Tâm Kinh Bát Nhã: Thích Nhất Hạnh Dịch Lại Theo Cách Mới

thichnhathanh 333323285 1 1047 1
0
(0)

Nhằm làm sáng tỏ những tầng nghĩa sâu xa, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã diễn giải Kinh Bát Nhã Tâm theo một cách tiếp cận mới, vượt qua những giới hạn ngôn từ truyền thống. Qua đó, hy vọng mang đến sự thấu hiểu tinh tường về bản chất vạn pháp, hướng người đọc đến sự giải thoát an lạc. Tìm hiểu thêm về những lời dạy ý nghĩa tại chiasedaophat.com.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã có những chia sẻ sâu sắc về việc diễn giải lại Kinh Bát Nhã Tâm, một văn bản quan trọng trong Phật giáo. Theo ngài, cách dùng từ của các bậc tiền bối đôi khi chưa thật sự khéo léo, dẫn đến những cách hiểu sai lệch qua nhiều thế hệ. Ngài bày tỏ mong muốn làm rõ hơn ý nghĩa cốt lõi của kinh điển, đặc biệt là việc vượt thoát khỏi những khái niệm nhị nguyên như “có” và “không”, “sinh” và “diệt”.

Hòa thượng Thích Nhất Hạnh dịch lại Tâm Kinh Bát Nhã 1

Bản dịch Kinh Tâm mới cùng với những lời giải thích chi tiết của Thiền sư đã nhận được sự quan tâm lớn từ cộng đồng. Qua đó, Thiền sư mong muốn mang đến một góc nhìn mới mẻ và sâu sắc hơn về giáo lý Bát Nhã, giúp người đọc thấu hiểu trọn vẹn hơn về bản chất của vạn pháp.

Phân tích và Diễn giải Kinh Bát Nhã Tâm

Kính gửi các con,

Việc Thầy biên soạn lại Kinh Bát Nhã Tâm xuất phát từ mong muốn làm sáng tỏ những ý nghĩa sâu xa mà đôi khi bị che lấp bởi cách diễn đạt ngôn từ chưa thật sự tinh tế của các bậc tiền bối. Ngôn từ, dù là công cụ để truyền đạt chân lý, đôi khi cũng có thể trở thành rào cản nếu không được sử dụng một cách khéo léo, dẫn đến những hiểu lầm không đáng có.

Để minh họa cho điều này, Thầy xin chia sẻ hai câu chuyện:

1. Câu chuyện về vị Sa-di và Thiền sư

Một vị Sa-di đến gặp Thiền sư và trình bày hiểu biết của mình về Kinh Tâm: “Con hiểu rằng năm uẩn đều là không. Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có sáu thức, mười tám giới, mười hai nhân duyên, tuệ giác hay chứng đắc.”

Khi Thiền sư hỏi liệu con có tin vào lời kinh đó không, Sa-di khẳng định là có. Bấy giờ, Thiền sư gọi Sa-di lại gần, rồi dùng ngón tay nắm lấy mũi chú và vặn mạnh. Sa-di kêu lên đau đớn. Thiền sư hỏi: “Nếu con không có mũi, vậy cái gì đang đau?” Câu chuyện này cho thấy, việc chấp vào khái niệm “không” một cách máy móc có thể dẫn đến những mâu thuẫn trong trải nghiệm thực tế.

2. Câu chuyện về thầy Khất sĩ và Tuệ Trung Thượng Sĩ

Một vị khất sĩ đến hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ về câu “hình hài chính là cái không, cái không chính là hình hài”. Sau một hồi im lặng, Thượng Sĩ hỏi lại vị khất sĩ rằng: “Thầy có hình hài không?” và “Thầy có thấy trong cái không gian trống rỗng kia có hình hài không?”. Vị khất sĩ không trả lời được và định ra về, nhưng Thượng Sĩ đã gọi lại và đọc cho nghe bài kệ:

“Sắc tức thị không, không tức thị sắc,
Chư Bụt ba đời tạm thời bày đặt.
Không chẳng phải sắc, sắc chẳng phải không,
Thể tính sáng trong không hề còn mất.”

Qua câu chuyện này, có thể thấy Tuệ Trung Thượng Sĩ đã đưa ra một cách diễn giải khác, thậm chí đối lập với công thức “sắc tức thị không, không tức thị sắc” thường thấy trong kinh điển Bát Nhã. Tuy nhiên, Thầy nhận thấy rằng vấn đề cốt lõi không nằm ở chính công thức “sắc tức thị không”, mà ở cách diễn đạt “Thị cố không trung vô sắc” – nghĩa là trong cái không thì không có sắc. Cách diễn đạt này có thể khiến người đọc lầm tưởng rằng mọi thứ đều rơi vào phạm trù “vô”, thay vì hiểu đúng bản chất “không có tự tính riêng biệt”.

Thầy nhận thấy rằng, những câu như “không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt” trong Kinh Tâm là những lời dạy tuyệt hảo. Tuy nhiên, Thầy chỉ tiếc một điều là các vị tổ sư biên tập kinh điển đã không thêm vào bốn chữ “không có, không không” ngay sau bốn chữ “không sinh, không diệt”. Việc bổ sung này sẽ giúp người đọc thoát khỏi sự chấp trước vào ý niệm “có” và “không”, tránh rơi vào những hiểu lầm như trường hợp của chú Sa-di với cái mũi còn đỏ.

Vấn đề bắt nguồn từ câu kinh: “Này Śāriputra, vì thế mà trong cái không, không có hình hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức”. Điều này dường như mâu thuẫn với ý niệm “cái không chính là hình hài”. Cách diễn đạt này có nguy cơ đẩy vạn pháp vào phạm trù “vô”, trong khi thực tính của vạn pháp là phi hữu phi vô, phi sinh phi diệt. Chấp vào hữu là một biên kiến, chấp vào vô cũng là một biên kiến khác. Câu kệ “bản lai vô nhất vật” của Tổ Huệ Năng, dù có ý nghĩa sâu xa, cũng có thể bị hiểu lầm là rơi vào ý niệm “vô”.

Tuệ Giác Bát Nhã: Vượt Thoát Nhị Nguyên

Tuệ giác Bát Nhã là sự thấu suốt vượt lên trên mọi cặp đối lập như sinh diệt, có không, nhiễm tịnh, thêm bớt. Đó là sự tiếp xúc với thực tại bất sinh bất diệt, phi hữu phi vô, mang lại sự mát mẻ, lắng dịu, bình an và vô úy ngay trong đời sống hiện tại. Đó chính là Niết Bàn.

Tuệ giác Bát Nhã là sự thật tuyệt đối, là thắng nghĩa đế, vượt trên mọi sự thật ước lệ. Những đoạn kinh nếu không phản chiếu được tinh thần này thì vẫn còn nằm trong bình diện sự thật ước lệ.

Bản Dịch Mới và Ý Nghĩa Sâu Sắc

Trong bản dịch mới này, Thầy đã điều chỉnh cách dùng từ để phản ánh đúng hơn ý nghĩa nguyên gốc tiếng Phạn và bản dịch của Huyền Trang. Câu kinh được dịch lại là: “Chính vì vậy mà trong cái không, năm uẩn là hình hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức đều không có mặt như những thực tại riêng biệt”. Điều này nhấn mạnh rằng các pháp sinh khởi từ duyên khởi, không có tự tính riêng biệt. Tương tự, “cả tuệ giác và chứng đắc cũng không có mặt như những gì riêng biệt.”

Bốn chữ “không có, không không” đã được thêm vào sau “không sinh, không diệt”, nhằm giúp các thế hệ tương lai tránh được những hiểu lầm tương tự như trường hợp Sa-di. Bốn chữ này đại diện cho tuệ giác siêu việt, giúp thoát khỏi ý niệm hữu và vô.

Mục đích của Kinh Bát Nhã Tâm là giúp những người thuộc trường phái Duy Biệt Thực (Sarvāstivāda) buông bỏ chủ trương “ngã không pháp hữu”. Giáo lý Bát Nhã cốt lõi là xiển dương tuệ giác “ngã không” (ātma śūnyatā) và “pháp không” (dharma śūnyatā), chứ không phải “ngã vô” hay “pháp vô”. “Ngã không” có nghĩa là sự trống rỗng của tự tính ngã, không phải sự vắng mặt của ngã. Tương tự với “pháp không”.

Vào thời điểm ra đời, Kinh Bát Nhã Tâm có thể đã chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng Mật giáo, và phần cuối được trình bày như một linh chú. Việc sử dụng cụm từ “tuệ giác qua bờ” (pāragate) trong câu chú cũng mang ý nghĩa sâu sắc về sự vượt thoát đến bờ giác ngộ.

Thầy mong rằng các con sẽ thực hành và quán chiếu bản dịch mới này một cách tinh tấn. Bản dịch tiếng Anh cũng đã có, và thầy Pháp Linh đang phổ nhạc. Phiên bản mới này chắc chắn sẽ được đưa vào Nhật Tụng Thiền Môn.

Viết tại Viện Vô Ưu, Waldbröl, ngày 21 tháng 08 năm 2014.

Thầy của các con, thương và tin cậy.

Kinh văn Tâm Kinh mới bằng văn trường hàng:

Tâm kinh Tuệ Giác Qua Bờ

Bồ-tát Quán Tự Tại, khi thực hành sâu sắc với tuệ giác đưa đến bờ bên kia, bỗng nhiên nhận ra rằng cả năm uẩn đều trống rỗng, tất cả đều là cái không. Với nhận thức này, Ngài đã vượt qua mọi khổ đau.

“Này Śāriputra, thân này chính là tánh Không, và tánh Không chính là thân này. Thân này không khác gì tánh Không, và tánh Không cũng không khác gì thân này. Điều này cũng đúng với Thọ, Tưởng, Hành và Thức.

“Này Śāriputra, tất cả các pháp đều mang dấu ấn của tánh Không; bản chất chân thực của chúng là vô sinh bất diệt, vô hữu bất vô, vô nhiễm bất tịnh, vô tăng bất giảm.

“Vì vậy, trong tánh Không, Thân, Thọ, Tưởng, Hành và Thức không tồn tại như những thực thể riêng biệt. Mười tám lĩnh vực của các pháp – sáu căn, sáu trần và sáu thức – cũng không tồn tại như những thực thể riêng biệt. Mười hai nhân duyên và sự chấm dứt của chúng, Tứ Diệu Đế là Khổ, Tập, Diệt, Đạo, cùng với tuệ giác và sự chứng ngộ, cũng không tồn tại như những thực thể riêng biệt.

“Ai có thể thấy được điều này thì không còn cần phải đạt được điều gì nữa.

“Các vị Bồ-tát thực hành tuệ giác đưa đến bờ bên kia thấy tâm không còn chướng ngại, và vì tâm không còn chướng ngại nên các Ngài vượt qua mọi sợ hãi, phá tan mọi tà kiến và chứng ngộ Niết Bàn viên mãn.

“Tất cả chư Phật trong ba đời, nhờ thực hành tuệ giác đưa đến bờ bên kia, đều đạt được Giác Ngộ Chân Chính và Viên Mãn.

“Do đó, này thầy Śāriputra, cần phải biết rằng tuệ giác đưa đến bờ bên kia là một Đại Chân Ngôn, là chân ngôn sáng nhất, là chân ngôn tối thượng, là chân ngôn vô song, là trí tuệ chân thực có khả năng chấm dứt mọi khổ đau.

“Vì vậy, chúng ta hãy cùng tuyên đọc chân ngôn tán thán tuệ giác đưa đến bờ bên kia:

“Gate, gate, pāragate, pārasamgate, bodhi, svaha!”

Kinh văn Tâm Kinh mới bằng kệ tụng 5 chữ:

Avalokita

Khi quán chiếu sâu sắc

Với tuệ giác qua bờ,

Bỗng khám phá ra rằng:

Năm uẩn đều trống rỗng.

Giác ngộ được điều đó,

Bồ-tát vượt ra được

Mọi khổ đau ách nạn.(C)

Xem thêm: Giải mã hành trình niệm Phật: Thanh lọc tâm từ những băn khoăn

“Này Śāriputra,

Hình hài này là không,

Không là hình hài này;

Hình hài chẳng khác không,

Không chẳng khác hình hài.

Điều này cũng đúng với

Cảm thọ và tri giác,

Tâm hành và nhận thức. (C)

“Này Śāriputra,

Mọi hiện tượng đều không,

Không sinh cũng không diệt,

Không có cũng không không,

Không dơ cũng không sạch,

Không thêm cũng không bớt. (C)

“Cho nên trong cái không,

Năm uẩn đều không thể

Tự riêng mình có mặt.

Mười tám loại hiện tượng

Là sáu căn, sáu trần

Và sáu thức cũng thế;

Mười hai khoen nhân duyên

Và sự chấm dứt chúng

Cũng đều là như thế;

Khổ, tập, diệt và đạo

Tuệ giác và chứng đắc

Cũng đều là như thế. (C)

“Khi một vị bồ-tát

Nương tuệ giác qua bờ

Không thấy có sở đắc

Nên tâm hết chướng ngại.

Vì tâm hết chướng ngại

Nên không còn sợ hãi,

Đập tan mọi vọng tưởng,

Đạt niết-bàn tuyệt hảo. (C)

Chư Bụt trong ba đời

Nương tuệ giác qua bờ

Đều có thể thành tựu

Quả chánh giác toàn vẹn. (C)

“Vậy nên phải biết rằng

Phép tuệ giác qua bờ

Là một linh chú lớn,

Là linh chú sáng nhất,

Là linh chú cao tột,

Không có linh chú nào

Có thể so sánh được.

Là tuệ giác chân thực

Có khả năng diệt trừ

Tất cả mọi khổ nạn. (C)

Vậy ta hãy tuyên thuyết

Câu linh chú qua bờ:

“Gate, gate,

Tìm hiểu thêm: Lộ trình tâm linh: Tìm kiếm và học hỏi từ những bậc thầy thiện tri thức

pāragate,

pārasamgate,

bodhi, svaha!” (CC)

Kinh văn Tâm Kinh mới bằng Anh ngữ:

The Insight that Brings Us to the Other Shore

Avalokiteshvara

while practicing deeply with

the Insight that Brings Us to the Other Shore,

suddenly discovered that

all of the five Skandhas are equally empty,

and with this realisation

he overcame all Ill­being.

“Listen Shariputra,

this Body itself is Emptiness

and Emptiness itself is this Body.

This Body is not other than Emptiness

and Emptiness is not other than this Body.

The same is true of Feelings,

Perceptions, Mental Formations,

and Consciousness.

“Listen Sariputra,

all phenomena bear the mark of Emptiness;

their true nature is the nature of

no Birth no Death,

no Being no Non­being,

no Defilement no Immaculacy,

no Increasing no Decreasing.

“That is why in Emptiness,

Body, Feelings, Perceptions,

Mental Formations and Consciousness

Khám phá: Phóng sinh: Lòng tốt có thể thành tai họa nếu bạn không biết điều này

are not separate self entities.

The Eighteen Realms of Phenomena

which are the six Sense Organs,

the six Sense Objects,

and the six Consciousnesses

are also not separate self entities.

The Twelve Links of Interdependent Arising

and their Extinction

are also not separate self entities.

Ill­being, the Causes of Ill­being,

the End of Ill­being, the Path,

insight and attainment,

are also not separate self entities.

Whoever can see this

no longer needs anything to attain.

“Bodhisattvas who practice

the Insight that Brings Us to the Other Shore

see no more obstacles in their mind,

and because there are no more

obstacles in their mind,

they can overcome all fear,

destroy all wrong perceptions

and realize Perfect Nirvana.

“All Buddhas in the past, present and

future by practicing

the Insight that Brings Us to the Other Shore

are all capable of attaining

Authentic and Perfect Enlightenment.

“Therefore Sariputra,

it should be known that

the Insight that Brings Us to the Other Shore

is a Great Mantra,

the most illuminating mantra,

the highest mantra,

a mantra beyond compare,

the True Wisdom that has

the power

to put an end to all kind of

suffering.

Therefore let us proclaim

a mantra to praise

the Insight that Brings Us to the Other Shore:

Gate, Gate, Paragate, Parasamgate,

Bodhi Svaha!”

Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã mang đến một góc nhìn mới mẻ về Tâm Kinh Bát Nhã, giúp chúng ta vượt thoát khỏi những chấp niệm và thấu hiểu sâu sắc hơn về bản chất của vạn pháp, mời bạn khám phá thêm những nội dung ý nghĩa trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang