết tránh khổ tìm vui, nên A Bàng cho rằng cần phải gây ra đau khổ ghê gớm hơn gấp bội phần so với ở thế gian, thay vì có lòng từ bi.

Kinh Chính Pháp Niệm ghi lại bài kệ mà Diêm La vương đọc cho chúng sinh:

Nhữ đắc nhân thân bất tu đạo

Như thập bảo sơn không thủ quy

Nhữ kim tự tác hoàn tự thụ

Khiếu hoán khổ gia dục hà vi.

Dịch:

Người được thân người chẳng tu đạo

Như vào núi báu, tay không về

Nay ngươi tự làm phải tự chịu

Kêu ca khổ sở có ích gì.

Các kinh luận đã mô tả chi tiết về tướng trạng, hình cụ và sự sai biệt trong việc thụ báo ở các địa ngục khác nhau. Nội dung này không cần trích dẫn thêm để tránh dài dòng. Tuy nhiên, cần hiểu rằng các nghiệp thiện ác mà con người tạo ra giống như hình bóng bám theo cơ thể. Khi chết, thân thể mất đi nhưng hạnh nghiệp thì không. Giống như đốt lửa xem sách ban đêm, lửa tắt nhưng chữ vẫn còn đó, khi có lửa lại hiện ra. Nghiệp đã tạo ở đời này sẽ thành quả báo ở đời sau.

Kinh chép rằng, nghiệp không có “trụ xứ” cố định, nghĩa là nghiệp đó tồn tại ở quá khứ, chờ đợi thời cơ, điều kiện và thụ quả báo. Giống như uống thuốc, sau một thời gian, thuốc tiêu hết nhưng đến thời cơ lại phát huy tác dụng mạnh mẽ. Dù là nghiệp quá khứ, khi thời cơ đến, chúng ta vẫn phải chịu quả báo. Điều này giống như một đứa trẻ học việc, dù mỗi ý niệm đều diệt đi, nhưng trăm năm sau vẫn không quên được. Các vấn đề khác đã được kinh điển trình bày rõ.

Kinh Đề Vị ghi lại cuộc đối thoại giữa Trưởng giả Đề Vị và Phật. Trưởng giả hỏi tại sao Tam trường trai lại kéo dài từ mồng một đến rằm tháng Giêng, và thế nào là “cấm”. Phật giải thích rằng bốn mùa thay đổi, âm dương luân chuyển, mỗi năm có ba lần tổng kết để điều chỉnh sáu tiết tấu trong một tháng. Tam giới rõ ràng, ngũ quan ghi chép, hạnh nghiệp chúng sinh khác nhau được năm quan cai quản xét định tội phúc. Chư thiên, Đế Thích, thái tử, sứ giả, nhật nguyệt quỷ thần, địa ngục, diêm la, cùng hàng triệu thần chúng đều dựa vào ngày mồng một tháng Giêng, mồng một tháng năm, mồng một tháng chín để đi xét định hạnh nghiệp thiện ác của vua, tôi, chim bay, thú chạy, quỷ, rồng. Việc này so với báo cáo của Tứ Thiên Vương trong các ngày 8, 15, 30 hàng tháng phải khớp với nhau, đảm bảo không ai bị oan uổng hay sai sót. Qua đó, xét xem chúng sinh ba cõi thuộc loại phúc hay tội, nhiều hay ít. Những ai nhiều phúc sẽ được sinh lên cõi Trời, được sắc lệnh cho Tứ Trấn, Đại vương, Ngũ quan tăng thọ, và được đưa đến Diêm La vương để thay quyền Ngũ quan, trừ tội danh, định phúc lộc. Do đó, cần giữ ba trường trai. Ba lần rà soát, tám lần xét định này được gọi là Bát vương nhật. Đây cũng là ngày Thiên Đế Thích, Ngũ quan, Tứ vương, Địa ngục vương, A-tu-la và các chư Thiên cùng xét xử, cân nhắc, quyết định sinh tử, tăng giảm tội phúc. Ngày Bát vương nhật bao gồm các ngày Lập xuân, Xuân phân, Lập hạ, Hạ chí, Lập đông, Đông chí. Đây là tám ngày trời đất, âm dương thay đổi. Các ngày 8, 14, 23, 29, 30 hàng tháng là những ngày trời đất giải quyết công việc. Các ngày thượng huyền, hạ huyền, sóc, vọng, hối là những ngày ghi nhận báo ứng. Do đó, trong những ngày này, mỗi người cần tự mình ăn chay để tự xét mình, tránh phạm cấm, và được sinh về nơi tốt. Lời Phật không sai, ai dám không tin. Nếu còn nghi ngờ, sau này tự sẽ biết.

(Trích “Lục đạo tập”)

TT. Thích Viên Thành

Nguồn: NXB Hải Phòng)

Dù những mô tả về địa ngục có thể khiến nhiều người rùng mình, thế giới quan về nhân quả và luân hồi trong Đạo phật vẫn tiếp tục là một chủ đề thu hút sự tìm hiểu sâu sắc từ độc giả.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang