Kinh Lăng Nghiêm: Truyền thuyết và Ý nghĩa Sâu sắc

su tich kinh lang nghiem phatgiaoorgvn 1 1037 1434 1
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Giữa những ngày an cư và dịp đặc biệt, một lời mời thọ trai đã vô tình đưa Tôn giả A Nan vào tình cảnh nguy hiểm trước sự quyến rũ tà thuật. Liệu hành trình khất thực đầy thử thách này sẽ đưa ông đến đâu, và bí ẩn đằng sau sức mạnh hắc ám kia là gì? Khám phá câu chuyện đầy kịch tính và những bài học sâu sắc về lòng từ bi qua từng bước chân của ngài tại Chiasedaophat.

Trong thời gian an cư kiết hạ, sau khi hoàn thành khóa tu, chư tăng và Đức Phật thường chia nhau hoằng dương đạo pháp, chỉ trở về nơi cũ vào mùa mưa năm sau.

Vào một dịp đặc biệt, nhân mùa mãn hạ và cũng là ngày giỗ của vua cha, vua Ba-tư-nặc đã chuẩn bị nhiều món chay thịnh soạn để cung thỉnh Đức Phật và chư tăng đến thọ trai. Cùng dịp này, các vị trưởng giả cũng chuẩn bị cơm chay để mời chư tăng đến dùng bữa tại nhà. Đức Phật đã giao cho Bồ tát Văn Thù Sư Lợi sắp xếp chư tăng đi đến các gia đình để thọ trai.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Tôn giả A Nan đã nhận lời thỉnh riêng của một gia đình từ trước, nên không kịp tham gia cùng chúng tăng. Ông mang bình bát vào thành khất thực một mình, với phong thái trang nghiêm, chậm rãi đi qua từng nhà. Với tâm bình đẳng, Tôn giả A Nan mong muốn trở thành phước điền cho tất cả mọi người, không phân biệt sang hèn, chỉ mong gặp những ai chưa từng làm phước để họ có cơ hội gieo trồng nhân lành. Trong khi đang đi qua các xóm làng, Tôn giả A Nan không may gặp phải một phụ nữ ngoại đạo tên là Ma-đăng-già. Bà ta đã dùng tà thuật của Phạm Thiên để bắt ông vào phòng với ý đồ xấu.

Câu chuyện Kinh Lăng Nghiêm

Sự tích kinh Lăng Nghiêm 1

Ảnh minh họa.

Trong tình cảnh nguy cấp, Tôn giả A Nan vô cùng đau khổ, chỉ biết chắp tay niệm Phật và cầu cứu Đức Chí Tôn. Cảm ứng được lời cầu cứu, Đức Phật sau khi thọ trai xong đã không kịp thuyết pháp, Ngài trở về tịnh xá, ngồi kiết già, phóng hào quang tỏa rạng với hoa sen ngàn cánh và bắt đầu thuyết thần chú Lăng Nghiêm. Sau đó, Ngài sai Bồ tát Văn Thù Sư Lợi mang thần chú này đến chỗ nàng Ma-đăng-già để phá trừ tà thuật và cứu Tôn giả A Nan.

Sau khi thoát nạn, Tôn giả A Nan trở về chỗ Đức Phật, cúi đầu kính lạy, buồn tủi và khóc lóc bạch rằng:

“Bạch Đức Thế Tôn! Con từ trước đến nay luôn ỷ lại vì con là em của Phật, được Phật yêu thương, nên con nghĩ chắc chắn sẽ được ban cho thần thông trí tuệ hay đạo quả Bồ đề. Vì vậy, con chỉ lo học rộng nghe nhiều mà không chịu tu tập. Con không ngờ rằng đạo Phật là ai tu nấy chứng. Dù con là em của Phật, nếu không tu thì cũng chẳng ích gì! Cúi xin Phật rộng lòng từ bi, chỉ dạy cho con phương pháp nào mà mười phương chư Phật đã tu hành để đạt thành đạo quả.”

Nội dung cốt lõi của Kinh Lăng Nghiêm là Đức Phật chỉ dạy cho chúng sinh nhận ra và ngộ được Chân tâm. Bởi vì chúng sinh mê muội, không nhận ra Chân tâm nên đành trầm luân trong vòng sinh tử, chịu vô lượng khổ đau. Ngược lại, chư Phật đã thoát ly sinh tử luân hồi, đạt được sự giải thoát tự tại, với thần thông vô biên và trí tuệ vô tận, chính là nhờ các Ngài đã giác ngộ được Chân tâm.

Nói cách khác, Phật và chúng sinh đều cùng chung một thể tánh Chân tâm. Tuy nhiên, chư Phật đã hoàn toàn giác ngộ thể tánh ấy nên thành Phật. Trái lại, chúng sinh vì mê muội thể tánh Chân tâm nên phải chịu cảnh sinh tử luân hồi. Nếu chúng ta giác ngộ Chân tâm, chúng ta sẽ đạt được quả vị như Phật. Ngộ được Chân tâm giống như người tỉnh giấc mộng, còn không ngộ được Chân tâm thì như người còn chìm trong giấc mộng.

Vì giá trị to lớn của Kinh Lăng Nghiêm, xưa kia các bậc vua chúa Ấn Độ đã xem kinh này như quốc bảo và nghiêm cấm truyền bá ra ngoài. Chúng ta còn nhớ, vào thời nhà Đường, ngài Huyền Trang (Đường Tam Tạng) đã sang Ấn Độ và ở lại đó nhiều năm để thỉnh về biết bao bộ kinh quý báu mà chúng ta thấy ngày nay. Tuy nhiên, ngay cả ngài cũng không hề biết về sự tồn tại của Kinh Lăng Nghiêm ở Ấn Độ. Cùng thời điểm đó, tại Trung Quốc, Trí Giả Đại sư, vị Tổ của Thiền tông Thiên Thai, đã dựa vào kiến thức của mình để phát minh ra pháp môn Tam Chỉ Tam Quán. Khi ngài Trí Giả Đại sư giảng về pháp môn này cho một vị sư Ấn Độ đến thăm núi Thiên Thai, vị sư này đã tiết lộ rằng pháp môn Tam Chỉ Tam Quán có nhiều điểm tương đồng với Kinh Thủ Lăng Nghiêm ở Ấn Độ. Từ đó, người Trung Quốc mới biết còn một bộ kinh quan trọng mà họ chưa được tiếp cận. Trí Giả Đại sư vô cùng mong mỏi được chiêm bái bộ kinh này, nên suốt 18 năm liền, mỗi ngày hai lần, ngài đều hướng mặt về phía Tây (Ấn Độ) để quỳ lạy cầu nguyện cho Kinh Lăng Nghiêm sớm được truyền bá sang Trung Quốc.

Khoảng 100 năm sau, dưới triều đại của Võ Tắc Thiên hoàng đế, có ngài Bất Lạc Mật Đế, một vị cao tăng người Ấn Độ, đã hai lần tìm cách đưa Kinh Lăng Nghiêm sang truyền bá tại Trung Hoa. Tuy nhiên, do luật lệ hà khắc, ngài đã không thành công. Đến lần cuối cùng, ngài đã bí mật viết kinh lên một miếng lụa mỏng, cuộn lại và giấu trong vết thương ở bắp chân, băng bó như người bị ghẻ, mới có thể mang kinh sang được.

Người học thiền thấu qua cửa sắc không

Sự tích kinh Lăng Nghiêm 2

Ảnh minh họa.

Ngài Bất Lạc Mật Đế đi thuyền đến Quảng Châu. Khi đến Nam Thuyên, ngài gặp cư sĩ Phòng Dung. Cư sĩ Phòng Dung từng giữ chức Thừa tướng dưới triều Võ Tắc Thiên, nhưng vì phạm lỗi nên bị giáng chức và chuyển đến làm quan ở Nam Thuyên. Với cương vị và học vấn uyên thâm, ông là người rất ngưỡng mộ Phật pháp. Khi nghe ngài Bất Lạc Mật Đế kể về Kinh Lăng Nghiêm, ông vô cùng vui mừng. Tuy nhiên, khi mở tấm lụa ra, máu me bám dính đã làm mờ đi nhiều chữ nghĩa. May mắn thay, phu nhân của ngài Phòng Dung đã dùng một loại hóa chất để nấu tấm lụa, nhờ đó máu mủ đều tan đi, chỉ còn lại các nét mực.

Ngài Phòng Dung đã cung thỉnh ngài Bất Lạc Mật Đế dịch kinh từ tiếng Phạn sang tiếng Hán. Ngài Mật Đế đảm nhận việc dịch thuật, còn ngài Phòng Dung phụ trách việc hiệu đính và ghi âm. Kết quả là Kinh Lăng Nghiêm không chỉ có ý nghĩa sâu sắc mà văn chương cũng vô cùng tuyệt diệu. Từ xưa đến nay, các học giả, không chỉ trong Phật giáo mà cả Nho giáo, khi đọc Kinh Lăng Nghiêm đều kính phục và hết lời ca ngợi sự cao siêu về ý nghĩa và sự tinh tế trong văn chương của kinh.

Khám phá: Tu Phật: Vượt Tham Sân Si, Tìm Chân Ngã và Hạnh Phúc Vĩnh Cửu

Trước khi giảng về Chân tâm, Đức Phật đã bảy lần gạn hỏi Tôn giả A Nan về bản chất của tâm.

1. Tâm ở trong thân: Đức Phật lập luận rằng nếu tâm ở trong thân, nó phải thấy được tim, gan, ruột, phổi trước rồi mới thấy các vật bên ngoài. Tuy nhiên, chưa ai từng thấy được tim, gan, ruột, phổi của mình. Do đó, quan niệm tâm ở trong thân là phi lý.

2. Tâm ở ngoài thân: Khi Đức Phật đưa tay ra, mắt Tôn giả A Nan nhìn thấy cánh tay và tâm ông liền nhận biết. Đức Phật giải thích rằng nếu mắt vừa thấy mà tâm liền nhận biết, thì thân và tâm không thể tách rời. Vì vậy, nói tâm ở ngoài thân là sai.

3. Tâm ẩn trong con mắt: Tôn giả A Nan cho rằng tâm ẩn trong con mắt, giống như người đeo kính chỉ thấy cảnh vật bên ngoài mà không thấy được bên trong. Đức Phật dạy rằng nếu tâm có thể thấy được con mắt như người đeo kính thấy cái kính, thì con mắt đó phải là cảnh bị thấy và ở ngoài thân. Nếu thân và tâm không rời nhau, thì mắt vừa thấy, tâm liền nhận biết. Do đó, tâm ẩn sau con mắt cũng không đúng.

4. Tâm ở tạng phủ hoặc ngũ căn: Đức Phật chỉ ra rằng tạng phủ ở trong thì tối, ngũ căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) ở ngoài thì sáng. Khi mở mắt thấy sáng là thấy bên ngoài, nhắm mắt thấy tối là thấy bên trong. Đức Phật hỏi Tôn giả A Nan rằng cảnh tối khi nhắm mắt là đối với mắt hay không đối với mắt? Nếu đối với mắt thì tối ở trước mắt, tức ở ngoài thân, sao lại nói ở trong thân? Nếu cho rằng tối là ở trong thân, thì khi ở trong phòng tối, những gì trong phòng tối đều là tạng phủ của ông sao? Điều này là sai.

5. Sự suy nghĩ là tâm: Tôn giả A Nan cho rằng tâm sinh ra mọi pháp, pháp sinh ra tâm. Khi suy nghĩ, chính sự suy nghĩ đó là tâm, tùy sự suy nghĩ mà tâm hiện hữu, không ở trong, ngoài hay chính giữa. Đức Phật dạy rằng tâm không có tự thể thì không thể suy nghĩ. Nếu không có tự thể mà suy nghĩ được thì vô căn phải thấy được vô trần, điều này là không đúng.

6. Tâm ở chính giữa: Tôn giả A Nan lập luận rằng nếu tâm ở trong thân thì không biết bên trong, nếu ở ngoài thân thì không biết thân. Vậy tâm chắc phải ở chính giữa. Đức Phật hỏi ở chính giữa là chỗ nào? Nếu ở nơi thân, tâm phải thấy ruột, gan, phèo, phổi trước, điều này sai. Nếu ở nơi cảnh, có thể chỉ ra hay không? Nếu không chỉ ra được thì không có. Nếu chỉ ra được thì không thể xác định chỗ nào là chính giữa. Đức Phật đưa ví dụ về cây nêu làm chính giữa, tùy góc nhìn mà vị trí thay đổi, cho thấy sự không cố định của “chính giữa”.

7. Cái vô trước là tâm: Tôn giả A Nan cho rằng tâm hiểu biết phân biệt, không ở đâu cả, không dính mắc vào bất cứ điều gì (vô trước) thì đó là tâm. Đức Phật bảo Tôn giả A Nan rằng cái tâm giác tri không ở chỗ nào cả, vậy thì các loài vật trên không, dưới nước, trên bờ, tất cả vật tượng trên thế gian mà ông không chấp trước, là có hay không? Nếu là không thì giống như lông rùa sừng thỏ. Nếu có sự không chấp trước thì không thể gọi là không. Cái không có tướng mới là không, còn có tướng thì không thể nói là không chấp trước.

Tìm hiểu thêm: Hoằng Nhất Đại Sư: Thiên Tài Nghệ Thuật Vạn Năng, Hồn Thiêng Tưởng Nhớ

Trong phần gạn hỏi này, Đức Phật chỉ muốn dẫn dắt Tôn giả A Nan đến sự tự ngộ. Lời Phật nói không phải là chân lý tuyệt đối, mà giống như thuốc giả trị bệnh giả. Bệnh giả là vì những chấp trước của Tôn giả A Nan vốn không thật. Thuốc giả là vì lời phá chấp của Đức Phật cũng không thật. Kỳ thực, khi Tôn giả A Nan nói tâm ở trong thân, ngoài thân, hay vô trước là tâm, không hẳn là sai hay đúng. Tuy nhiên, vì ông ta chấp chặt vào một quan điểm nhất định, nên Đức Phật mới nói là không đúng. Nếu bệnh chấp còn, có thể chỉ ra vô số chỗ sai, chứ không chỉ bảy chỗ. Nếu bệnh chấp đã hết, thì không còn chỗ nào sai cả.

Tự tánh vốn là bất nhị. Nếu chấp theo lời Phật, cho rằng tâm ở trong là nhị, ở ngoài cũng là nhị, hay ở bất cứ chỗ nào, hoặc không ở chỗ nào, đều là nhị. Bởi vì nếu tâm ở một chỗ này thì những chỗ khác sẽ không có, có chỗ có chỗ không tức là nhị. Do đó, Đức Phật dạy: “Phàm hữu ngôn thuyết, giai phi thật nghĩa” – phàm có lời nói đều không phải nghĩa thật.

Sau khi phá trừ chấp trước của Tôn giả A Nan, Đức Phật dần dần chỉ bày về Chân tâm qua sáu lần. Ban đầu, Đức Phật tạm chỉ các giác quan về phần trực giác như nghe, thấy… là tâm. Khi Tôn giả A Nan đã hiểu, Đức Phật nâng lên một cấp độ nữa, cho rằng các giác quan tuy không phải là vọng, nhưng cũng chưa phải là Chân tâm. Cuối cùng, Đức Phật nói chỉ có Bản thể sinh ra các giác quan mới thật là Chân tâm. Tất cả vạn pháp đều từ tâm biến hiện, như ngũ uẩn, lục nhập, lục căn, lục trần và lục thức… đều do tâm sinh ra, rồi cũng trở về với thể tánh Chân tâm.

Tôn giả A Nan và đại chúng nhờ đó mà trí tuệ được thông suốt, nhận rõ rằng chúng sinh trôi nổi trong vòng sinh tử luân hồi hay chứng được đạo quả Bồ đề an vui giải thoát, tất cả đều là do nơi lục căn. Trong niềm hân hoan của Pháp hội, Đức Phật hỏi trong sáu căn, nên tu theo căn nào để đạt được viên thông? Lúc này, 25 vị Đại La Hán, Bồ Tát hàng đầu lần lượt trình bày kinh nghiệm tu chứng của mình. Cuối cùng, Đức Phật hỏi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, trong 25 pháp tu đó, pháp nào thích hợp cho Tôn giả A Nan cũng như các Phật tử có căn cơ còn yếu.

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi nói với Tôn giả A Nan rằng:

– A Nan! Ông nên lắng nghe: Tôi vâng oai thần của Phật, nói pháp môn tu hành này. Ông đem cái nghe của ông, nghe tất cả pháp môn thâm mật của chư Phật, nhiều như vi trần. Nếu phiền não dục lậu không trừ, thì cái nghe càng thêm lầm lỗi. Ông biết đem cái nghe của ông, nghe các pháp môn của chư Phật, sao ông không đem cái nghe đó, trở lại nghe “tánh nghe” (Chân tánh) của mình?

– A Nan! Cái nghe nó không phải tự nhiên sinh ra, do có tiếng (thính trần) nên mới gọi là “nghe”. Nếu xoay cái nghe trở vào tự tánh, không chạy theo tiếng, thế là thoát ly được cái tiếng (thính trần). Lúc bấy giờ, cái nghe này cũng không còn gọi tên là nghe nữa (vì không còn đối đãi nên chẳng có tên gọi). Một căn (lỗ tai) đã phản vọng trở về chân rồi, thì cả sáu căn cũng đều được giải thoát.

– A Nan! Các cảm giác: thấy, nghe, hay, biết của ông đó, đều là hư huyễn, như con mắt bị nhặm. Còn ba cõi sum la vạn tượng đây, cũng không thật, đều như hoa đóm giữa hư không. Khi cái thấy, nghe, hay, biết xoay trở lại chân rồi, thì cũng như con mắt kia hết nhặm. Khi các vọng trần tiêu hết thì tâm ông được thanh tịnh.

Khi tâm hoàn toàn thanh tịnh rồi, thì trí quang sáng suốt hiện ra. Lúc bấy giờ, Chân tâm ông vừa tịch mịch lại vừa chiếu soi, bao trùm khắp cả mười phương hư không thế giới. Lúc bấy giờ, ông trở lại xem cảnh vật hiện tiền ở thế gian này, cũng như là việc trong chiêm bao. Khi ông được như thế rồi, thì nàng Ma-đăng-già ở trong mộng kia làm sao bắt được ông?

– A Nan! Ví dụ như các nhà ảo thuật làm các thứ hình, tuy có thấy cử động, nhưng cốt yếu là tại cái máy rút. Nếu máy kia thôi rút, thì các ảo thuật kia yên lặng, vì nó không có tự tánh. Sáu căn của ông cũng thế, gốc từ nơi tâm, vì vô minh vọng động thành ra sáu căn. Nếu một căn phản vọng về chân rồi, thì sáu giác quan đều không thành. Nếu trần cấu còn thì ông còn phải tu. Khi trần cấu hết, thì tâm tánh ông được hoàn toàn sáng suốt, đó là Phật.

– A Nan! Ông chỉ xoay cái nghe của mình trở về chân tánh, không chạy theo phân biệt vọng trần bên ngoài, thì ông tức thì thành đạo vô thượng. Đây thật là pháp tu viên thông.

Xem thêm: Lý Lâm Phủ: Miệng mật lòng gươm và cái giá của quyền lực triều Đường

Luân hồi trong thần chú Lăng Nghiêm: Năng lực thần chú

Các Đức Phật nhiều như số vi trần cũng đều do một con đường này mà đến cửa Niết Bàn. Hiện tại, các vị Bồ Tát và những người tu hành đời sau, đều y theo pháp môn này mà thành đạo. Chính tôi cũng nhờ pháp môn này mà chứng quả, đâu phải chỉ một mình ngài Quán Thế Âm tu theo lối này mà thôi. Nay Phật dạy con lựa pháp môn tu hành để người đời sau tu hành mau thành đạo quả, thì duy chỉ có pháp tu của ngài Quán Thế Âm là hơn hết. Còn bao nhiêu các pháp tu hành khác, đều nhờ oai thần của Phật gia hộ mới được thành tựu. Các pháp ấy đều từ nơi sự tướng mà dẹp trừ trần lao, nên không phải là một phương pháp trường kỳ tu tập. Bạch Thế Tôn! Phương pháp này rất là dễ tu, mau được thành đạo quả, có thể đem dạy cho A Nan và chúng sanh đời sau, y theo đây tu hành thì hơn các phương pháp khác. Đây là do lòng thành thật của con lựa chọn như thế.

Thật là một pháp môn tu chứng hoàn toàn, giải thoát rốt ráo, mà Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi đã thay mặt Phật diễn nói trong Kinh Lăng Nghiêm, mang lại vô số lợi ích cho tất cả chúng sanh cũng như các vị Bồ Tát mới phát tâm nhờ đó mà tỏ ngộ được Chân tâm. Đối với chúng ta, không phân biệt căn cơ mau chậm, không phân biệt tuổi tác và hoàn cảnh, mọi người, mọi giới và mọi lúc đều có thể áp dụng công phu một cách liên tục pháp môn này để tiến đến giải thoát hoàn toàn. Bồ Tát Văn Thù quả thật xứng đáng được tuyên xưng là vị Pháp Vương Tử tuyên dương diệu pháp.

Một ví dụ điển hình là khi mắt chúng ta vừa nhìn thấy một chiếc xe đang đậu ngoài đường, thì sự thấy đầu tiên này cho chúng ta biết sự vật đó là chiếc xe. Như thế thì khi chúng ta biết đó là chiếc xe, thì sự biết chính là Chân tâm. Nhưng khi nhìn kỹ lại, chúng ta mới nhận định chiếc xe này có màu xanh rất đẹp. Khi sự biết chuyển thành phân biệt, thì Chân tâm không còn nữa mà được thay thế bằng vọng tưởng. Bởi vì khi thấy chiếc xe thật đẹp, tâm của ta đang bị si mê và lòng tham cũng bắt đầu nổi dậy. Đức Phật dạy: đây chính là căn nguyên cội rễ của sự khổ đau.

Một ví dụ khác là ban đêm thanh vắng chợt có người dạo khúc đàn. Khi vừa mới nghe, chúng ta biết đó là tiếng đàn, thì sự biết này chính là Chân tâm. Nhưng khi nghe kỹ lại, tiếng đàn lên xuống rất hay làm cho lòng ta xao xuyến. Khi sự biết chuyển qua thành xao xuyến, thì Chân tâm cũng biến thành vọng tưởng. Bởi vì sự biết tiếng đàn không làm tim ta rung động có nghĩa là Chân tâm, mà lòng ta xao xuyến có nghĩa là sự si mê đang nổi dậy trong tâm của chúng ta. Mà si mê chính là vọng tưởng.

Tóm lại, sự hay biết của niệm ban đầu chính là Chân tâm. Còn sự phân biệt của những niệm sau chính là vọng tưởng.

Sự tích kinh Lăng Nghiêm 3

Ảnh minh họa.

Do đó, khi đối diện với ngoại cảnh mà chúng ta không khởi vọng niệm phân biệt theo vọng trần, có nghĩa là chúng ta xoay các giác quan như thấy, nghe, hay, biết trở về với thể tánh Chân tâm. Nếu vọng niệm không khởi thì Chân tâm hiện bày. Trong kinh này, Đức Phật cũng dạy chúng sinh phải giữ gìn giới luật để tâm được thanh tịnh, và nhờ tâm tịnh mới phát sinh trí tuệ để phá trừ vô minh. Vô minh hết thì Chân tâm tự hiện bày.

Sau cùng, Kinh Lăng Nghiêm muốn nhắn nhủ với chúng sinh rằng: mỗi khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tâm liền phân biệt tạo thành sáu thức. Sáu thức chính là tánh thấy, tánh nghe, tánh nếm… Nếu con người chỉ biết sự phân biệt, thì vọng tưởng chưa dấy khởi và Chân tâm vẫn còn. Ngược lại, sau khi biết sự phân biệt, tâm liền chạy theo ý niệm của tham-sân-si, thì dĩ nhiên Chân tâm biến mất và được thay thế bằng vọng thức. Ví dụ như chúng ta nếm một món ăn thì biết ngay món ăn này ngon hay dở. Cái biết ngon dở không có gì tai hại, mà những ý niệm sau đó muốn chạy theo món ngon mà chê món dở thì mới tai hại.

Do đó, dầu tâm có phân biệt, nhưng nếu tâm không dính mắc thì Chân tâm vẫn hiển bày. Ngược lại, sau khi tâm phân biệt mà tâm chạy theo lục trần bên ngoài, thì Chân tâm biến mất và được thay thế bằng vọng thức mê lầm, dẫn con người lún sâu vào sinh tử luân hồi. Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật dạy rằng: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” – tức là đừng để tâm mình dính mắc nơi sáu trần thì tâm sẽ được thanh tịnh. Sáu căn của con người cũng ví như sáu cánh cửa của một căn nhà. Nếu chúng ta mở toang sáu cánh cửa, thì chắc chắn gió lục trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp sẽ tràn vào trong nhà, tức là vọng thức từ sáu trần sẽ tràn vào xâm chiếm tâm thức chúng ta.

Tâm thức bây giờ được thay thế bằng vọng thức ô nhiễm từ bên ngoài, làm tâm bất tịnh, khiến tham-sân-si phát khởi liên miên, tạo cơ hội cho con người dễ dàng tạo nghiệp. Nên nhớ, có nghiệp là còn sinh tử luân hồi. Chúng ta nên thức tỉnh quay về sống với tự tánh thanh tịnh bản nhiên của mình, thì sáu căn sẽ được sáng tỏ, tức là sáu căn không còn dính mắc hay tùy thuộc vào những cảnh giới, màu sắc, hương vị… bên ngoài. Ví dụ, khi biết rằng ăn để sống, thì vấn đề ăn uống không còn quan trọng. Cũng như xe cộ, nhà cửa… chỉ là phương tiện để sống, chứ con người không làm nô lệ cho nó thì tâm không còn dính mắc. Đây chính là sống với Chân tâm của mình vậy.

Biết “có” là chấp theo cái có, tức là cho sự vật là thật có. Nhưng tất cả vạn pháp đều là vô thường, cho nên cái biết “có” ấy cũng vô thường hoại diệt. Biết “không” là chấp vào cái ngơ. Biết theo hai cái có, không là cái biết sanh diệt. Biết thật biết là cái biết của Chân tâm, không kẹt hai bên có và không. Đó chính là linh tri, Chơn Tánh của chúng ta vậy.

Qua câu chuyện và những phân tích sâu sắc, Kinh Lăng Nghiêm mở ra cánh cửa giác ngộ về Chân tâm, giúp chúng ta thoát khỏi luân hồi sinh tử. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về những giáo lý uyên thâm này, hãy khám phá ngay trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang