Kinh Lương Hoàng Sám (Quyển 1): Khai Mở Tâm Linh

21 1321 1
0
(0)

Khám phá hành trình tâm linh sâu sắc qua Pháp sám hối Từ Bi Đạo Tràng, nơi lòng từ bi vô lượng của Đức Phật được soi tỏ, giúp mọi chúng sanh tìm về nẻo chánh và bồi đắp thiện căn. Tìm hiểu thêm tại Website Chia sẻ Đạo Phật.

Kinh Lương Hoàng Sám (Quyển 1) 1

Nghi thức tụng niệm Kinh Lương Hoàng Sám

QUYỂN 1

Pháp sám hối này, được gọi là “Từ Bi Đạo Tràng”, là danh hiệu thể hiện lòng từ bi vô bờ của Đức Phật.

Ngài Di Lặc, với lòng từ bi thương xót chúng sanh, đã ứng mộng dạy bảo và đặt tên cho pháp sám hối này, đúng như bản chất chân thật của nó.

Việc thực hành pháp sám hối này nhằm mục đích hộ trì Tam bảo, đẩy lùi tà ma ngoại đạo, giúp những người ngạo mạn, tăng thượng mạn quay về nẻo chánh. Đồng thời, pháp này giúp những người chưa gieo trồng căn lành có cơ hội gieo trồng, người đã gieo trồng thì căn lành thêm lớn mạnh. Pháp sám hối còn giúp những ai còn chấp trước vào tà kiến, vào những gì đã chứng ngộ, buông bỏ sự chấp trước đó. Pháp này cũng giúp người tu theo Tiểu thừa không còn nghi ngờ Đại thừa, và người tu theo Đại thừa lại hoan hỷ với giáo lý của Tiểu thừa.

Hơn nữa, pháp sám hối Từ Bi này còn có công đức lớn lao hơn mọi việc lành khác. Pháp này là nơi nương tựa cho tất cả chúng sanh, soi sáng như mặt trời ban ngày, dịu mát như mặt trăng ban đêm. Nó là đôi mắt dẫn đường, là người thầy, là cha mẹ, là bạn bè thân thiết, đồng hành cùng người tu hành trên con đường giác ngộ.

Pháp sám hối này còn thân thiết hơn cả huyết nhục, theo ta đời đời kiếp kiếp, không rời bỏ dù chỉ trong khoảnh khắc. Chính vì lẽ đó, pháp này được gọi là Từ Bi Đạo Tràng.

Hôm nay, chúng ta cùng nhau tập hợp tại Đạo tràng, dù ẩn hay hiện, đều phát đại tâm thực hành pháp sám hối này vì có mười hai nhân duyên lớn.

Đó là những nhân duyên nào?

  1. Nguyện hóa độ chúng sanh trong sáu đường không giới hạn.
  2. Nguyện báo đáp tứ ân vô lượng.
  3. Nguyện nhờ thần lực của pháp sám hối, chúng sanh thọ trì giới Phật mà không hủy phạm.
  4. Nguyện nhờ thần lực của pháp sám hối, chúng sanh đối với bậc tôn trưởng không khởi tâm kiêu mạn.
  5. Nguyện nhờ thần lực của pháp sám hối, chúng sanh sanh ra nơi nào cũng không khởi tâm giận hờn.
  6. Nguyện nhờ thần lực của pháp sám hối, chúng sanh đối với sắc thân người khác không khởi tâm ghen ghét.
  7. Nguyện nhờ thần lực của pháp sám hối, chúng sanh đối với các pháp trong thân và ngoài thân không khởi tâm keo rít, mến tiếc.
  8. Nguyện nhờ thần lực của pháp sám hối, chúng sanh khi làm được phước thiện, không làm vì mình mà chỉ vì những người không có ai ủng hộ, giúp đỡ.
  9. Nguyện nhờ thần lực của pháp sám hối, chúng sanh không vì mình mà tu pháp Tứ nhiếp, mà chỉ vì tất cả chúng sanh.
  10. Nguyện nhờ thần lực của pháp sám hối, chúng sanh thấy người cô độc, tù tội, bệnh tật thì sanh tâm cứu giúp, mang lại an vui.
  11. Nguyện nhờ thần lực của pháp sám hối, người tu hành thấy chúng sanh nào đáng chiết phục thì chiết phục, đáng nhiếp thọ thì nhiếp thọ.
  12. Nguyện nhờ thần lực của pháp sám hối, chúng sanh sanh ra nơi nào cũng tự nhớ đến sự phát tâm Bồ đề hôm nay, làm cho tâm Bồ đề này tương tục mãi mãi không gián đoạn.

Ngưỡng mong chư vị, dù là phàm hay thánh, dù ẩn hay hiện, cùng gia tâm phù hộ, nhiếp thọ, để chúng con sám hối được thanh tịnh, nguyện lực được thành tựu, tâm đồng tâm chư Phật, nguyện đồng nguyện chư Phật. Nguyện cho chúng sanh trong bốn loài, sáu đường nhờ đó mà viên mãn Bồ đề nguyện.

CHƯƠNG THỨ NHẤT

QUY Y TAM BẢO

Hôm nay, toàn thể đại chúng cùng nhau tụ họp tại Đạo tràng, mỗi người nên khởi tâm giác ngộ, nhận rõ sự vô thường của đời người, thân thể không trường tồn. Thời trẻ đẹp đẽ, cường tráng rồi cũng sẽ già yếu. Đừng vì hình dung tốt đẹp mà lơ là việc giữ gìn thanh hạnh.

Vạn vật hữu vi đều vô thường, thảy đều tiêu diệt. Trên trời dưới đất, không có vật gì tồn tại mãi mãi. Thời trẻ, dung nhan tươi đẹp, da thịt mịn màng, thơm tho sạch sẽ. Nhưng thân này cũng vô thường. Cuộc đời có hợp rồi có tan. Sanh, già, bệnh, chết không hẹn mà đến, ai có thể cứu giúp ta khỏi khổ đau này? Tai họa bất ngờ ập đến, biết đâu mà tránh, không thể thoát khỏi. Sang hèn, giàu nghèo, thảy đều vì đó mà chết. Sau khi chết, thân thể sình trương, thối rữa không chịu nổi. Vậy luyến tiếc thân này nào có ích gì? Nếu không lo tu tạo nghiệp lành thù thắng, thì làm sao thoát ly sanh tử?

Đệ tử chúng con, tên là [Tên], tự nhận thấy: Hình hài tựa sương mai, mạng sống như nắng chiều, đời sống mong manh; chưa biết chết lúc nào. Lại thêm nghèo thiếu, không có phước đức đáng kể; không có trí tuệ sáng suốt, không có hiểu biết như bậc đại nhân thần thánh; lời nói không tốt đẹp, không trung hòa, nhân nghĩa, hành kiểm tiến thoái không có lễ độ, tôn ty. Nếu cứ giữ vững chí hướng như vậy, càng thêm mệt nhọc cho sự tu hành.

Ngưỡng mong đại chúng phát khởi lòng hổ thẹn, sợ hãi. Pháp hội này có kỳ hạn, nếu không lo sám hối, sau này hối tiếc cũng không thể được.

Từ nay trở đi, nguyện phải nỗ lực, sớm tối chuyên tâm, phụng sự cúng dường càng thêm tinh tấn. Chỉ có việc ấy là khoan khoái, cần làm hơn hết.

Ngưỡng mong đại chúng, cùng nhau trong đạo tràng, nên ân cần, thận trọng, phát tâm dõng mãnh, tâm không buông lung, tâm an trú, tâm quảng đại, tâm thù thắng, tâm đại từ bi, tâm lạc thiện, tâm hoan hỷ, tâm báo ơn, tâm tế độ, tâm giữ gìn tất cả chúng sanh; tâm cứu hộ tất cả chúng sanh, tâm đồng tâm Bồ Tát; tâm đồng tâm chư Phật! Nhất tâm nhất ý, chí thành đảnh lễ Tam Bảo.

Nguyện xin thay thế cho quốc vương, đế chúa, thổ địa, nhân dân, cha mẹ, sư trưởng thượng, trung, hạ tòa, thiện ác tri thức, chư thiên, chư tiên, hộ thế tứ vương, chủ thiện phạt ác, thủ hộ trì chú, ngũ phương long vương, long thần bát bộ, và tất cả chúng sanh vô cùng vô tận, trong mười phương, có tâm linh, có thần thức, hoặc ở dưới nước, hoặc ở trên khô, hoặc ở giữa hư không; nguyện thay thế cho tất cả chúng sanh ấy mà quy y mười phương tận hư không giới hết thảy chư Phật. (1 lạy)

– Quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Tôn pháp. (1 lạy)

– Quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Hiền Thánh Tăng. (1 lạy)

Ngày nay, đại chúng cùng nhau trong đạo tràng nên biết vì sao phải quy y Tam Bảo.

Vì chư Phật, chư vị Bồ tát có lòng đại từ vô lượng độ thoát thế gian, có lòng đại bi vô lượng an ủy thế gian, thương tất cả chúng sanh như con đỏ.

Lòng đại từ đại bi ấy thường không biết mỏi mệt, hằng cầu việc lành lợi ích cho tất cả: thề dập tắt lửa tham, sân, si cho tất cả, giáo hóa khiến cho tất cả đều được quả Vô thượng Bồ đề. Nếu chúng sanh không chứng quả Bồ đề, Phật thề không thành Chánh giác. Vì duyên cớ ấy nên đại chúng cần phải quy y Tam Bảo.

Vả lại, chư Phật thương xót chúng sanh quá hơn cha mẹ thương con.

Trong kinh dạy rằng: “Cha mẹ thương con chỉ một đời. Phật thương chúng sanh tâm không cùng tận. Lại nữa, cha mẹ thấy con vong ân bội nghĩa, thì sanh lòng giận hờn, tình thương giảm xuống. Phật và Bồ tát thương chúng sanh, lòng không như vậy. Thấy chúng sanh bội nghịch, lòng thương của Phật và Bồ tát càng tăng lên mãi.

Các Ngài còn vào trong địa ngục hỏa luân, địa ngục vô gián mà chịu vô lượng khổ, thế cho chúng sanh.

Vì thế nên biết rằng chư Phật và Bồ tát thương xót chúng sanh hơn cha mẹ thương con. Vậy mà chúng sanh vì vô minh che lấp trí tuệ, phiền não che lấp tâm tánh, đối với Phật và Bồ tát không biết quay đầu lại mà quy y, không biết ngưỡng mộ. Thuyết pháp giáo hóa, chúng sanh cũng không tin, không chịu mà còn thô lỗ, phỉ báng, chưa từng phát tâm niệm ơn chư Phật.

Vì chúng sanh không tin nên đọa vào đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; khắp trong ba đường ác ấy, chịu vô lượng khổ.

Tội hết được ra, tạm sanh làm người, tai mắt không đủ, thân thể xấu xa, không tu thiền định, không tu trí tuệ.

Chúng sanh có những quả báo chướng ngại như vậy là do không có lòng tin.

Ngày nay, đại chúng cùng nhau trong đạo tràng biết tội không tin nặng hơn các tội, khiến người tu hành lâu không thấy Phật.

Hôm nay, đại chúng tự phải cùng nhau khẳng khái tu hành, chiết ý tỏa tình, sanh tâm tăng thượng, khởi lòng hổ thẹn, cúi đầu cầu xin sám hối tội cũ. Nghiệp lụy hết rồi, trong ngoài thanh tịnh, sau mới vận tâm quay về đức tin, phát lòng tin tưởng Tam Bảo. Nếu không khởi tâm như vậy, vận tưởng như vậy, sợ lòng tin phải cách tuyệt, chướng ngại khó thông. Một khi đã mất nẻo xu hướng, thì mờ mịt không biết về đâu! Vậy thì chúng con không thể không tin mà phải đầu thành đảnh lễ quy y Tam Bảo, không dám nghi ngờ.

Đệ tử chúng con, tên là [Tên], nay nhờ sức từ bi của chư Phật, chư Đại Bồ tát mới mong hiểu biết, rất lấy làm hổ thẹn. Những tội đã làm nguyện xin trừ diệt. Những tội chưa làm không dám làm nữa.

Từ nay trở đi, cho đến ngày thành Phật, khởi lòng tin kiên cố, không dám thối lui.

Xả thân này, hoặc sanh vào địa ngục, hoặc sanh vào ngạ quỷ, hoặc sanh vào súc sanh, hoặc sanh làm người, hoặc sanh làm trời, ở trong ba cõi, hoặc thọ nam thân, hoặc thọ nữ thân, hoặc thọ phi nam phi nữ thân, v.v… hoặc lớn hoặc nhỏ, hoặc lên hoặc xuống chịu đủ khổ não, không thể chịu nổi, chúng con xin thề: không vì khổ ấy mà thối mất lòng tin ngày nay.

Thà chịu bao nhiêu khổ lụy trong muôn ngàn ức kiếp, chúng con xin thề: không vì khổ mà thối mất lòng tin hôm nay.

Nguyện xin chư Phật, chư Đại Bồ tát, đồng gia tâm cứu hộ, đồng gia tâm nhiếp thọ, khiến đệ tử chúng con, tên là [Tên], tín tâm được kiên cố, đồng như tâm của chư Phật, đồng như nguyện của chư Phật, tà ma ngoại đạo không thể phá hoại tín tâm của chúng con.

Chúng con cùng nhau chí tâm, một lòng tha thiết, đầu thành đảnh lễ, quy y mười phương tận hư không giới hết thảy chư Phật.

Quy y mười phương tận hư không giới, hết thảy Tôn Pháp.

Quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Hiền Thánh Tăng.

Ngày nay, đại chúng cùng nhau trong đạo tràng hãy lắng lòng mà nghe.

Than ôi! Cõi Trời, cõi người đều huyễn hoặc, thế giới là giả dối.

Do vì huyễn hoặc, không chân thật, nên kết quả cũng không chân thật. Giả dối mong manh nên biến hóa vô cùng.

Kết quả không chân, sở dĩ phải chìm đắm mãi trong vòng sinh tử. Biến hóa không cùng, sở dĩ phải trôi lăn hoài trong biển ái khổ đau. Thấy chúng sanh đau khổ như vậy, Phật rất thương xót.

Kinh Bi Hoa dạy rằng: “Các vị Bồ tát thành Phật đều có bổn nguyện”.

Đức Thích Tôn không hiện thân sống ở đời lâu dài, thọ mạng Ngài ngắn ngủi là vì thương chúng sanh ở cõi này, sống yểu uổng trong nháy mắt rồi chết, như biến hóa, chìm mãi trong biển khổ không ra được. Vì thế nên Phật ở cõi này cứu chúng sanh tệ ác, phải tạm dùng lời cứng rắn khổ khắc, thiết tha mà dạy bảo.

Ngài ở trong biển khổ, cứu độ chúng sanh, chưa từng khi nào không lưu tâm đến sự hoằng hóa, tế độ, lợi ích cho chúng sanh, bằng cách ứng dụng thiện pháp làm phương tiện.

Sở dĩ kinh Tam muội dạy rằng: “Tâm chư Phật là tâm đại từ bi; chỗ tâm từ bi của Phật soi đến là chỗ chúng sanh đau khổ”.

Phật thấy chúng sanh chịu khổ não như tên bắn vào lòng Phật, như phá tròng mắt Phật. Thấy rồi thương xót, tâm không tạm yên. Cho nên Phật muốn diệt khổ ngay cho chúng sanh được an vui.

Lại nữa, trí tuệ của chư Phật là trí tuệ bình đẳng, nên Phật hóa độ chúng sanh cũng bình đẳng. Như Đức Thích Tôn ai cũng xưng Ngài là Đấng Bình đẳng. Ngài dõng mãnh, chịu khổ độ thoát chúng sanh, cho nên biết ân đức Bổn sư rất nặng.

Ngài hay ở trong khổ não thuyết pháp, lợi ích cho hết thảy chúng sanh. Ngày nay chúng sanh không được giải thoát là về trước kia không nghe được âm thanh vi diệu của Phật thuyết pháp; về sau không thấy được Phật Niết bàn. Chúng sanh vì nghiệp chướng ngăn che nên xa cách lòng thương của Phật.

Bây giờ chúng con hãy cùng nhau sanh tâm thương tiếc. Vì thương tiếc nên thiện tâm nồng hậu, ở trong đau khổ chúng con nhớ ơn chư Phật, kêu cầu thảm thiết, ảo não khóc lóc, chí thành đảnh lễ, năm vóc sát đất, nguyện vì quốc vương và quyến thuộc của quốc vương, thổ địa nhân dân, phụ mẫu, sư trưởng, tín thí đàn việt, thiện ác tri thức, chư thiên… chư tiên, thông minh, chánh trực, thiên địa hư không, hộ thế tứ vương, chủ thiện phạt ác, thủ hộ trì chú, ngũ phương long vương, long thần bát bộ, cùng khắp tất cả chúng sanh vô cùng vô tận trong mười phương mà quy y mười phương tận hư không giới hết thảy chư Phật. (1 lạy)

Quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Tôn pháp. (1 lạy)

Quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Hiền Thánh Tăng. (1 lạy)

(Toàn thể đều quỳ chắp tay tâm niệm và tiếp tụng):

Chư Phật đại thánh tôn,

Thấu rõ hết thảy pháp,

Đạo sư của Trời người

Cho nên nguyện quy y.

– Tôn pháp tánh thường trú,

Thanh tịnh Tu Đà La (Khế Kinh)

Hay trừ bệnh thân tâm,

Tìm hiểu thêm: Om Mani Padme Hum: Chìa Khóa Khai Mở Sức Mạnh Vô Biên Của Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn

Cho nên nguyện quy y.

– Đại địa chư Bồ tát (hàng Bồ tát đông vô số)

Vô trước Tứ Sa môn (hàng A La Hán)

Hay cứu hết thảy khổ

Cho nên nguyện quy y.

– Tam Bảo cứu thế gian

Vì sáu đường chúng sanh,

Con nay xin đảnh lễ,

Quy y thế tất cả.

– Từ bi che hết thảy

Khiến đồng được an vui.

Thương xót cả muôn loài

Chúng con đồng quy y.

(Mọi người đều đảnh lễ sát đất và tự niệm rằng):

Nguyện xin tất cả mười phương Tam Bảo đem từ bi lực, bổn thệ nguyện lực, bất tư nghị lực, vô lượng tự tại lực, độ thoát chúng sanh lực, phù hộ chúng sanh lực, an ủy chúng sanh lực. Đem những năng lực ấy khiến các chúng sanh đều giác ngộ, chúng con tên [Tên] ngày nay vì các chúng sanh ấy mà quy y Tam Bảo.

Chúng con xin nhờ công đức này có năng lực khiến các chúng sanh ấy đều được mãn nguyện.

Nếu các chúng sanh ấy hoặc ở trong loài trời, loài tiên thì được hết nghiệp hữu lậu (không còn sanh tử).

Nếu các chúng sanh ấy ở trong loài A tu la thì khiến họ xả bỏ tánh kiêu mạn.

Nếu các chúng sanh ấy ở trong loài người thì khiến cho hết khổ đau.

Nếu các chúng sanh ấy ở trong các loài địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì khiến cho liền được giải thoát.

Lại nữa, ngày nay người nào nghe được danh hiệu của Tam Bảo, và người không nghe được cũng đều nhờ được thần lực của Phật mà được giải thoát, hoàn toàn thành tựu Vô thượng Bồ đề, đồng với các Đại Bồ Tát thành bậc Chánh giác.

CHƯƠNG THỨ HAI

DỨT NGHI NGỜ

Ngày nay, đại chúng cùng nhau trong Đạo tràng lắng lòng mà nghe. Luận rằng: Nhân quả ảnh hưởng, lẫn nhau cảm ứng tương sanh; đạo lý tự nhiên như vậy không sai lầm. Nhưng về hạnh nghiệp của chúng sanh, mỗi người một khác không giống nhau, nên quả báo cũng không giống nhau; hoặc tinh thô, hoặc sang hèn, hoặc thiện hoặc ác sai khác muôn vàn. Đã có sai khác thì không rõ nguyên nhân sự sai khác ấy do đâu. Vì không rõ nên sanh ra nghi ngờ, lầm lạc. Hoặc nói người tinh tấn tu hành, giữ giới trong sạch, đáng lẽ được sống lâu, sao lại chết sớm. Người đồ tể, đáng lẽ chết sớm sao lại sống lâu. Người thanh liêm đáng lẽ được giàu sang, sao lại thấy nghèo thiếu. Người tham lam trộm cướp, đáng lẽ nghèo thiếu khốn khổ, sao lại giàu có phong lưu!

Nghi ngờ sai lầm như vậy ai cũng có nghĩ đến không tránh khỏi. Do vì không rõ việc của mình đã làm từ bao kiếp trước, hạt giống của mình đã gieo không thuần, nên ngày nay đem lại kết quả bất nhất như vậy.

Kinh Bát Nhã dạy rằng: “Nếu người nào đọc tụng kinh này, bị kẻ khác khinh chê, là vì người ấy đời trước có tội nghiệp nặng, đáng đọa vào đường ác. Ngày nay nhờ người khinh chê nên tội nghiệp đời trước được tiêu diệt.

Bởi chúng sanh không hết lòng thâm tín lời Phật dạy, mới có tâm nghi ngờ. Chúng sanh bị vô minh cho hoặc, che lấp tâm tánh nên luống sanh tâm nghi ngờ điên đảo như vậy.

Chúng sanh lại cũng không tin: còn ở trong ba cõi là khổ, ra khỏi ba cõi là vui. Những người thường say đắm thế gian đều cho đời là vui.

Chúng ta thử hỏi:

Nếu đời thật là vui, cớ sao trong tâm biết vui ấy lại có tâm biết khổ. Ăn uống quá độ liền sanh tật bệnh: ban sởi, ho hen, khí tức, cổ trướng, đau đớn, khó chịu.

Nói đến y phục, càng thấy khổ nhiều. Lạnh được áo mỏng thì bạc ơn người cho, lòng nghĩ nông nổi. Nắng được áo kép, lông chiên, khổ não càng nhiều. Nếu y phục là vui, cớ sao lại sanh khổ não.

Nếu cho gia đình quyến thuộc là vui, lẽ ra cùng nhau vui mãi, hoan lạc ca cười không dứt, cớ sao thoắt vậy vô thường, qua đời trong nháy mắt! Vừa có đó liền không đó. Sớm còn tối mất, kêu trời vang đất, can trường đoạn đoạn! Chúng sanh lại cũng không tự biết mình từ đâu đến đây? Chết rồi đi đâu. Người còn khóc kẻ mất, ôm lòng thương xót, tống táng đưa nhau, thẳng đến sơn cùng, chắp tay vĩnh biệt, nhất từ vạn kiếp, đau đớn biết bao? Những điều như vậy, sầu khổ vô lượng, chúng sanh mê chấp cho đó là vui.

Trái lại, gây nhân vui xuất thế, chúng sanh đều cho việc ấy là khổ.

Thấy người trai giới tương dưa, nuôi thân qua buổi, không mặc lụa là, quen bận phấn tảo, ăn mặc nâu sồng, chúng sanh đều cho các việc ấy là tự ép xác, khốn khổ, không biết làm như thế là gây nhân giải thoát, gieo giống an vui.

Hoặc thấy người bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, kinh hành lễ bái, tụng tập chuyên cần, chúng sanh đều cho là khổ; không biết làm như vậy là tu tâm xuất thế, để được an vui.

Thoảng hoặc thấy có người tật bệnh mà chết, liền sanh tâm nghi rằng: người ấy bắt buộc thân tâm này làm việc quá độ, trọn ngày không được tạm nghỉ. Sức lực con người không thể nào kham nổi. Nếu người tu hành không siêng năng khó nhọc thì đâu đến nỗi luống mất thân mạng với việc làm vô ích như vậy.

Hoặc có người chấp chặt lý thuyết của mình, tự cho mình là đúng, chứ không biết suy quả tầm nhân, luống sanh tâm mê chấp, luống làm việc sai lầm.

Nếu may gặp được Thiện tri thức thì có thể hết mê lầm. Nếu không may gặp phải bạn ác thầy tà thì si mê càng lắm.

Nhân vì nghi ngờ mê hoặc nên đọa vào ba đường ác, ở trong ấy, ăn năn không kịp.

Hôm nay, đại chúng cùng nhau trong đạo tràng nên hiểu rõ.

Phàm nghi ngờ như vậy có vô lượng nhân duyên.

Vả chăng hạt giống nghi ngờ lầm lạc ấy, tu hành thoát ra khỏi ba cõi luân hồi còn chưa hết, huống gì thân phàm phu này làm sao trừ ngay cho được. Đời này không lo đoạn trừ, đời sau càng thêm.

Đại chúng cùng nhau vừa mới tu tập, đường hãy còn dài, tự tu khổ hạnh, nên căn cứ vào lời Phật dạy, đúng pháp mà tu, không nên nghi ngờ, từ chối sự mệt nhọc.

Chư Phật thánh nhân, sở dĩ ra được khỏi sanh tử, đến bờ giải thoát bên kia, là nhờ công tích thiện, nên được quả giải thoát vô ngại tự tại.

Chúng con ngày nay chưa lìa khỏi sanh tử, nghĩ cũng tự đáng thương; làm sao còn ham muốn ở trong đời ác trược này nữa. Nay đây may được tứ đại chưa suy đồi; ngũ phước còn thịnh, tới lui thong thả, động chuyển tự do mà không nỗ lực tu hành, còn đợi gì nữa. Đời trước đã không thấy đạo; đời này cũng luống qua, không chứng ngộ gì, thì đời sau làm sao tế độ chúng sanh.

Xem lại tự tâm, thật cũng đau lòng. Ngày nay đại chúng chỉ nên khuyên nhau nỗ lực xiêng tu, không nên nói rằng, phải có tin tức chứng ngộ gì mới chịu tu tập; vì Phật đạo lâu dài, không thể một mai mà làm xong được. Nếu cứ chờ tin tức, như vậy một mai rồi lại một mai thì biết bao giờ chứng quả.

Nay hoặc có người nhân tụng kinh, ngồi thiền, siêng tu khổ hạnh, hơi có chút tật bệnh liền nói: Vì tụng tập siêng năng, khổ hạnh quá nhiều nên sanh bệnh hoạn. Người nói như thế là vì họ không tự biết. Nếu họ không làm như vậy thì cũng đã chết sớm mất rồi. Nhờ tu hành có phước đức mới mong sống đến hôm nay.

Vả lại, bốn đại tăng giảm tật bệnh là thường, cho đến già chết còn không thể tránh. Sanh ở thế gian này chung cuộc rồi ai cũng tận số. Nếu muốn được đạo, phải y lời Phật dạy mà tu. Trái lời Phật mà đắc đạo thì không có lẽ ấy.

Chúng sanh vì trái lời Phật nên xoay chuyển trong ba đường, chịu đủ thống khổ. Nếu đúng như lời Phật dạy mà tu hành không thôi nghỉ, siêng năng tinh tấn, như cứu lửa cháy đầu, thì đâu đến nỗi một đời luống qua, không có lợi ích gì. Mọi người cùng nhau nhất tâm tha thiết, đầu thành đảnh lễ, như Thái sơn đổ, nguyện vì những người sau đây mà đảnh lễ thế cho họ.

Kể từ khi có tâm thức cho đến ngày nay, cha mẹ nhiều đời, bà con nhiều kiếp, Hòa thượng, A xà lê, đồng đàn tôn chứng, thượng trung hạ tòa, tín thí đàn việt, thiện ác tri thức, chư thiên… chư tiên, thông minh, chánh trực, thiên địa hư không, hộ thế tứ thiên vương chủ thiện, phạt ác, thủ hộ trì chú, ngũ phương long vương, long thần bát bộ khắp đến 10 phương vô cùng vô tận, hết thảy chúng sanh mà quy y Thế gian Đại Từ bi phụ:

Nam mô Di Lặc Phật

Nam mô Duy Vệ Phật

Nam mô Thi Khí Phật

Nam mô Tùy Diếp Phật

Nam mô Câu Lưu Tôn Phật

Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật

Nam mô Ca Diếp Phật

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát

Lại quy y như vậy mười phương tận hư không giới hết thảy Tam Bảo, nguyện xin Tam Bảo dùng sức Từ bi, đồng gia tâm nhiếp thọ; dùng sức thần thông che chở cứu vớt chúng con; khiến chúng con từ nay trở đi cho đến ngày thành đạo, Tứ vô lượng tâm, Lục ba la mật thường được hiện tiền, Tứ vô ngại trí, Lục thần thông lực, được như ý tự tại; tu đạo Bồ tát, vào trí tuệ Phật, hóa độ mười phương, thành bậc Chánh giác.

Ngày nay, đại chúng cùng nhau trong đạo tràng lại khéo nhiếp tâm, suy nghĩ cho kỹ:

Đã được cùng nhau sanh lòng tin rồi thì nên giữ ý thanh tịnh, lấy điều ấy làm nẻo xu hướng đối với các pháp trong thân ngoài thân chớ cho trở ngại.

Nếu không biết rõ việc làm hay tự mình không thể làm thì lúc thấy người làm việc phước thiện, chỉ nên khuyến khích, chắp tay tán thán công đức của người, không nên sanh tâm trở ngại, khiến người tu hành phải thối chí.

Nếu người không thối chí họ cứ tinh tấn như thường, việc người không giảm, chỉ mình bị tổn phước, luống gây thị phi, đối với bản thân nào có ích gì? Nếu đối với việc lành mình không trở ngại thì có thể gọi là hợp đạo, hữu lực đại nhân. Nếu đời này mình hay trở ngại việc phước thiện của người thì đời sau làm sao thông đạt được Phật đạo.

Cứ lý mà suy, tổn hại ấy rất nặng. Trở ngại thiện căn của người, tội ấy rất lớn.

Như kinh Hộ Khẩu dạy rằng:

“Có một ngạ quỷ thân hình xấu ác, thấy phải rùng mình, không ai không sợ. Thân xuất lửa dữ như đám cháy lớn. Trong miệng có sâu dòi rúc ra mãi mãi, máu mủ tanh hôi, đầy cả thân hình, mùi thối bay ra, không ai có thể đến gần. Miệng khạc ra lửa, thân phần lửa đốt, cất tiếng kêu khóc, tuông chạy cùng khắp.

Bấy giờ có ngài Mãn Túc La Hán hỏi Ngạ quỷ rằng:

“Xưa kia ngươi mắc phải tội gì mà nay chịu khổ như thế?”

Ngạ quỷ đáp rằng:

Tôi ngày xưa đã từng làm sa môn, tham đắm sự nuôi sống, xan tham không bỏ, không giữ oai nghi, nói lời thô ác.

Nếu thấy người giữ giới tinh tấn lại liền mắng nhiếc, liếc mắt láy nguýt, ỷ mình giàu mạnh, tưởng sống lâu không chết, tạo ra vô lượng tội ác căn bản. Ngày nay nhớ lại, hối hận cũng không ích gì. Thà cầm dao bén tự cắt lưỡi mình, kiếp này sang kiếp khác, cam tâm chịu khổ, không nên nói một lời phỉ báng việc làm của người.

“Nguyện xin ngài trở về đường thế, đem hình trạng xấu ác của tôi răn dạy các thầy Tỳ kheo và các Phật tử, khéo giữ gìn lỗ miệng, chớ buông lời nói ác. Dầu thấy người giữ giới hay không giữ giới cũng nên tuyên dương công đức của người.

Tôi làm quỷ đói đã vài ngàn kiếp, trọn ngày thâu đêm chịu đủ điều đau khổ. Quả báo này hết rồi lại vào địa ngục”.

Bấy giờ Ngạ quỷ nói lời ấy rồi, cất tiếng kêu khóc, tự gieo mình xuống đất như núi Thái Sơn sụp đổ.

Ngày nay, đại chúng cùng nhau trong đạo tràng nghe lời kinh dạy như vậy rất đáng sợ hãi.

Chỉ vì lỗi của miệng mà mang tội nhiều kiếp, luống nữa là còn bao nhiêu điều ác khác. Xả thân này thọ thân khác mà chịu khổ điều do nghiệp ác của mình đã làm. Nếu không gây nhân thì tại làm sao lại có chịu quả. Đã gây nhân quyết định phải chịu trả quả. Tội phước không xa, mình làm mình chịu, như bóng theo hình, không thể rời nhau. Do vô minh mà sanh thì cũng do vô minh mà diệt. Đời này đời sau, bao giờ cũng vậy, chưa từng thấy người tu hành buông lung, lười biếng mà được giải thoát. Trái lại, người hay tinh tấn giữ gìn tu hành, được phước đức vô lượng.

Ngày nay, đại chúng đều nên biết hổ thẹn rửa sạch thân tâm, sám hối tội cũ. Tội cũ hết rồi, không gây thêm tội mới nữa thì được các Đức Phật khen ngợi. Cùng nhau từ nay trở đi, nếu thấy người làm thiện, chớ nói thành hay không thành, lâu hay không lâu. Dầu cho họ chỉ làm lành trong một niệm, một thời, một khắc, một ngày, một tháng, nửa năm, hy một năm cũng đã hơn người không làm.

Sở dĩ kinh Pháp Hoa dạy rằng: “Hoặc có người tâm tán loạn vào trong tháp miếu, xưng một câu Nam Mô Phật, người ấy cũng đã thành Phật đạo”. Huống nữa có người phát tâm rộng lớn, siêng làm phước thiện. Nếu chúng ta không tùy hỷ thì thánh nhân rất thương xót.

Chúng con tên [Tên] tự nghĩ mình từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay lẽ ra cũng đã có vô lượng ác tâm trở ngại việc lành tốt đẹp của người. Vì sao mà biết? Nếu không như vậy, cớ sao ngày nay việc lành của chúng con phần nhiều hay bị trở ngại. Thiền định không hay tập, trí thức không hay tu. Vừa mới lễ bái liền nói khổ lắm. Vừa cầm đến kinh liền sanh nhàm chán. Trọn ngày chỉ ưa khó nhọc làm các nghiệp ác khiến cho thân này không được giải thoát, như tằm kéo kén, tự ràng, tự buộc, như phù du vào lửa, tự thiêu tự đốt. Những chướng ngại ấy vô lượng vô biên, chướng Bồ đề tâm, chướng Bồ đề nguyện, chướng Bồ đề hạnh, chướng ngại như vậy đều do ác tâm, phỉ báng việc thiện của người. Nay mới giác ngộ, rất là hổ thẹn, cúi đầu xin sám hối tội ấy.

Nguyện xin chư Phật, chư Đại Bồ tát, đem lòng từ bi, đồng gia thần lực khiến đệ tử tên [Tên] những điều sám hối đều được trừ diệt, những điều hối đều được thanh tịnh. Vô lượng chướng ngại, vô lượng tội nghiệp đều nhờ sám hối này mà được sạch hết.

Mọi người cùng nhau nhất tâm thống thiết năm vóc sát đất, quy y thế gian Đại Từ bi phụ:

Nam mô Di Lặc Phật

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật

Xem thêm: Hồng Danh Sám Hối: Chìa Khóa Chuyển Hóa Tâm Hồn

Nam mô Thiện Đức Phật

Nam mô Vô Ưu Đức Phật

Nam mô Chiên Đàn Đức Phật

Nam mô Bảo Thí Phật

Nam mô Vô Lượng Minh Phật

Nam mô Hoa Đức Phật

Nam mô Tưởng Đức Phật.

Nam mô Tam Thừa Hạnh Phật

Nam mô Quảng Chúng Đức Phật

Nam mô Minh Đức Phật

Nam mô Sư Tử Du Hý Bồ tát

Nam mô Sư Tử Phấn Tấn Bồ tát

Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát

Lại xin quy y như vậy mười phương tận hư không giới hết thảy Tam Bảo.

(Cùng nhau quỳ gối chắp tay, tâm niệm và tụng niệm):

Đệ tử chúng con tên [Tên] từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay, chưa thể đắc đạo, thọ lấy báo thân này vì tham bốn món cúng dường chưa từng xả bỏ. Tham sân tật đố, ba độc hừng hực sanh ra các ác nghiệp. Thấy người bố thí, trì giới, tự mình không thể làm, không hay tùy hỷ. Thấy người nhẫn nhục tinh tấn, tự mình không thể làm. Không hay tùy hỷ. Thấy người tọa thiền, tu nghiệp trí tuệ, tự mình không thể làm, không hay tùy hỷ. Những tội như vậy, vô lượng vô biên ngày nay sám hối, nguyện xin trừ diệt.

Lại nữa từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay, thấy người làm lành, tu các công đức không hay tùy hỷ, đi đứng nằm ngồi, trong bốn oai nghi ấy không biết hổ thẹn, không nghĩ vô thường, không biết xả thân này phải vào địa ngục.

Đối với sắc thân người khác, khởi ra điều ác. Chướng ngại người xây dựng và cúng dường Tam Bảo, chướng ngại người tu tập hết thảy công đức.

Tội chướng như vậy vô lượng vô biên ngày nay sám hối, nguyện xin trừ diệt.

Lại nữa, từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay không tin Tam Bảo là chỗ quy y, chướng ngại người xuất gia, chướng ngại người trì giới, chướng ngại người bố thí, chướng ngại người nhẫn nhục, chướng ngại người tinh tấn, chướng ngại người tọa thiền, chướng ngại người tụng kinh, chướng ngại người làm chay, chướng ngại người tạo tượng, chướng ngại người cúng dường, chướng ngại người khổ hạnh, chướng ngại người hành đạo, cho đến mảy may việc thiện của người chúng con cũng chướng ngại. Không tin xuất gia là pháp viễn ly, không tin nhẫn nhục là hạnh an lạc, không biết bình đẳng là đạo Bồ đề, không biết xa lìa vọng tưởng là tâm xuất thế. Vì những tội ấy cho nên ngày nay sanh ra nơi nào cũng gặp nhiều chướng ngại. Tội chướng như vậy, vô lượng vô biên, chỉ có chư Phật, chư Đại Bồ tát mới thấy hết biết hết.

Như chỗ chư Phật và Bồ tát đã thấy đã biết, tội lượng nhiều ít, ngày nay hổ thẹn, tỏ bày sám hối, tất cả tội nhân, khổ quả, nguyện xin trừ diệt. Từ nay trở đi cho đến ngày thành đạo tu đạo Bồ tát, không biết nhàm chán. Tài thí, pháp thí không cùng, không tận, trí tuệ phương tiện làm gì cũng được. Hết thảy người thấy, người nghe đều được giải thoát.

Chúng con cùng nhau chí tâm, đầu thành đảnh lễ, năm vóc sát đất nguyện xin mười phương hết thảy chư Phật, chư Đại Bồ tát hết thảy Hiền Thánh, dủ lòng từ bi, đồng gia thần lực, làm cho hết thảy chúng sanh trong sáu đường, nhờ sức sám hối này mà đoạn trừ được hết thảy tội khổ, xa lìa được hết thảy duyên điên đảo, không sanh ác tâm, xả nghiệp bốn thú, phát sanh trí tuệ, tu đạo Bồ đề không thôi không nghỉ; hạnh nguyện chóng viên mãn, mau lên ngôi Thập địa, vào tâm kim cang thành Đẳng Chánh giác.

CHƯƠNG THỨ BA

SÁM HỐI

Ngày nay, đại chúng cùng nhau trong đạo tràng lắng tai nghe kỹ lời kinh dạy sau đây:

“Còn phàm phu thì gọi là buộc. Đã chứng quả Thánh thì gọi là giải”.

Buộc tức là kết quả ác của hành động bạo ác của ba nghiệp ác đã gây ra. Giải tức là quả báo lành vô ngại giải thoát của ba nghiệp lành đã gây ra.

Hết thảy thánh nhân đều để lòng nơi đạo giải thoát, và nhờ thần thông trí tuệ, vô lượng pháp môn, nên thánh nhân thấy hết thảy nghiệp báo thiện hay ác của tất cả chúng sanh.

Các Ngài hay dùng một thân hiện ra vô lượng thân, hay dùng một hình hiện ra vô lượng hình; có thể rút ngắn một kiếp làm một ngày; có thể kéo dài một ngày làm một kiếp. Muốn đình thọ mạng thì vĩnh viễn không diệt độ; muốn thị hiện vô thường thì nhập Niết bàn; thần thông trí tuệ, vào ra tự tại, bay đi tùy ý, ngồi nằm trên không. Đi đứng dưới nước như ở trên khô, không thấy nguy hiểm. Lấy cảnh vắng lặng, viên tịch Niết bàn làm chỗ nghỉ ngơi thông đạt vạn pháp, có không điều rõ biết, biện tài thành tựu, trí tuệ vô ngại.

Những pháp lành ấy không phải từ trong nghiệp ác mà ra, không phải từ trong tham sân tật đố mà ra; không phải từ trong ngu si tà kiến mà ra; không phải từ trong lười biếng mà ra, không phải từ trong kiêu mạn, tự cao tự đại mà ra. Các pháp lành ấy chỉ trừ trong sự thận trọng không làm ác mà ra; các pháp lành ấy đều do các nghiệp lành mà ra.

Không nơi nào có người tu các nghiệp lành, vâng lời Phật dạy mà mắc phải ác báo, bần cùng xấu xa tàn tật, bệnh hoạn, không được tự do, thấp hèn bị kẻ khác khinh chê, lời nói không ai tin dùng bao giờ.

Nay đem thân tôi để làm chứng (lời tác giả). Nếu có người nào vâng lời Phật dạy, tu các công đức, không ích kỷ hại nhân mà bị quả báo xấu ác thì thà để tôi bị đọa vào A Tỳ địa ngục chịu thống khổ, chớ để cho người làm lành kia chịu quả báo xấu ác thì phi lý.

Ngày nay, đại chúng cùng nhau trong Đạo tràng muốn bỏ phàm làm thánh thì nên y lời Phật dạy, như lý mà tu hành. Không nên từ chối một việc khổ nhỏ mà sanh tâm lười biếng nên tự nỗ lực cố gắng sám hối cho tiêu tội lỗi.

Trong kinh Phật dạy: “Tội do nhân duyên mà sanh thì cũng do nhân duyên mà diệt”.

Đang còn thân phàm thì gặp cảnh sanh mê tâm. Vậy ngoài phương pháp sám hối ra, không có phương pháp nào hơn nữa để mong giải thoát.

Ngày nay, đại chúng phải cùng nhau phát khởi tâm dõng mãnh, phát khởi ý sám hối.

Sức mạnh của pháp sám hối không thể nghĩ bàn. Vì sao mà biết? – Vì vua A Xà Thế phạm đại tội ngũ nghịch, nhưng sau vua biết sanh tâm hổ thẹn, tự trách, tự ăn năn, nên tội nặng thành nhẹ.

Vả lại pháp sám hối này khiến người tu hành được an vui. Nếu có người nào tự mình hay định thời khóa, nỗ lực hết lòng, khấu đầu lễ bái, sám hối, quy y cho đến khi hoàn toàn trong sạch mà không cảm được mười phương Phật thì không có lý.

Ác nghiệp và quả báo theo nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, không sai mảy may, cho nên phải hết lòng sợ hãi, cố gắng chịu khổ mà sám hối.

Mọi người đều nên một lòng tha thiết gieo mình xuống đất như núi Thái Sơn sụp đổ, tâm niệm miệng nói lời này: để cầu thỉnh mười phương chư Phật gia tâm thương xót.

Nguyện xin chư Phật cứu chúng con ra khỏi khổ ách; dủ lòng đại bi che khắp tất cả. Phóng hào quang thanh tịnh, soi khắp mười phương; diệt sạch mê mờ và trừ si ám. Nghĩ đến chúng con và các chúng sanh đang bị đọa đầy, trong địa ngục đau khổ. Xin Phật đến đây, cứu vớt chúng con. Ban bố hạnh phúc cho chúng con được thoát khổ.

Chúng con nhất tâm đầu thành đảnh lễ, Đấng Đại từ bi nghe tên liền cứu khổ. Nay chúng con nhất tâm quy y Đấng Thế gian Đại Từ Bi Phụ.

Nam mô Di Lặc Phật

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam mô Kim Cang Bất Hoại Phật

Nam mô Bảo Quang Phật

Nam mô Long Tôn Vương Phật

Nam mô Tinh Tấn Quân Phật

Nam mô Tinh Tấn Hỷ Phật

Nam mô Bảo Hỏa Phật

Nam mô Bảo Nguyệt Quang Phật

Nam mô Hiện Vô Ngu Phật

Nam mô Bảo Nguyệt Phật.

Nam mô Vô Cấu Phật

Nam mô Ly Cấu Phật

Nam mô Sư Tử Phan Bồ tát

Nam mô Sư Tử Tác Bồ tát

Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát

Lại quy y như vậy mười phương tận hư không giới hết thảy Tam Bảo, nguyện xin Tam Bảo quyết định đến đây cứu vớt chúng con, đang bị đọa đày bởi tham sân si, làm đau khổ, nguyện cho chúng con được an vui và được Đại Niết bàn; nguyện xin lấy nước đại bi tẩy trừ tội lỗi cho chúng con được thanh tịnh mau chứng quả Bồ đề. Bốn loài chúng sanh trong sáu đường, nếu có một chúng sanh nào mắc phải tội lỗi, đều được nhờ Tam Bảo mà thanh tịnh; đều được thành tựu quả Vô thượng Bồ đề, thành bậc Chánh giác, hoàn toàn giải thoát.

Đại chúng cùng nhau một lòng tha thiết, đầu thành đảnh lễ, tâm niệm miệng nói lời này:

Đệ tử chúng con tên [Tên] từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay, bị vô minh che lấp tâm tánh, bị ái nhiễm ràng buộc, nên tinh thần sa vào lưới ngu si, loanh quanh ba cõi, cùng khắp sáu đường, chìm đắm bể khổ, không có ngày ra; không thể biết được nghiệp đời trước của mình, không thể hiểu được nhân duyên đã qua. Hoặc mình tự phá tính mạng và phá tính mạng của người. Mình tự phá phạm hạnh và phá phạm hạnh của người. Mình tự phá tịnh giới và phá tịnh giới của người.

Khám phá: An Lạc Hiện Tại: Vượt Thoát Bóng Ma Áo Trắng Với Giới Pháp Phật

Tội ác như vậy vô lượng vô biên, ngày nay hổ thẹn sám hối nguyện xin trừ diệt.

Đệ tử chúng con tên [Tên] lại chí thành đảnh lễ sát đất, cầu xin sám hối, những tội lỗi từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay, do thân khẩu ý tạo ra mười ác nghiệp.

Thân sát, đạo, dâm, miệng nói láo, nói lời thêu dệt, nói lời hai lưỡi, nói lời độc ác, ý tham sân si. Mình tự làm mười điều ác dạy người làm mười điều ác, khen ngợi người làm mười điều ác. Như vậy trong một khoảnh khắc, trong một niệm tâm, khởi ra bốn mươi điều ác.

Những tội như thế vô lượng vô biên, ngày nay sám hối, nguyện xin trừ diệt.

Đệ tử chúng con tên [Tên] lại chí tâm đảnh lễ sát đất, cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay.

Nương nơi sáu căn rồi phát ra sáu thức, chấp lấy sáu trần. Mắt đắm sắc, tai ưa tiếng, mũi trước hương, lưỡi ưa vị, thân ưa trơn láng, mịn màng, ý ưa pháp trần. Sáu căn ấy sanh ra bao nhiêu tội nghiệp, mở cửa cho tám vạn bốn ngàn trần lao. Tội ác như vậy vô lượng vô biên ngày nay sám hối nguyện xin trừ diệt.

Đệ tử chúng con tên [Tên] lại chí thành đảnh lễ, cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay, do thân, khẩu, ý gây ra nhiều nỗi bất bình, như chỉ biết có thân mình, không biết có thân người, chỉ biết có mình khổ, không biết có người khổ, chỉ biết có mình cầu an vui, không biết có người cầu an vui, chỉ biết có mình cầu giải thoát, không biết có người cầu giải thoát. Chỉ biết có gia đình mình, có quyến thuộc mình, không biết có gia đình người, có quyến thuộc người, chỉ biết thân mình hơi ngứa một chút, hơi đau một chút đã chịu không nổi, thế mà khi làm cho thân người khác đau thì sợ họ không đau, ít đau, không thấm thía, chỉ biết sợ khổ một chút nơi đời hiện tại mà không biết sợ khổ vô lượng kiếp nơi đời vị lai. Bởi vì làm ác chết rồi phải đọa vào địa ngục, chịu đủ thống khổ, cho đến không biết sợ khổ vô lượng trong đời ngạ quỷ, trong đường súc sanh, trong đường A tu la.

Cõi người và cõi trời cũng có vô lượng thống khổ mà không tự biết, chỉ vì tâm không bình đẳng, có phân biệt ngã, có niệm oán thân, làm cho oán thù tràn khắp lục đạo.

Những tội như vậy vô lượng vô biên, ngày nay sám hối, nguyện xin trừ diệt.

Đệ tử chúng con tên [Tên] lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay do tâm điên đảo, nên thường xa lìa bạn lành (thiện tri thức) gần gũi bạn ác, trái nghịch Bát Chánh đạo, tu theo Bát Tà đạo, phi pháp nói chánh pháp, chánh pháp nói phi pháp, bất thiện nói là thiện, thiện nói là bất thiện, dựng cờ kiêu mạn, giăng buồm ngu si, theo dòng vô minh vào biển sanh tử.

Những tội như vậy vô lượng vô biên ngày nay sám hối nguyện xin trừ diệt.

Đệ tử chúng con tên [Tên] lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay, vì tham sân si khởi ra bốn điên đảo, tạo nên năm tội nghịch làm đủ mười ác, ba độc hừng hực, tám khổ càng nhiều, gieo giống địa ngục Bát Hàn, Bát Nhiệt; gieo giống 84.000 ngăn cách địa ngục, gieo giống súc sanh, gieo giống ngạ quỷ, gieo giống sanh già bệnh chết, ưu bi khổ não ở cõi trời cõi người để chịu quả báo đau khổ, không thể kể xiết, không thể chịu được, không thể thấy được, không thể nghe được.

Những tội ác như vậy, vô lượng vô biên, ngày nay sám hối, nguyện xin trừ diệt.

Đệ tử chúng con tên [Tên] lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ kiếp trở lại cho đến ngày nay, vì ba độc tham sân si ở trong ba cõi, trải khắp hai mươi lăm loài khởi ra các tội ác, cùng khắp mọi nơi, thuận chiều gió nghiệp mà [Tên] không tự biết. Hoặc chướng ngại người trì giới, tu định, tu tuệ, tu các công đức, tu các thần thông. Những tội chướng như vậy vô lượng vô biên, chướng Bồ đề tâm, chướng Bồ đề nguyện, chướng Bồ đề hạnh, ngày nay sám hối nguyện xin trừ diệt.

Đệ tử chúng con tên [Tên] lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ kiếp trở lại cho đến ngày nay, vì tâm tham sân si, phát khởi ra sáu thức, duyên theo sáu trần, gây tội cho chúng sanh. Hoặc đối với chúng sanh mà khởi tội; hoặc đối với phi chúng sanh mà khởi tội, hoặc đối với người vô lậu mà khởi tội, hoặc đối với pháp vô lậu mà khởi tội.

Những tội ác như vậy vô lượng vô biên, ngày nay sám hối nguyện xin trừ diệt.

Lại nữa, chúng con vì tâm ngu si mà khởi hạnh điên đảo, tin theo thầy tà, thọ lời tà giáo, chấp đoạn, chấp thường, trước ngã, trước kiến, làm theo si mê, khởi ra vô lượng tội lỗi.

Những nhân duyên ấy chướng Bồ đề tâm, chướng Bồ đề nguyện, chướng Bồ đề hạnh, ngày nay sám hối nguyện xin trừ diệt.

Đệ tử chúng con tên [Tên] lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ kiếp trở lại cho đến ngày nay, thân ba nghiệp ác, miệng bốn nghiệp ác, ý ba nghiệp ác, vô thỉ vô minh trú địa phiền não, hằng sa thượng phiền não, chỉ thượng phiền não, quán thượng phiền não, tứ trú địa phiền não, tam độc, tứ thủ, ngũ cái, lục thọ, thất lậu, bát cấu, cửu kết, thập sử. Những phiền não ấy vô lượng vô biên, hay chướng Bồ đề tâm, hay chướng Bồ đề nguyện, hay chướng Bồ đề hạnh, ngày nay sám hối, nguyện xin trừ diệt. Đệ tử chúng con tên [Tên] lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ kiếp trở lại cho đến ngày nay, không hay tu tâm từ bi, không hay tu tâm hỷ xả, không hay tu tâm bố thí, không hay tu tâm trì giới, không hay tu tâm nhẫn nhục, không hay tu tâm tinh tấn, không hay tu tâm thiền định, không hay tu tâm trí tuệ, không hay tu hết thảy pháp, trợ Bồ đề.

Vì thế nên không có phương tiện, không có trí tuệ, làm chướng ngại Bồ đề tâm, chướng ngại Bồ đề nguyện, chướng ngại Bồ đề hạnh, ngày nay sám hối, nguyện xin trừ diệt.

Đệ tử chúng con tên [Tên] lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay, vì tội nghiệp nên cứ xoay vần trong ba cõi, trải khắp sáu đường, thọ thân bốn loài, hoặc nam hoặc nữ, hoặc phi nam phi nữ, cùng khắp mọi nơi tạo vô lượng tội. Hoặc làm chúng sanh thân hình to lớn ăn nuốt lẫn nhau; hoặc làm chúng sanh thân hình bé nhỏ ăn nuốt lẫn nhau. Những tội sát hại như vậy vô lượng vô biên hay chướng Bồ đề tâm, hay chướng Bồ đề nguyện, hay chướng Bồ đề hạnh. Ngày nay sám hối nguyện xin trừ diệt.

Đệ tử chúng con tên [Tên] lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ khi có tâm thức trở lại cho đến ngày nay, ở trong sáu đường, thọ thân bốn loài. Ở trong bốn loài ấy tạo ra vô lượng vô biên tội ác.

Những tội ác như vậy, chỉ có hết thảy chư Phật chư Đại Bồ tát trong mười phương mới thấy hết biết hết. Tội lượng nhiều ít hoặc khinh hoặc trọng như chư Phật và Bồ tát đã thấy đã biết. Ngày nay chí thành, cúi đầu đảnh lễ, hổ thẹn cầu xin sám hối.

Những tội đã làm, nguyện tiêu diệt hết, những tội chưa làm, không dám phạm.

Ngày nay chúng con nguyện xin hết thảy chư Phật trong mười phương dủ lòng đại từ cho đệ tử chúng con tên [Tên] thành tâm sám hối, nguyện xin đem nước đại bi rửa sạch tội lỗi sai lầm cho chúng con được hoàn toàn thanh tịnh, thẳng đến đạo tràng không bị chướng ngại nữa.

Lại nguyện xin hết thảy mười phương chư Phật dùng bất tư nghị lực, bổn thệ nguyện lực, độ thoát chúng sanh lực, phù hộ chúng sanh lực, khiến đệ tử tên [Tên] ngày nay khởi thệ nguyện, phát tâm Bồ đề.

Từ nay trở đi cho đến ngày thành Phật kiến lập đạo tâm được kiên cố, hoàn toàn không trở lại sa đọa nữa.

Những lời thệ nguyện của chúng con cũng đồng như lời thệ nguyện của chư Phật, chư Đại Bồ tát đã thật hành thệ nguyện. Nguyện xin hết thảy mười phương chư Phật, chư Đại Bồ tát đồng dủ lòng từ bi, đồng gia tâm nhiếp thọ cho chúng con tên [Tên] được như sở nguyện, mãn Bồ đề nguyện. Hết thảy chúng sanh cũng đều được như sở nguyện, mãn Bồ đề nguyện.

QUYỂN THỨ NHẤT

— HẾT —

Chú thích:

[1] Tăng thượng mạn: Chưa chứng quả Thánh mà lầm tưởng là đã chứng quả Thánh.

[2] Chỗ sở đắc: Chấp lấy chỗ mình đã chứng, đã ngộ, đã hiểu biết, đã làm xong.

[3] Tà kiến: Nhận thức sai lầm, ví dụ như không tin tội phước, không tin nhân quả, không tin luân hồi.

[4] Tiểu thừa: Cỗ xe nhỏ, ý chỉ giáo lý thấp kém, chỉ độ cho bản thân, chứng đến quả A La Hán là cùng.

[5] Đại thừa: Cỗ xe lớn, ý chỉ giáo lý cao siêu, trừ hết Ngã và Pháp, độ hết chúng sanh, chứng quả Phật.

[6] Sáu đường hay lục đạo: 1. Địa ngục, 2. Ngạ quỷ, 3. Súc sanh, 4. A tu la, 5. Người, 6. Trời.

[7] Tứ nhiếp pháp: Bốn phương pháp để thâu nhiếp chúng sanh: 1. Bố thí, 2. Ái ngữ, 3. Lợi hành, 4. Đồng sự.

[8] Tứ sanh: 4 loài chúng sanh.

[9] Bát bộ: Tám bộ chúng: 1. Thiên, 2. Long, 3. Dạ xoa, 4. Càn thát bà, 5. A tu la, 6. Ca lầu la, 7. Khẩn na la, 8. Ma hầu la dà. Tám bộ này thường ủng hộ Phật pháp.

[10] Vô minh: Không sáng, là gốc rễ của phiền não.

[11] Tu Đà La: Khế Kinh, lời Phật dạy hợp lý, hợp tình.

[12] Đại địa Bồ tát: Hàng Bồ tát đông vô số.

[13] Vô trước Tứ Sa môn: Các vị tu đã chứng quả A La Hán.

[14] Hết nghiệp Hữu lậu: Không còn nghiệp dẫn đến sanh tử.

[15] Cảm ứng tương sanh: Nhân quả tương tác, không ngừng nghỉ.

[16] Hạnh nghiệp: Nghiệp lành và nghiệp dữ đã tạo ra.

[17] Phấn tảo: Áo vá từ nhiều mảnh vải cũ.

[18] Tứ vô lượng tâm: Từ, bi, hỷ, xả.

[19] Lục Ba la mật: Sáu pháp tu để đến bờ giải thoát: 1. Bố thí, 2. Trì giới, 3. Nhẫn nhục, 4. Tinh tấn, 5. Thiền định, 6. Trí huệ.

[20] Tứ vô ngại trí: Bốn trí tuệ của Phật: Pháp vô ngại, Nghĩa vô ngại, Từ vô ngại, Lạc thuyết vô ngại.

[21] Lục thông: Sáu phép thần thông: 1. Thiên nhãn, 2. Thiên nhĩ, 3. Túc mạng, 4. Tha tâm, 5. Thần túc, 6. Lậu tận.

[22] Bốn thú: Bốn đường ác: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A tu la.

[23] Năm tội nghịch: Giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, phá hòa hợp Tăng, làm Phật ra máu.

[24] Bốn điên đảo: Chấp vô thường là thường, khổ là vui, vô ngã là ngã, bất tịnh là tịnh.

[25] 25 loài: Chỉ các cõi trong tam giới.

[26] Sáu thức: Sáu giác quan nhận thức.

[27] Sáu trần: Sáu cảnh giới đối với sáu thức.

[28] Người Vô lậu: Người đã chứng quả, không còn sanh tử.

[29] Pháp Vô lậu: Pháp thanh tịnh, giải thoát.

[30] Chấp đoạn: Quan niệm chết là hết.

[31] Chấp thường: Quan niệm tồn tại mãi mãi, không thay đổi.

[32] Trước ngã: Chấp vào cái tôi, cái ta.

[33] Trước kiến: Các quan điểm sai lầm.

[34] Tam độc: Tham, sân, si.

[35] Tứ thủ: Bốn loại chấp trước.

[36] Ngũ cái: Năm chướng ngại tâm.

[37] Lục thọ: Sáu sự cảm nhận.

[38] Thất lậu: Bảy loại rò rỉ phiền não.

[39] Bát cấu: Tám điều ô nhiễm.

[40] Cửu kiết: Chín sự trói buộc.

[41] Thập sử: Mười phiền não.

Những kiến thức sâu sắc về tâm linh và con đường giải thoát trong Kinh Lương Hoàng Sám chắc chắn sẽ mang lại nhiều lợi ích cho quý vị trên bước đường tu tập. Để tiếp tục hành trình khám phá kho tàng giáo lý Phật giáo phong phú, mời quý vị ghé thăm chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang