Công đức và Phúc đức: Ý nghĩa sâu sắc cho cuộc sống

wwww 0749 1
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Khi Vua Lương Võ Đế hỏi về công đức từ những việc làm thiện, câu trả lời từ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã gây không ít ngạc nhiên. Sự nhầm lẫn giữa Công đức và Phúc đức đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau về giá trị thực sự của các hành động thiện lành. Hãy cùng <a href="Website Chia sẻ Đạo Phật“>Website Chia sẻ Đạo Phật khám phá ý nghĩa sâu sắc đằng sau những việc làm này và cách chúng ảnh hưởng đến cuộc sống tu tập của chúng ta.

Lời Phật dạy về cách tạo dựng phúc đức cho sinh mệnh con người

Câu chuyện xưa kể rằng, khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa, Ngài đã có cuộc đối thoại với Vua Lương Võ Đế. Nhà vua hỏi về công đức của việc mình đã làm như xây chùa, độ tăng, bố thí, cúng dường, đúc chuông, tạo tượng, ấn tống kinh sách. Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã trả lời rằng những việc làm đó thực sự không có công đức.

Điều này khiến nhiều người băn khoăn, bởi Vua Lương Võ Đế đã thực hiện vô số các việc thiện lớn nhỏ. Một số người giải thích rằng nhà vua không đích thân thực hiện mà chỉ sai người làm nên không có công đức. Tuy nhiên, khi vấn đề này được hỏi Lục Tổ Huệ Năng, Ngài đã giải thích rõ hơn: Vua Lương Võ Đế đã nhầm lẫn giữa “Công đức” và “Phúc đức”.

Ý nghĩa Công đức và Phúc đức 1

Những việc như xây chùa, độ tăng, bố thí, cúng dường, đúc chuông, tạo tượng, ấn tống kinh sách được xem là “việc làm bên ngoài”, mang lại lợi ích cho cộng đồng và giúp cầu mong phúc lành. Chúng được gọi là Phúc đức. Phúc đức có khả năng giúp giảm bớt nghiệp chướng, tiêu trừ quả báo xấu, mang lại may mắn, sung sướng và bớt chướng ngại trên con đường tu tập. Tuy nhiên, phúc đức mang tính “hữu lậu” hoặc “hữu vi”, nghĩa là người hưởng phúc vẫn còn trong vòng luân hồi sinh tử. Khi phúc hưởng hết, họ có thể đọa lạc để đền trả quả báo.

Ngược lại, Công đức là sự tu tập “bên trong”, mang lại lợi ích trực tiếp cho bản thân. Công đức đến từ việc hành trì lời Phật dạy, luôn niệm Phật, giữ gìn giới luật, tu tập thiền định và phát huy trí tuệ Bát Nhã. Cụ thể, đó là việc tu tập “tam vô lậu học” (Giới – Định – Tuệ) và “tam tuệ học” (Văn – Tư – Tu). Mục đích cuối cùng của công đức là giúp chúng ta thoát ly khỏi vòng luân hồi sinh tử, vượt qua bể khổ để đạt đến giác ngộ và giải thoát. Công đức mang tính “vô lậu” hoặc “vô vi”, giúp chuyển hóa tâm tính từ phàm tục thành bậc Bồ Tát hay Phật.

Lòng tin là nền tảng quan trọng, là mẹ của công đức, dẫn dắt chúng sinh trên con đường tu tập.

Ý nghĩa Công đức và Phúc đức 2

Chúng ta nên tinh tấn làm mọi việc thiện, sau đó quên đi, không chấp chặt vào công lao hay mong cầu phúc báo. Khi tâm cầu danh và tâm chấp ngã nhẹ đi, những việc làm đó vừa lợi ích cho người, vừa cho mình, từ đó tạo nên cả phúc đức và công đức.

Khi chúng ta tham gia xây dựng chùa, phát triển các hoạt động Phật giáo, tạo điều kiện cho người khác tu học và giúp Phật giáo phát triển, chúng ta đang tạo ra nhiều lợi ích cho cộng đồng. Những hành động này mang lại phúc đức lớn lao.

Tuy nhiên, nếu bản thân không tu tâm dưỡng tính, không học kinh điển, không giữ giới, không thiền định, không phát triển trí tuệ, thì những việc làm “bên ngoài” này chỉ mang lại phúc đức mà không giúp ích cho sự giác ngộ và giải thoát của bản thân. Thay vào đó, tâm tham lam, sân hận, si mê có thể tăng trưởng, vô minh phiền não càng dày đặc hơn.

Việc chấp chặt vào những việc mình đã làm, cho rằng mình làm được nhiều điều phi thường, dễ dẫn đến tâm cống cao ngã mạn, khinh người. Tương tự, khi ấn tống kinh sách mà bản thân không đọc, hoặc bố thí, cúng dường mà chỉ mong cầu được hồi báo nơi thiên đàng, thì đó chỉ là tạo phúc đức.

Ví dụ, việc bố thí hay cúng dường với mong cầu trúng số độc đắc, buôn may bán đắt, thi đậu, gia đạo bình an, tình duyên thuận lợi, hay mọi sự như ý, chỉ tạo ra phúc đức hạn chế tương ứng với số tiền bỏ ra. Gieo nhân nhỏ thì gặt quả nhỏ.

Ý nghĩa Công đức và Phúc đức 3

Chỉ e rằng chúng ta không giác ngộ, không nhận biết kịp thời, để rồi bị vọng tưởng, tạp niệm cuốn đi, lạc lõng nơi cõi trần, quên mất quê hương xưa cũ từ bao đời kiếp.

Ngược lại, nếu bố thí, cúng dường với tâm không mong cầu, thi ân không cầu báo đáp, chỉ mong chùa có thêm phương tiện sinh hoạt lợi ích cho mọi người, hoặc giúp người vượt qua khó khăn mà không đắn đo, tính toán, chúng ta sẽ giảm bớt tâm tham lam, keo kiệt, đồng thời tăng trưởng lòng từ, bi, hỷ, xả. Những hành động này vừa lợi ích cho người, vừa lợi ích cho mình, tạo nên cả phúc đức và công đức.

Chúng ta nên tinh tấn làm mọi việc thiện, sau đó quên đi, không chấp chặt vào công lao hay mong cầu phúc báo. Khi tâm cầu danh và tâm chấp ngã nhẹ đi, những việc làm đó vừa lợi ích cho người, vừa cho mình, từ đó tạo nên cả phúc đức và công đức.

Tìm hiểu thêm: Biến lòng thành kính thành nghi lễ trang nghiêm: Hướng dẫn cúng Phật trọn vẹn cho mọi nhà

Theo Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật dạy: “Chư ác mạc tác. Chúng thiện phụng hành. Tự tịnh kỳ ý. Thị chư Phật giáo”. Điều này có nghĩa là chúng ta không làm việc ác, cố gắng làm việc thiện, và quan trọng nhất là giữ cho tâm ý thanh tịnh. Đó chính là cốt lõi lời dạy của chư Phật.

Nếu chúng ta làm việc tốt cho người khác mà chấp chặt vào đó, tâm sẽ bất an khi không được khen ngợi hoặc không được đáp ứng như ý. Ngược lại, nếu quên đi việc thiện đã làm, giúp đỡ với tâm “thi ân bất cầu báo đáp”, chúng ta sẽ bình an, tâm không loạn động, không bực bội khi gặp người vô ơn.

Lục Tổ Huệ Năng trong Kinh Pháp Bảo Đàn dạy: “Trong tâm khiêm tốn là công. Ngoài hành lễ phép là đức”. Điều này có thể diễn giải là: “Nội cần khắc niệm chi công. Ngoại hoằng bất tranh chi đức”.

Công đức và lợi ích của pháp tu lạy Phật

Ý nghĩa Công đức và Phúc đức 4

Những người còn đầy tham sân si, nghiệp chướng, phiền não thì không thể đạt đến cảnh giới đó. Không thể chỉ dựa vào một chút thiện căn phúc đức để cầu nguyện vãng sinh Cực Lạc.

Nghĩa là, “bên trong”, chúng ta phải nỗ lực loại bỏ những tâm niệm kiêu ngạo, tật đố, ngã mạn, ganh tị, khen mình khinh người, để đạt được tâm khiêm tốn, hạ mình, tùy hỷ công đức. Đồng thời, chúng ta cần khắc phục các tạp niệm, vọng tưởng. Khi vọng tưởng khởi lên, ta cần nhận biết và dừng lại, không để chúng dẫn dắt.

Điều quan trọng là không sợ có vọng tưởng, tạp niệm. Ai cũng có chúng. Chỉ sợ chúng ta không nhận biết kịp thời và bị chúng cuốn đi, lạc lõng quên mất bản tâm thanh tịnh.

Khi chạy theo vọng tưởng, tạp niệm, tâm ta sẽ loạn động bởi thất tình lục dục, quên mất “bản tâm thanh tịnh” sẵn có. Còn “bên ngoài”, ta thực hành lễ phép, cung kính, tôn trọng mọi người, vì ai cũng có “Chân Tâm Phật Tính”. Ta học hỏi ưu điểm của người khác, không phân biệt, không thành kiến, không kỳ thị, không tranh cãi, không hơn thua, không thị phi, không tự cho mình là hơn người.

Như vậy, ta sẽ được nhiều người thương mến, gần gũi, đó là có được “đức”. Thêm vào đó, người Phật tử muốn có công đức thì “bên trong” không có tâm chấp ngã, chấp pháp, và “bên ngoài” hành động luôn ngay thẳng, bình đẳng, công minh, chính trực.

Hãy phát tâm tìm học kinh điển, hiểu đúng Chính Pháp để hành theo, tránh tu mù, tu mò, kẻo lạc vào tà giáo. Công đức nằm ở “Pháp Thân”, phát sinh trí tuệ Bát Nhã, không phải do tu phước hay làm việc thiện mà có được.

Ngày nay, nhiều người lầm tưởng rằng xây chùa, giúp Tăng chúng tu học, bố thí, cúng dường, làm Phật sự, lạy Phật là được nhiều công đức. Họ tự hào về vô lượng công đức mình làm được và mong chờ ngày vãng sinh về cõi Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà.

Phúc đức từ đâu mà tới?

Ý nghĩa Công đức và Phúc đức 5

Vì tâm người đó luôn niệm Phật, không còn xao lãng, loạn động bởi thị phi, hơn thua, tốt xấu, nên cảm ứng được cảnh giới Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà.

Trong Kinh A Di Đà, Đức Phật dạy rõ rằng cõi Tây phương Cực Lạc là nơi chỉ dành cho các bậc Bồ Tát “nhất sinh bổ xứ”, tức là những bậc “thượng thiện nhân” sắp thành Phật. Những người còn đầy tham sân si, nghiệp chướng, phiền não thì không thể đạt được cảnh giới đó, dù chỉ dựa vào một chút thiện căn phúc đức.

Điều này giống như người mang vật nặng qua sông thì sẽ chìm, không thể nổi được. Đức Phật A Di Đà luôn có lòng từ bi cứu độ chúng sanh, nhưng Ngài chỉ dạy các pháp môn tu học để chúng ta tự mình tu tập, tự đạt được an lạc và hạnh phúc.

Quan niệm “đới nghiệp vãng sinh” – mang nghiệp chướng mà vẫn được vãng sinh nhờ niệm Phật – có vẻ giống như việc chấp nhận rước thượng đế vào lòng để được về thiên đàng. Tuy nhiên, đạo Phật không dạy như vậy. Nếu muốn tu thành người tốt, hãy tu ngay ở cõi đời này. Mang nghiệp chướng nặng nề, tham giận kiêu căng, si mê lầm lạc mà về Tây phương chỉ làm ô uế cảnh giới đó.

Xem thêm: Trí tuệ Đức Phật, Lá chắn vững vàng trước ma vương cám dỗ

Nếu cảm thấy không thích hợp, ta sẽ đòi về. Chúng ta cần tu tập khi còn sống giữa thế tục, nơi có đủ nghịch cảnh để thử thách công phu. Nếu về cõi Phật gặp toàn người tốt thì đâu cần tu nữa?

Đức Phật luôn vun bồi 6 loại phúc đức

Ý nghĩa Công đức và Phúc đức 6

Trên thế gian này, chúng ta gặp đủ hạng người. Có người tạo thuận cảnh giúp ta tu tập, có người tạo nghịch cảnh để thử thách công phu. Tất cả đều là thiện hữu tri thức của chúng ta.

Cũng như người còn nhiều phiền não, nghiệp chướng, dù có vào chùa tu tập cũng khó thành tựu nếu không quyết tâm. Họ có thể gây ra những điều đáng tiếc cho thiền môn.

Trong Kinh A Di Đà, Đức Phật dạy rằng nếu thiện nam, thiện nữ nào nghe danh hiệu Phật A Di Đà, luôn trì giữ danh hiệu đó trong tâm trí, niệm Phật, nhớ nghĩ đến Phật trong bảy ngày liên tục, đạt được tâm yên không loạn, khi mãn đời sẽ vãng sinh về cõi Tây phương Cực Lạc.

Lý do là khi tâm luôn niệm Phật, không còn xao lãng, loạn động bởi thị phi, hơn thua, tốt xấu, nên cảm ứng được cảnh giới Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà.

Nói cách khác, tâm của người đó thấy mọi sự đúng như thực, không còn điên đảo, gọi là “tâm bất điên đảo”. Họ thấy được “Tự Tính Di Đà, Duy Tâm Tịnh Độ”. Nhờ tâm thanh tịnh, bất loạn động, bất điên đảo, họ thấy được “Phật Tính” – “Pháp Vô Sinh”, không còn luân hồi sinh tử, tức là đắc vãng sinh Cực Lạc.

Nếu còn nghiệp chướng nặng nề, tham giận kiêu căng, si mê lầm lạc, nghĩa là tâm còn điên đảo, loạn động, thì làm sao có thể vãng sinh?

Lời Phật dạy về cách tạo dựng phúc đức cho sinh mệnh con người

Ý nghĩa Công đức và Phúc đức 7

Nhờ giữ gìn giới luật, tâm trí thanh tịnh và trí tuệ Bát Nhã khai mở. Đó là tam vô lậu học (Giới – Định – Tuệ) và tam tuệ học (Văn – Tư – Tu), có khả năng đưa chúng ta đến giác ngộ và giải thoát.

Cõi Tây phương Cực Lạc hay thiên đàng là cảnh giới “bất tùy phân biệt”, bình đẳng tuyệt đối, chí công vô tư. Không có chuyện chia giai cấp, chín phẩm, ba hạng như con người tưởng tượng. Không thể dùng tâm lượng phàm phu để xét cảnh giới Bồ Tát.

Cốt tủy của đạo Phật không phải là van xin, cầu nguyện, cúng kiến lễ lạy nhiều, mà là luôn ghi nhớ hạnh nguyện của chư Phật, nói lời như Phật dạy, hành động như Phật dạy, giữ gìn tâm ý thanh tịnh, bình an, không loạn động.

Khi tam nghiệp thanh tịnh, chúng ta vừa có phúc đức, vừa có công đức đầy đủ, phúc tuệ trang nghiêm, tùy tâm mãn nguyện. Kinh sách có câu: “Phúc Tuệ Lưỡng Toàn Phương Tác Phật”. Đây là cứu cánh của đạo Phật.

Trên thế gian này, chúng ta gặp đủ hạng người. Có người tạo thuận cảnh giúp ta tu tập, có người tạo nghịch cảnh để thử thách công phu. Tất cả đều là thiện hữu tri thức của chúng ta.

Khám phá: Giáp Tuất 1994: Khai vận tài lộc với con số định mệnh

Nếu ai cũng hiền thiện, không ai làm phiền, làm sao biết ta nhẫn nhịn đến đâu? Giống như học sinh cần có bài kiểm tra để đánh giá trình độ.

Tóm lại, vì không hiểu rõ Chính Pháp, chúng ta không thể thực hành lời Phật dạy một cách tường tận, đúng đắn để thoát ly sinh tử luân hồi, phiền não và khổ đau.

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy: “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi. Thắp lên với Chính Pháp”. Nghĩa là mỗi người phải tìm hiểu, học hỏi Chính Pháp, dùng trí tuệ của mình soi đường, bằng cách nghe giảng, nghiên cứu kinh điển, suy ngẫm và ứng dụng vào cuộc sống, giữ gìn giới luật, tu tập thiền định, phát triển trí tuệ Bát Nhã.

Công đức tạo tượng Phật

Ý nghĩa Công đức và Phúc đức 8

Trong không khí tu học đạo vị, không phân biệt người mới hay cũ, chúng ta cùng hướng dẫn, nương tựa, giúp đỡ nhau trên bước đường giác ngộ và giải thoát.

Nhờ giữ gìn giới luật, tâm trí thanh tịnh và trí tuệ Bát Nhã khai mở. Đó là tam vô lậu học (Giới – Định – Tuệ) và tam tuệ học (Văn – Tư – Tu), có khả năng đưa chúng ta đến giác ngộ và giải thoát.

Kinh sách có câu: “Phúc Tuệ Lưỡng Toàn Phương Tác Phật”. Chúng ta hãy phát tâm bồ đề dũng mãnh, tạo phúc đức trong các dịp lễ và trong suốt cuộc đời. Đồng thời, chúng ta cũng thực hành các việc tạo công đức như Văn – Tư – Tu, Giới – Định – Tuệ để phát triển trí tuệ Bát Nhã. Đầy đủ “Phúc và Tuệ”, chúng ta sẽ sống an lạc, hạnh phúc và về cõi Phật sau này, như chim có hai cánh bay thăng bằng và xa.

Có câu: “Ai ăn nấy no. Ai tu nấy chứng”. Lẽ công bằng tuyệt đối. “Mình làm mình hưởng. Mình làm mình chịu”.

Vì vậy, ngay từ bây giờ, hãy tự thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ, thường xuyên về chùa lạy Phật, nghe pháp, tham dự các khóa tu học để học Phật Pháp tường tận.

Trong không khí tu học đạo vị, không phân biệt người mới hay cũ, chúng ta cùng hướng dẫn, nương tựa, giúp đỡ nhau trên bước đường giác ngộ và giải thoát.

Như vậy, chúng ta có Công đức và Phúc đức một cách viên mãn, song toàn.

Hy vọng những chia sẻ trên đã giúp bạn hiểu rõ hơn về ý nghĩa sâu sắc của công đức và phúc đức. Để tiếp tục khám phá hành trình tu tập và tìm hiểu sâu hơn về những lời Phật dạy, mời bạn ghé thăm chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang