Chữ Tâm Kiều – Nét Đẹp Vĩnh Cửu Trong Truyện Kiều

bui tran 2213 1
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Sự am hiểu sâu sắc về giáo lý nhà Phật thể hiện qua từng câu chữ của Nguyễn Du, vượt lên trên khuôn khổ của một nhà Nho uyên bác. Khám phá chiasedaophat.com để hiểu thêm về mối liên kết mật thiết giữa tư tưởng Phật giáo và kiệt tác Đoạn Trường Tân Thanh.

Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du, nhiều người ngạc nhiên khi một môn sinh xuất sắc nơi “cửa Khổng sân Trình” lại viết:

Mãn cảnh giai không hà hữu tướng,

Thử tâm thường định bất ly thiền.

Tạm dịch: Khắp cảnh đều không đâu có tướng

Tâm này thường định chính là Thiền.

hay:

Nhân liễu thử tâm nhân tự độ

Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.

Tạm Dịch: Người liễu ngộ được tâm này thì người tự độ thoát,

Linh Sơn chỉ tại tâm người mà thôi.

Từ ngạc nhiên, ta chuyển sang thú vị và chợt nhận ra rằng, Tố Như Tử không chỉ là một nhà Nho uyên bác mà còn là người am hiểu sâu sắc Phật học, gần như đạt đến sự sở ngộ. Có thể Nguyễn Du chưa bao giờ chính thức là Phật tử, nhưng điều đó không quan trọng. Sự am hiểu Phật lý của ông dễ dàng được lý giải qua lời thú nhận của nhà thơ: “Ngã độc Kim cương thiên biến linh”. Việc đọc kinh Kim Cương hơn nghìn lần không thể là sự tình cờ hay thờ ơ, mà đó là kết quả của sự chú tâm nghiên cứu tìm hiểu. Do đó, chữ “Tâm” đầy sở ngộ này của Nguyễn Du không còn là điều lạ lẫm khi xuất hiện trong tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” của ông.

Chữ Tâm trong truyện Kiều 1

Một chữ “Tâm” giàu tính triết lý mà Nguyễn Du đã thâm nhập từ hệ thống triết học “Tánh Không” của Kim Cang Bát Nhã, và vận dụng một cách tài tình vào tác phẩm của mình.

Nếu “Truyện Kiều” mở đầu bằng việc phác họa một viễn cảnh đầy vô thường, biến động và khổ đau – một cuộc “bể dâu” giới hạn bởi “trăm năm trong cõi người ta” – thì ở phần kết, Nguyễn Du lại hạ bút:

Có tài mà cậy chi tài,

Chữ tài liền với chữ tai một vần.

Đã mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đành trách lẫn trời gần trời xa.

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài.

[TK câu 3247 – 3252]

Như vậy, sự mở đầu tác phẩm xoay quanh “Tài – Mệnh”, nhưng kết thúc lại là “Tài – Nghiệp”. Tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Du trở nên rõ ràng: ông dùng chữ “Tâm” để đối lại và bù đắp cho chữ “Tài”. Tư tưởng này đã được dụng ý ngay từ trong toàn bộ bố cục tác phẩm. Chữ “Tâm” – trong truyền thống Thiền học Phật giáo mà Nguyễn Du đã thấm đượm và nằm lòng – chính là yếu tố đã sửa đổi thuyết “Tài Mệnh tương đố” của Nho giáo, gạt bỏ những “thần cơ huyền toán” của Lão giáo trong tư tưởng “Truyện Kiều”, qua đó thể hiện nhân sinh quan của Tố Như Tử.

Đạo Phật chủ trương “Nhất thiết duy tâm tạo”, nghĩa là tất cả đều khởi nguồn từ một chữ “Tâm”. Kinh Pháp Cú dạy:

Tâm dẫn đầu các pháp,

Tâm là chủ, tâm tạo;

Nếu với tâm ô nhiễm,

Khám phá: Niệm Hương & Niêm Hương: Hiểu Đúng Ý Nghĩa, Lòng Thành Vẹn Toàn

Nói năng hay hành động,

Khổ não bước theo sau,

Như xe, chân vật kéo. [2, 11]

Một chữ “Tâm” xuyên suốt Đông Tây, quán triệt cổ kim, trước sau. Do đó, khi tâm rỗng rang, trời đất thênh thang, lòng người tự tại; khi tâm nặng trĩu, núi sông cũng trở nên khúc khuỷu, gập ghềnh. Chỉ với một cái “Tâm” bao trùm vạn tượng ấy, chúng sinh đã sinh ra vô số nghiệp thức hiện hành.

Tâm hồn nhạy cảm của Thúy Kiều là biểu hiện rõ nét cho chữ “Tâm” trong triết lý Phật giáo. Trong một lần đi chơi, khi gặp mộ Đạm Tiên và nghe sơ qua tiểu sử cuộc đời của cô kỹ nữ xa lạ, Kiều đã liên tưởng đến chính mình:

Nỗi niềm tưởng đến mà đau,

Thấy người nằm đó biết sau thế nào?

[TK câu 109 – 110]

Kiều mang một niềm tin “chết người” rằng những người tài hoa, xinh đẹp như nàng đều sẽ “bạc mệnh”, “đoạn trường”, và cuộc đời nàng rồi đây sẽ là một “bản sao” không khác gì Đạm Tiên. Trong khi đó, Thúy Vân lại tỏ ra rất bình thản:

Vân rằng: “chị cũng nực cười,

Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa!”

[TK câu 105-106]

Còn Vương Quan thì lo sợ:

Quan rằng: “chị nói hay sao,

Một lời là một vận vào khó nghe.”

[TK câu 111-112]

Trong tâm thức của Kiều đã âm thầm chứa đựng những hạt giống khổ đau, bạc mệnh. Thành ra, “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, Kiều cảm nhận được những điều mà Thúy Vân, Vương Quan không hề hay biết. Chính cái tâm thức đầy đảo điên, mộng mị này của Kiều đã đưa nàng vào chốn đoạn trường ngay từ đầu.

Chữ Tâm trong truyện Kiều 2

Ảnh minh họa.

Thuyết nhân quả nghiệp báo của đạo Phật thể hiện trong “Truyện Kiều”

Hãy lắng nghe những lần Kiều đánh đàn. Cùng một ngón đàn, cung bậc ấy và con người ấy, nhưng tiếng đàn lại mang những sắc thái khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh và tâm trạng của Kiều. Lần đầu tiên Kiều đàn khi gặp Kim Trọng:

Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,

Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu.

Khi tựa gối khi cuối đầu,

Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.

Rằng “hay thì thực là hay,

Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!”

Xem thêm: Tháng 12 Âm lịch 2024: Tuổi Bính Tý đón vận may, hóa giải thử thách đón Tết an lành

[TK câu 485-488]

Khi Kiều đàn hầu tiệc rượu cho vợ chồng Thúc Sinh:

Bốn dây như khóc như than,

Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!

[TK câu 1853-1854]

Và rồi, trong đau khổ, tuyệt vọng tột cùng, Kiều bị ép đàn hầu tiệc mừng công của Hồ Tôn Hiến:

Một cung gió thảm, mưa sầu,

Bốn dây nhỏ máu trên đầu ngón tay.

Ve ngâm, vượn hót nào tày,

Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu.

[TK câu 2569-2572]

Tiếng đàn của Kiều không còn đơn thuần là âm thanh mà đã trở thành tiếng lòng thổn thức, tuôn trào từ chính tâm can nàng. Trong trạng thái cùng cực của nỗi đau và tuyệt vọng, Kiều dồn hết tâm trạng vào dây đàn, và “tiếng lòng” ấy vang lên, đủ sức làm “tan nát lòng” Thúc Sinh, khiến cho cả Hồ Tôn Hiến cũng phải “nhăn mày rơi châu”!.

Nghe tiếng đàn cuối cùng trong cuộc đời Kiều, ta càng cảm nhận rõ hơn vai trò quan trọng của tâm thức trong cuộc sống mỗi con người. Sau mười lăm năm lưu lạc, chịu đựng biết bao tủi nhục, đọa đày, Kiều cuối cùng cũng đoàn tụ với gia đình trong niềm vui khôn tả. Trong đêm hội ngộ người tình xưa, Kiều lại đàn, và lần này:

Trong sao châu nhỏ duềnh quyên,

Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!

[TK câu 3203-3204]

Kim Trọng nghe tiếng đàn và cảm nhận được tất cả qua đó. Chàng ngạc nhiên:

Chàng rằng: “Phổ ấy tay nào,

Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy?”

[TK câu 3207-3208]

Trong quan niệm xưa, tiếng đàn bị cho là đã góp phần đưa Kiều vào chốn đoạn trường. Bản thân Kiều cũng tin như vậy, như nàng thú nhận:

Nàng rằng: “vì chút nghề chơi,

Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu.”

[TK câu 3211-3212]

Kỳ thực, điều đó không hoàn toàn đúng. Chính xác hơn là một sự đảo ngược. Tâm thức Kiều luôn bị ám ảnh bởi hai chữ “đoạn trường” tai hại, khiến mọi suy nghĩ và hành động của nàng đều tập trung vào việc “vận” vào hai chữ ấy mà không thể thoát ra được. Đây là cách nhìn theo Duy thức học Phật giáo mà có lẽ nhà thơ họ Nguyễn đã am tường. Nỗi “tự kỷ ám thị” tai hại này đã đeo bám nàng từ thuở ấu thơ, bắt đầu từ lời phán của một ông thầy bói:

Tìm hiểu thêm: Bình An Nơi Đau Đớn: Lời Giải Từ Phật Pháp Cho Thai Nghén Éo Le

Nhớ từ năm hãy thơ ngây,

Có người tướng sĩ đoán ngay một lời.

Anh hoa phát tiết ra ngoài,

Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.

[TK câu 413-416]

Thêm vào đó là bóng ma ám ảnh của Đạm Tiên. Đạm Tiên đã theo sát Kiều trên mọi nẻo đường cuộc đời nàng, cả khi sống lẫn khi sắp chết. Đọc “Truyện Kiều”, ai cũng có thể cảm nhận điều này. Tuy nhiên, chính xác hơn là Kiều đã gặp Đạm Tiên, “nhận” nàng làm tri kỷ, tri âm, rồi từ đó luôn “dắt” Đạm Tiên theo bên mình. Trong tâm thức, Kiều không thể nghĩ và không thể tin rằng mình sẽ sống khác Đạm Tiên hay “cãi lời” thầy bói. Đó chính là nghiệp thức tai hại mà Kiều tự tạo ra cho mình, nên:

Vậy nên những chốn thong dong,

Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng.

Ma đưa lối, quỷ dẫn đường,

Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.

[TK câu 2663-2666]

Nguyễn Du còn thể hiện mình là một bậc thầy về Duy thức học Phật giáo khi ông viết những vần thơ như:

Sầu đong càng lắc càng đầy,

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.

[TK câu 247-248]

hay:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

[TK câu 1243-1244]

Chữ Tâm trong truyện Kiều 3

Đạo Phật chủ trương “Nhất thiết duy tâm tạo”, tất cả đều do một chữ “Tâm” mà ra.

Ý nghĩa chữ “Khổ” của đạo Phật thể hiện trong “Truyện Kiều”

Một chữ “Tâm” giàu tính triết lý, mà Nguyễn Du đã thâm nhập từ hệ thống triết học “Tánh Không” của Kim Cang Bát Nhã, và vận dụng một cách tài tình vào tác phẩm của mình. Chỉ những ai đọc Kiều với tất cả chiều sâu tâm thức mới có thể nhận ra điều này. Chẳng trách khi những môn đồ trung kiên của Nho gia chỉ trích nhà thơ khi ông viết:

Như nàng lấy Hiếu làm trinh,

Bụi nào cho đục được mình ấy vay?

[TK câu 3119-3120]

Trong khi Nho giáo quan niệm phụ nữ như một tầng lớp phụ thuộc trong xã hội, sinh ra và lớn lên chỉ để suốt đời nương tựa vào người đàn ông, trở thành một thứ trang sức, thậm chí là món đồ chơi cao cấp và cầu kỳ của người đàn ông. Với quan niệm khắt nghiệt và bất công đó, chữ Trinh của người phụ nữ được đặt ở vị trí hàng đầu trong việc đánh giá nhân cách và tư cách của họ. Thực chất, đó chỉ là một hình thức khác của lòng tham lam và bất công, chỉ muốn chiếm hữu và độc quyền đối với người phụ nữ. Trong một xã hội mà quan niệm như thế còn thống trị, thì hai câu thơ trên đã thể hiện sự tiến bộ và phóng khoáng không ngờ trong nhận thức tư tưởng của nhà thơ.

Nguyễn Du, với tư cách là một nhà Nho chính hiệu, hẳn không xa lạ gì với những quan niệm bảo thủ về chữ trinh. Có ý kiến cho rằng nhà thơ viết như vậy là xuất phát từ lòng thương yêu đối với Kiều và đó là tư tưởng nhân đạo của tác phẩm. Tuy nhiên, theo người viết, còn có một lý do khác ít được đề cập đến: đó là việc Nguyễn Du đã vận dụng tinh thần vô ngã, thái độ vô chấp của Thiền học trong việc đánh giá vấn đề. Chữ trinh hay sự trong sạch chỉ có ý nghĩa tương đối về mặt hình thức; còn thực chất, tâm mới là chủ thể tạo tác, làm nên một nhân cách sạch hay nhơ. Kiều không vì ham muốn dục vọng mà mất trinh tiết, đó là một sự hy sinh. Chúng ta có thể nói như Đạo Phật: đó là một đại nguyện của Kiều. Hiểu như vậy, ta càng thấy được sự vĩ đại trong tư tưởng và lòng độ lượng của Nguyễn Du đối với cuộc đời.

Hãy tiếp tục khám phá những tầng sâu triết lý và ý nghĩa nhân sinh trong “Truyện Kiều” và mối liên hệ sâu sắc với Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang