Trước khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni giác ngộ, Ngài đã trải qua vô số kiếp tu hành đầy gian nan, giống như tiền thân của Đức A Di Đà tại thế giới Cực Lạc. Khám phá những nhân duyên thù thắng đã kiến tạo nên quả vị Vô Thượng của Ngài tại Chiasedaophat, nơi hé lộ con đường dẫn đến Cõi Tịnh Độ.
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là một nhân vật lịch sử vĩ đại, hình ảnh của Ngài vẫn khắc sâu trong tâm trí nhân loại qua hàng ngàn năm, nhờ vào các câu chuyện, di tích và đặc biệt là những lời dạy được ghi chép trong Tam Tạng Kinh điển. Tương tự, Đức Từ Phụ A Di Đà Phật cũng là một đấng giác ngộ hoàn toàn tại thế giới Cực Lạc. Danh hiệu của Ngài vang vọng qua nhiều thế kỷ, được mọi người xưng niệm bằng cả tâm và khẩu, dựa trên lời chân thật của Đức Bổn Sư.
Trước khi thành đạo Vô thượng dưới cội Bồ đề và trở thành Giáo chủ tối cao của cõi Ta Bà, Đức Bổn Sư đã từng là Bồ Tát Thiện Huệ dâng hoa cúng dường Phật Nhiên Đăng, hay Hộ Minh Bồ Tát ngự trên cung trời Đâu Suất.
Đức Từ Phụ A Di Đà Phật cũng vậy. Trước khi viên mãn quả vị Chánh giác và an vị trên ngôi Pháp Vương tại thế giới Cực Lạc, Ngài cũng đã trải qua nhiều kiếp tu nhân địa. Những nhân duyên thù thắng này là nền tảng cho quả vị Vô thượng hiện tại của Ngài.
Để hiểu rõ hơn về cõi Tịnh độ của Đức Từ Phụ, chúng ta cần tìm hiểu về nhân địa tu hành của Ngài trong các kiếp quá khứ.

Ảnh minh họa
I – Bồ tát Sa Di (Trích theo Kinh Pháp Hoa, phẩm Hóa Thành Dụ thứ 7)
Trong thời quá khứ, Đức Đại Thông Trí Thắng Phật khi còn là Quốc vương đã có 16 người con trai. Sau khi Quốc vương xuất gia thành Phật, 16 vị Vương tử cũng xin xuất gia tu hành và trở thành Sa di. Qua một thời gian tu tập, các vị Sa di này đã chứng ngộ diệu lý và đạt được thần thông trí tuệ.
Trong một pháp hội, sau khi Đức Đại Thông Trí Thắng Phật giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Ngài nhập định trong tịnh thất. Trong thời gian này, 16 vị Bồ tát Sa di đã thay phiên nhau lên pháp tòa giảng giải sâu rộng nghĩa lý của kinh Pháp Hoa cho đại chúng. Mỗi vị Bồ tát Sa di đã hóa độ được hàng triệu triệu người.
Mười sáu vị Sa di này về sau đều đã thành Phật và an trụ trong các đạo tràng ở mười phương. Trong số đó, vị Sa di thứ 16 đã thành Phật ở cõi Ta Bà với hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Vị thứ 9 chính là Đức Từ Phụ A Di Đà Phật, hiện đang giáo hóa tại thế giới Cực Lạc.
II – Thái tử Thắng Công Đức (Trích theo Kinh “Nhứt Hướng Xuất Sanh Bồ Tát”)
Thuở xưa, có một vị Thái tử tên là Bất Tư Nghị Thắng Công Đức. Khi 16 tuổi, Thái tử được nghe Kinh “Pháp Bổn Đà-la-ni” từ Đức Phật Bảo Công Đức Tinh Tú Kiếp Vương Như Lai.
Sau khi nghe pháp, Thái tử nỗ lực tu tập trong bảy vạn năm, không hề nghỉ ngơi. Nhờ sự tinh tấn này, Thái tử đã được gặp chín mươi ức trăm nghìn Đức Phật và thọ trì, tu tập tất cả những lời dạy của chư Phật. Về sau, Thái tử xuất gia làm Sa môn, tiếp tục tu tập “Pháp Bổn Đà-la-ni” trong chín vạn năm và hoằng dương Chánh pháp.
Với sự tinh tấn tu hành và nhiệt tâm giáo hóa, trong một đời hoằng pháp, Thái tử đã độ được tám mươi ức na-do-tha người phát tâm Bồ đề, trụ ở bậc bất thoái chuyển.
Thái tử Thắng Công Đức chính là tiền thân của Đức Từ Phụ A Di Đà Phật.
III – Vua Vô Tránh Niệm và hai vương tử (Trích theo Kinh Bi Hoa)

Ảnh minh họa
Vô lượng hằng hà sa kiếp về trước, tại thế giới San Đề Lam, con trai của Phụ tướng Bảo Hải đã xuất gia thành Phật, hiệu là Bảo Tạng Như Lai.
Lúc bấy giờ, Vua Vô Tránh Niệm cùng với Phụ tướng Bảo Hải, các vị Vương tử và thần dân đã đến đạo tràng cúng dường Đức Phật Bảo Tạng. Sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, Vua và Phụ tướng đồng phát tâm Bồ đề. Đức Vua nguyện sẽ trang nghiêm Tịnh độ để tiếp dẫn chúng sanh, còn Phụ tướng nguyện sẽ thành Phật ở cõi uế độ để giáo hóa chúng sanh.
Đức Phật Bảo Tạng đã phán rằng: “Trải qua hàng trăm nghìn muôn ức cõi Phật về phương Tây, có thế giới của Tôn Âm Vương Như Lai. Sau một hằng hà sa a-tăng-kỳ kiếp nữa, thế giới đó sẽ đổi tên là Cực Lạc. Khi đó, nhà vua sẽ thành Phật ở nơi đó, hiệu là Vô Lượng Thọ Như Lai. Và Phụ tướng Bảo Hải sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni ở Ta Bà thế giới”.
Vua Vô Tránh Niệm chính là tiền thân của Đức Từ Phụ A Di Đà Phật, còn Phụ tướng Bảo Hải là tiền thân của Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sau khi Vua Vô Tránh Niệm phát nguyện và được Đức Phật thọ ký, Thái tử Bất Huyền, con trưởng của Vua, đã phát nguyện rằng: “Sau này, khi tôi tu hạnh Bồ tát, nếu có chúng sanh nào gặp phải khổ não cùng cực, không nơi nương tựa, chỉ cần nhớ đến tôi và xưng danh hiệu của tôi, tôi sẽ dùng thiên nhĩ để nghe và thiên nhãn để thấy. Nếu những chúng sanh đó không thoát khỏi khổ não, tôi thề trọn không thành bậc Chánh giác. Và khi vua cha thành Phật ở Cực Lạc thế giới, tôi sẽ luôn ở đó thực hành đạo Bồ tát và hộ trì Chánh pháp.”
Đức Phật Bảo Tạng đã dạy Thái tử: “Ông nên quan sát tất cả chúng sanh với lòng đại bi, mong muốn dứt trừ khổ não và mang lại an lạc cho họ. Nay ta đặt hiệu cho ông là Quan Thế Âm. Về sau, khi Đức Vô Lượng Thọ Phật nhập Niết bàn, cõi Cực Lạc sẽ đổi tên là Nhứt Thiết Trân Bửu Thành Tựu thế giới, và ông sẽ thành Phật ở nơi đó, hiệu là Biến Xuất Nhứt Thiết Quang Minh Công Đức Sơn Vương Như Lai.”
Lúc này, Vương tử Ni Ma, con thứ của Vua, cũng phát nguyện đem tất cả công đức hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Khi Thái tử Bất Huyền thành Phật, Vương tử Ni Ma sẽ là vị Bồ tát đầu tiên thỉnh chuyển pháp luân và luôn ở bên cạnh Ngài để giúp Phật hoằng hóa.
Đức Phật Bảo Tạng đã thọ ký cho Vương tử Ni Ma sẽ được toại nguyện. Sau khi Đức Sơn Vương Như Lai nhập Niết bàn, Vương tử sẽ hộ trì Chánh pháp và cuối cùng sẽ thành Phật tại thế giới đó với hiệu là Thiện Trụ Công Đức Bửu Vương Như Lai, với quang minh, thọ mạng, quốc độ và Phật sự đều tương đồng với Đức Sơn Vương Như Lai.
Thái tử Bất Huyền là tiền thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, và Vương tử Ni Ma là tiền thân của Đại Thế Chí Bồ Tát.
(A) Lời phụ: Liên Trì Đại sư cho rằng giáo pháp của Đức Phật có hai phương diện: 1. Chiết phục (khuyên răn, răn đe). 2. Nhiếp thọ (thu hút, tiếp dẫn). Đức Phật dạy về khổ đau trong tam giới, về vòng luân hồi sinh tử, về những phiền não của dục vọng, và các phương pháp để diệt trừ khổ đau, giúp chúng sanh nhàm chán cảnh giới ô trược để cầu thoát ly – đây là môn “Chiết phục”.
Đức Phật chỉ bày về cõi Tịnh độ an vui, thanh tịnh, giải thoát và các pháp môn Tịnh độ để chúng sanh ngưỡng mộ và nguyện về – đây là môn “Nhiếp thọ”.
Lời phê bình của Đại sư rất phù hợp với nguyện lực của hai Đức Phật: “Thích Ca Mâu Ni Phật nguyện ở cõi uế độ để giáo hóa chúng sanh cang cường. A Di Đà Phật nguyện trang nghiêm cõi Tịnh độ để tiếp dẫn chúng sanh thanh tịnh.”
Dưới đây là câu chuyện về một vị sư tu Tịnh độ đã được nghe những lời này từ Đức Từ Phụ.

Ảnh minh họa
Sư Huệ Cảnh (Trích từ bộ: “Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược”)
Sư Huệ Cảnh, người Lưu Châu, trụ trì chùa Ngộ Chơn. Sư nổi tiếng là người tu hành khổ hạnh và hướng về Tịnh độ. Sư tự mình đúc hai pho tượng Thích Ca và Di Đà để ngày ngày cúng dường và lễ bái.
Vào một đêm Rằm tháng Giêng, khi Sư 67 tuổi, một vị Sa môn với thân tướng ánh vàng rực rỡ hiện đến và hỏi: “Ông muốn thấy Tịnh Độ không?”. Sư đáp: “Tôi rất muốn thấy”. Vị Sa môn vàng lại hỏi: “Ông muốn thấy Phật không?”. Sư đáp: “Tôi mong được thấy”. Vị Sa môn liền đưa ra một chiếc bát và bảo Sư nhìn vào lòng bát. Ngay lập tức, Sư thấy hiện ra một cảnh giới vô cùng trang nghiêm và rộng lớn: mặt đất là vàng ròng, những con đường được giăng bằng dây vàng, cây cối được bao phủ bởi lưới báu, các cung điện, đền đài trùng điệp đều được làm bằng thất bảo lấp lánh. Đức Phật đang thuyết pháp cho vô số Bồ Tát và Thánh chúng.
Lúc này, vị Sa môn thân vàng đi trước, Sư theo sau, từng bước tiến đến trước Đức Phật. Vị Sa môn bỗng biến mất, còn Sư chắp tay đứng trước Đức Phật. Đức Phật hỏi: “Ông có biết vị Sa môn dắt ông đến đây là ai không? Chính là Thích Ca Mâu Ni Phật đấy! Còn ta đây là A Di Đà Phật. Thích Ca giống như người cha, còn ta như người mẹ. Chúng sanh ở cõi Ta Bà giống như những đứa con thơ. Ví như con thơ rơi xuống vũng bùn lầy, người cha sẽ lội xuống bùn để cứu con lên bờ, người mẹ sẽ đón con về nuôi nấng, dạy dỗ để con không còn lầm đường lạc lối. Đức Phật Thích Ca truyền dạy pháp môn Tịnh độ cho chúng sanh nơi cõi trược, còn ta thì tiếp dẫn chúng sanh về Tịnh Độ để trụ ở bậc bất thoái chuyển.”
Sau khi nghe Đức Phật phán dạy, Sư vô cùng hoan hỷ, liền đảnh lễ dưới chân Phật và tỉnh giấc như người vừa thoát khỏi giấc mộng. Từ đó, Sư càng thêm tin tưởng và hướng về Tịnh độ.
Không lâu sau, Sư lại thấy vị Sa môn thân vàng khi trước hiện đến và báo rằng: “12 năm nữa ông sẽ được vãng sinh về Cực Lạc.”
Quả đúng như lời dạy, 12 năm sau, Sư Huệ Cảnh viên tịch, hưởng thọ 79 tuổi. Vào giờ phút Sư tịch, vị Tăng ở gần đó đã thấy vô số Thánh chúng từ phương Tây bay đến rước Sư, và mọi người đều nghe thấy tiếng nhạc du dương vang vọng trên hư không.
IV – Pháp tạng Bồ Tát (Trích theo Kinh “Phật Thuyết Vô Lượng Thọ”, còn gọi là “Đại Bổn A Di Đà Kinh”)

Ảnh minh họa
Một hôm, khi thấy dung nhan của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật sáng rỡ khác thường, Tôn giả A Nan đã đến đảnh lễ và hỏi về duyên cớ.
Đức Bổn Sư tán thán lời bạch hỏi này có công đức lớn hơn công đức cúng dường vô lượng vị Thanh Văn, Duyên Giác, hay bố thí cho vô lượng chư Thiên, nhân dân và cầm thú trong nhiều kiếp. Bởi lẽ, nhờ lời bạch hỏi này, tất cả chư Thiên, nhân dân cho đến loài cầm thú đều có thể được giải thoát.
Sau đó, Đức Bổn Sư cho biết rằng, Ngài đang suy ngẫm về bổn sự, bổn nguyện và bổn hạnh của Đức Phật A Di Đà, giáo chủ thế giới Cực Lạc.
Đức Bổn Sư tiếp tục phán:
Vô lượng vô số kiếp về trước, khi Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai còn tại thế giáo hóa chúng sanh, có một vị Quốc vương nghe Đức Phật thuyết pháp đã vô cùng hoan hỷ, phát tâm Bồ đề và xuất gia làm Sa môn, hiệu là Pháp Tạng.
Sa môn Pháp Tạng đến đảnh lễ Đức Phật Thế Tự Tại Vương và xin Ngài chỉ dạy về công hạnh trang nghiêm Tịnh độ, tiếp dẫn chúng sanh để Ngài có thể y theo đó tu hành.
Nhận thấy Sa môn Pháp Tạng là bậc có chí nguyện sâu rộng và trí tuệ cao minh, Đức Phật Thế Tự Tại Vương đã vì Ngài mà giảng nói về y báo và chánh báo của hai trăm mười ức thế giới, đồng thời hiện bày tất cả ra trước mắt Ngài.
Sau khi chiêm ngưỡng y báo và chánh báo trang nghiêm của các quốc độ, Sa môn Pháp Tạng đã phát khởi tâm nguyện vô thượng thù thắng. Trong suốt năm kiếp, Ngài đã suy ngẫm và chọn lọc những công hạnh trang nghiêm thanh tịnh nhất để xây dựng Phật độ. (Đức Bổn Sư nói với A Nan: Thời kỳ đó, Đức Phật đã trụ thế mười kiếp).
Sau khi hoàn thành việc tu tập, Sa môn Pháp Tạng đến đảnh lễ Đức Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai và xin Ngài chứng giám cho 48 lời đại nguyện mà Ngài đã lập ra để tiếp độ tất cả chúng sanh ([1]).
Khi Pháp Tạng Bồ Tát đối trước Đức Phật Thế Tự Tại Vương tuyên bố xong 48 lời đại nguyện, khắp cõi đất đều rung động, hoa báu từ trên hư không rơi xuống, và tiếng nhạc vang lên tự nhiên: “Quyết chắc sẽ thành Phật.”
Sau đó, trải qua vô lượng vô số kiếp, Pháp Tạng Bồ Tát đã tu hành và hoàn thành trọn vẹn các lời nguyện trên. Ngài đã thành Phật cách đây mười kiếp, hiệu là A Di Đà, hiện đang an trụ thuyết pháp tại thế giới Cực Lạc, cách cõi Ta Bà mười muôn ức cõi về hướng Tây.
Trích từ sách “Đường về cực lạc”
Những câu chuyện về tiền thân của Đức Phật A Di Đà trên thực sự sâu sắc và đầy cảm hứng. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về những giáo lý và câu chuyện tâm linh sâu nhiệm khác, hãy khám phá chuyên mục Đạo phật.
