Tổ sư Minh Đăng Quang: Khám phá Di sản Vĩ đại

dsctsmdq 3 copy 0920 1
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Cuộc đời của Nguyễn Thành Đạt, từ thuở ấu thơ đến khi trở thành Tổ sư Minh Đăng Quang, là hành trình tìm cầu chân lý đầy gian nan. Sự vắng bóng ở tuổi 32 của Ngài đã để lại một di sản Phật giáo độc đáo, mở ra một hệ phái mới tại Việt Nam và lan tỏa khắp năm châu. Khám phá Chia sẻ Đạo Phật để hiểu thêm về con đường và giáo lý mà Ngài đã khai sáng.

Ở tuổi 32, Tổ sư Minh Đăng Quang đã vắng bóng, để lại một di sản Phật giáo độc đáo tại Việt Nam và được tôn vinh là người sáng lập hệ phái Khất sĩ.

Hệ phái Khất sĩ, khởi nguồn từ Việt Nam, đã phát triển nhanh chóng và hiện diện tại nhiều quốc gia trên thế giới. Hệ phái này nổi bật với những nét đặc trưng riêng về tổ chức, sinh hoạt giáo đoàn và kiến trúc.

Hoàn cảnh hình thành con người

Tổ sư Minh Đăng Quang, tên thật là Nguyễn Thành Đạt, sinh ngày 26 tháng 9 năm Quý Hợi (tức ngày 04 tháng 11 năm 1923) tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Ngài là con út trong một gia đình có năm người con. Mẹ ngài qua đời khi ngài mới 10 tháng tuổi.

Khi còn nhỏ, Nguyễn Thành Đạt được cha cho học chữ và tìm hiểu về tam giáo. Ngài nổi tiếng là người thông minh và chăm chỉ. Năm 15 tuổi, ngài xin phép cha lên đường tìm thầy học đạo. Trên hành trình, ngài đến Campuchia (Nam Vang) và gặp một vị sư người Khmer lai Việt. Tại đây, ngài đã được học Phật pháp và con đường y bát chân truyền của Đức Phật theo hệ phái Nam tông. Cuối năm 1941, Nguyễn Thành Đạt trở về Sài Gòn. Theo lời cha, ngài lập gia đình vào năm 1942. Không lâu sau đó, vợ và con nhỏ của ngài lần lượt qua đời vì bệnh tật.

Năm 1944, Nguyễn Thành Đạt xuất gia tu hành tại thị xã Vĩnh Long. Tuy nhiên, không lâu sau, tình hình địa phương trở nên bất ổn do quân Pháp đàn áp những người yêu nước, khiến đời sống tu hành không còn yên ổn. Nhà sư trẻ quyết định đến đảo Phú Quốc để tiếp tục tu tập. Trên đường đi, khi đến Hà Tiên, do lỡ chuyến tàu, ngài tạm trú tại Mũi Nai. Trong thời gian chờ đợi, ngài đã thiền định và chiêm nghiệm về vô thường, vô ngã, khổ, vui của cuộc đời, từ đó ngộ ra lý pháp “thuyền Bát-nhã”. Ngài quyết định quay về cứu độ chúng sinh. Sau khi báo tin cho gia đình, ngài trở lại ẩn tu tại vùng Thất Sơn (nay thuộc tỉnh An Giang) trong hai năm.

Năm 1946, ngài gặp một vị hiền sĩ, được thỉnh về làng Phú Mỹ, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho để tu tập và truyền bá Chánh pháp tại Linh Bửu tự. Năm 1947, nhà sư trẻ lấy pháp hiệu Minh Đăng Quang và bắt đầu công cuộc hành đạo, thu nhận đệ tử, xây dựng tịnh xá, thuyết pháp, phát triển Đạo Phật Khất sĩ. Ngài dẫn dắt đoàn Du Tăng Khất sĩ đi khắp các tỉnh miền Nam, vừa hoằng dương Phật pháp, vừa truyền bá pháp tu theo phương thức mới. Ngài chủ trương kết hợp có chọn lọc những giá trị từ hai truyền thống Phật giáo Thượng Tọa bộ (Nam tông) và Đại Chúng bộ (Bắc tông), đồng thời tiếp biến và dung hòa với văn hóa truyền thống Việt Nam. Từ đó, một nền Phật giáo dân tộc hiện đại mang tên “Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam” ra đời, với phương châm “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp”, giữ vững đường lối tu tập do Đức Phật đề ra, thực hành Giới – Định – Huệ. Ngài nhấn mạnh: “Người khất sĩ chỉ có ba pháp tu học vắn tắt là Giới – Định – Huệ”.

Vào ngày mùng 01 tháng 02 năm Giáp Ngọ (1954), Tổ sư Minh Đăng Quang thực hiện chuyến hoằng hóa từ Sa Đéc đến Cần Thơ. Sau ngày này, ngài không còn xuất hiện nữa, sự kiện này được các đệ tử gọi là “Đức Tổ sư vắng bóng”. Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng khi mới 32 tuổi, sau 10 năm xuất gia tu hành và hoằng hóa. Dù chỉ có 7 năm để phát triển tông phái và hoằng dương Phật pháp, ngài đã để lại những di sản vô cùng ý nghĩa cho Phật giáo và đất nước Việt Nam.

Di sản của Tổ sư Minh Đăng Quang 1

Tổ sư Minh Đăng Quang, thế danh là Nguyễn Thành Đạt, sinh ngày 26/9 Quý Hợi (04/11/1923) tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình (nay là huyện Tam Bình), tỉnh Vĩnh Long, là con út trong một gia đình có năm người con. Nguyễn Thành Đạt sinh ra được 10 tháng thì mẹ mất.

Di sản của Tổ sư Minh Đăng Quang

Giáo lý: Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tu học, ngài đã biên soạn bộ Chơn lý gồm 69 bài pháp luận giải, được viết bằng Quốc ngữ một cách dễ hiểu. Bộ Chơn lý là sự chắt lọc tinh hoa tư tưởng từ hai truyền thống Phật học Nam tông và Bắc tông, được trình bày bằng tiếng Việt. Vào thời điểm đó, kinh điển Phật pháp phổ biến ở Việt Nam là chữ Hán đối với Bắc tông và chữ Pāli đối với Nam tông. Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, việc một vị sư trẻ ngoài 20 tuổi, vừa hoằng pháp, thu nhận đệ tử, vừa xây dựng cơ sở Phật giáo mà lại có thể viết bộ Chơn lý bằng chữ Quốc ngữ, tóm lược được cả hai truyền thống Phật giáo Nam tông và Bắc tông, là một kỳ tích. Điều này thể hiện sâu sắc kiến thức và sự uyên bác của Tổ sư về triết lý Phật giáo của hai hệ phái, vốn phổ biến bằng chữ Hán và Pāli, để tạo ra một hướng đi mới, vừa giữ gìn truyền thống, vừa phù hợp với sự phát triển của xã hội. Tư duy và sự mạnh dạn này là điều hiếm thấy ở người bình thường.

Thu nhận đệ tử và phát triển Tăng đoàn Khất sĩ: Năm 1947, nhà sư Minh Đăng Quang đón nhận những đệ tử xuất gia đầu tiên, bao gồm bốn đệ tử nam, sáu đệ tử nữ và một chú tiểu khoảng 10 tuổi. Theo chỉ dạy của ngài, hội chúng đã tổ chức khóa an cư kiết hạ đầu tiên tại làng Phú Mỹ. Lúc bấy giờ, các đệ tử theo phái Khất sĩ gọi nhà sư Minh Đăng Quang là sư trưởng. Năm 1948, Sư trưởng Minh Đăng Quang cùng các đệ tử bắt đầu hành đạo đến Sài Gòn và các tỉnh miền Đông. Tại Sài Gòn, Tăng đoàn được dân chúng cảm mến đức hạnh, được mời an cư kiết hạ năm thứ hai tại chùa Kỳ Viên (Nam tông Kinh).

Từ đó, đoàn Du Tăng Khất sĩ ngày càng lớn mạnh cùng với công cuộc hoằng pháp tại nhiều địa phương. Trong dịp lễ Tự tứ năm 1953, sư trưởng đã giao trách nhiệm quản lý Tăng đoàn cho Trưởng lão Giác Chánh. Cuối năm đó, ngài bổ sung thêm Trưởng lão Giác Tánh và Trưởng lão Giác Như vào vai trò quản lý Tăng đoàn. Đến năm 1954, sư trưởng đã thu nhận hơn 100 Tăng, Ni và cảm hóa hàng vạn cư sĩ. Sau khi ngài vắng bóng vào năm 1954, hội chúng tiếp tục hành đạo theo đường lối đã định. Trong những năm tiếp theo, đoàn Du Tăng Khất sĩ do Trưởng lão Giác Chánh dẫn đầu đã tổ chức hai chuyến hoằng pháp ra miền Trung, đánh dấu sự lan tỏa của giáo pháp Khất sĩ đến vùng đất này.

Từ đó, các giáo đoàn bắt đầu hình thành. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, các đơn vị này được gọi là “đoàn” và gắn liền với pháp hiệu của Trưởng đoàn, chưa được gọi là “giáo đoàn” và quy định thứ tự theo số như hiện nay. Năm 1957, đoàn Trưởng lão Giác Tánh và Giác Tịnh, đoàn Trưởng lão Giác An lần lượt ra đời. Năm 1959, đoàn Trưởng lão Giác Nhiên hình thành. Năm 1960, đoàn Trưởng lão Giác Lý được thành lập.

Về tên gọi của tổ chức hệ phái, ban đầu, sư trưởng không chính thức công bố thành lập Giáo hội Tăng-già Khất sĩ về mặt hành chánh. Tuy nhiên, danh xưng này đã xuất hiện nhiều lần trong bộ Chơn lý, và trong các giấy tờ của Tăng Ni, danh xưng Giáo hội Tăng-già Khất sĩ đã có từ thời sư trưởng Minh Đăng Quang, dù chưa phải là một tổ chức có tư cách pháp nhân. Năm 1964, Trưởng lão Giác Nhiên cùng hai vị Trưởng lão Giác Nhu, Giác Tường đã vận động thành lập Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam, tổ chức này chính thức ra đời vào năm 1966. Bên cạnh đó, Trưởng lão Giác Huệ đã thành lập Giáo hội Khất sĩ Việt Nam vào năm 1962. Ni sư Huỳnh Liên đã dẫn dắt hội chúng Tỳ kheo-Ni từ năm 1947. Năm 1958, Giáo hội Ni giới Khất sĩ Việt Nam được thành lập. Hai tổ chức Giáo hội Khất sĩ Việt Nam và Giáo hội Ni giới Khất sĩ Việt Nam hoạt động độc lập.

Trước năm 1975, Phật giáo Khất sĩ tồn tại ba tổ chức giáo hội: Giáo hội Ni giới Khất sĩ Việt Nam, Giáo hội Khất sĩ Việt Nam và nòng cốt là Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam, với 5 giáo đoàn. Ngoài ra, một số vị xuất gia theo giáo pháp Khất sĩ sau đó đã tách ra tu tập riêng, rồi thu nhận đệ tử và hình thành các nhóm Khất sĩ lẻ tẻ.

Năm 1981, các đoàn thể Phật giáo Khất sĩ đã tham gia thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Kể từ đó, các tổ chức và nhóm Phật giáo Khất sĩ hợp nhất, gọi chung là hệ phái Khất sĩ, bên cạnh hai hệ phái chính là Bắc tông và Nam tông trong Phật giáo Việt Nam. Các tổ chức và nhóm trước đây được gọi theo số thứ tự, từ Giáo đoàn I đến Giáo đoàn VI. Đến nay, hệ phái Phật giáo Khất sĩ đã ổn định và phát triển trên tinh thần hòa hợp, đúng như lời Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, khi nào chúng Tỳ kheo tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỳ kheo, chúng Tỳ kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.”

Tìm hiểu thêm: Tư thế Niết Bàn Ajanta: Khi Ananda hé lộ bí mật về sự an nhiên tuyệt đối

Số lượng Tăng, Ni thuộc hệ phái Khất sĩ đã có sự phát triển nhanh chóng cả trong nước và quốc tế. Từ năm 1993, cả nước có 15.777 vị sư tham gia Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trong đó hệ phái Khất sĩ có 245 vị (chiếm 1,55%). Đến năm 2022, cả nước có 55.345 vị sư, hệ phái Khất sĩ có 5.178 vị (chiếm 9,35%), bao gồm hơn 1.400 chư Ni.

Xây dựng cơ sở tự viện: Năm 1948, sư trưởng đã kiến tạo ngôi tịnh xá đầu tiên là Tịnh xá Pháp Vân, tiếp đó là Tịnh xá Trúc Viên (sau đổi tên thành Ngọc Thuận), và Tịnh xá Ngọc Viên, cả ba đều tọa lạc tại tỉnh Vĩnh Long. Tịnh xá Ngọc Viên sau đó trở thành trung tâm hoằng pháp của Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam. Năm 1949, Đại lễ Tự tứ và lễ Vu-lan lần đầu tiên được tổ chức tại đây. Đến năm 1954, sư trưởng đã xây dựng hơn 20 ngôi tịnh xá. Nối tiếp truyền thống này, việc xây dựng cơ sở thờ tự của hệ phái Khất sĩ đã phát triển mạnh mẽ. Từ Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ III năm 1993, cả nước có 8.463 ngôi tự viện thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trong đó hệ phái Khất sĩ có 242 ngôi tịnh xá (chiếm 2,85%). Đến năm 2022, cả nước có 19.547 ngôi tự viện, hệ phái Khất sĩ có 557 tịnh xá (chiếm 2,84% cả nước).

Tuy nhiên, số lượng tự viện Phật giáo cả nước tăng do sự tham gia của nhiều địa phương hơn vào tổ chức GHPGVN, từ 28 tỉnh, thành lên 63 tỉnh, thành. Số lượng tự viện mới xây dựng không đáng kể so với số tịnh xá mới của hệ phái Khất sĩ. Riêng đối với Ni giới hệ phái Khất sĩ, năm 2022, số lượng cơ sở là trên 350 ngôi, bao gồm 225 tịnh xá, 10 tịnh thất, 23 chùa, 01 niệm Phật đường, 02 thiền viện, 26 cơ sở ở nước ngoài, và 90 cơ sở đang được xây dựng, trùng tu.

Đào tạo Tăng tài: Với truyền thống hiếu học được Tổ sư truyền lại và thực hiện lời dạy của Đức Phật “Duy tuệ thị nghiệp”, các bậc trưởng thượng trong hệ phái Khất sĩ đã tạo điều kiện và khuyến khích Tăng, Ni tích cực học tập, mở mang tri thức. Hệ phái Khất sĩ có tỷ lệ Tăng, Ni học sau đại học cao nhất trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hiện nay, có 58 vị Tăng, Ni trong hệ phái có bằng Tiến sĩ. Riêng với Ni giới hệ phái Khất sĩ (năm 2022), có 02 Hậu tiến sĩ; 31 Tiến sĩ Phật học, Triết học, Văn học Phật giáo; 01 Bác sĩ – Tiến sĩ Y khoa (Ni sư Liên Thanh); 15 Thạc sĩ. Hiện có 15 vị đang học Tiến sĩ, 18 vị đang học Thạc sĩ. Hơn 30 vị Ni tham gia vào bộ máy các cấp hoặc giảng dạy tại các trường thuộc hệ thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Đặc trưng độc đáo của hệ phái Khất sĩ: Trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, Phật giáo Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là việc tiếp cận kinh điển bằng chữ Hán và Pāli không dễ dàng đối với đại chúng. Nhà sư Minh Đăng Quang, dù tuổi đời còn trẻ, đã thể hiện sự sáng tạo lớn khi Việt hóa, đơn giản hóa nội dung kinh điển. Ngài lấy tôn chỉ “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp”, xây dựng Tăng đoàn theo mô hình thời Đức Phật, đề cao hạnh “Khất sĩ”: tu hành nghĩa lý qua kinh điển, sống giản dị với ba y một bát, không tài sản, khất thực độ đời, dùng đức độ cảm hóa quần chúng. Nhờ những ưu điểm này, Phật giáo Khất sĩ đã tiếp cận quần chúng một cách rộng rãi và phát triển nhanh chóng.

Hệ phái Khất sĩ Việt Nam là sự kết hợp giữa truyền thống Phật giáo Nam tông và Bắc tông về giáo pháp và giới luật.

Về giáo pháp: Hệ phái Khất sĩ chọn lọc tư tưởng từ Phật giáo Bắc truyền và Nam truyền. Tư tưởng Đại thừa được tiếp nhận và giải thích qua lăng kính tư tưởng Nguyên thủy, tạo nên sự độc đáo và sâu sắc cho tư tưởng của Phật giáo Khất sĩ.

Về giới luật: Giới luật được đề cao và thực hành một cách nghiêm túc. Phật giáo Khất sĩ sử dụng Giới bổn của bộ phái Dharmaguptaka, cũng là bộ giới luật được Phật giáo Đại thừa Việt Nam hành trì. Ngoài ra, Phật giáo Khất sĩ còn có thêm những quy định riêng biệt. “Phật là giác chơn, là cái biết thật tự nhiên, là nghĩa lý của tiếng Phật, mục đích của cái biết nơi mình, chớ không phải mê tín mờ quáng, mà tự trói mình trong chữ Phật, tiếng đạo, hay tông giáo riêng biệt!”

Di sản của Tổ sư Minh Đăng Quang 2

Tổ sư Minh Đăng Quang là người sáng lập ra hệ phái Phật giáo Khất sĩ, một hệ phái Phật giáo khởi nguồn từ Việt Nam. Hệ phái Khất sĩ phát triển khá nhanh và hiện nay đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới với những hoạt động mang nhiều nét đặc trưng về tổ chức hoạt động, sinh hoạt giáo đoàn, kiến trúc,…

Hệ phái Khất sĩ đề cao Tứ y pháp: (1) Người tu xuất gia chỉ ăn đồ khất thực, nhưng được phép ăn tại chùa trong ngày thuyết pháp. (2) Người tu xuất gia phải tự may áo từ những mảnh vải bỏ, nhưng được phép nhận vải hoặc đồ cũ nếu có người cúng dường. (3) Người tu xuất gia thường nghỉ dưới gốc cây, nhưng được phép ở trong lều hoặc am nhỏ bằng lá có một cửa nếu có người cúng dường. (4) Người tu xuất gia chỉ dùng phân bò làm thuốc khi đau bệnh, nhưng được phép dùng thuốc, dầu, đường nếu có người cúng dường.

Cùng với việc đề cao giáo pháp và giới luật, Tổ sư Minh Đăng Quang chủ trương xây dựng hệ phái Khất sĩ mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, giảm thiểu ảnh hưởng từ văn hóa các quốc gia lân cận. Để thực hiện điều này, Tổ sư Minh Đăng Quang đã định hình một nếp sống văn hóa đặc thù cho hệ phái Khất sĩ, đó là sự giản dị và gần gũi, thể hiện qua kiến trúc tịnh xá bát giác, đơn giản hóa nghi lễ, đọc tụng kinh kệ bằng tiếng Việt, và bài trừ mê tín dị đoan.

Sự ra đời của Phật giáo Khất sĩ là một đóng góp quan trọng vào công cuộc chấn hưng Phật giáo tại Việt Nam. Việc dung hợp Phật giáo Bắc tông và Nam tông vào thời điểm đó là một xu hướng mới, nhưng rõ ràng là một lựa chọn đúng đắn, phù hợp với nhu cầu của xã hội. Với sự đơn giản và rõ ràng, Phật giáo Khất sĩ đã phát triển nhanh chóng trên nhiều phương diện. Phật giáo Khất sĩ có hình thức đơn giản nhưng nội dung chặt chẽ, giới luật trang nghiêm. Đây chính là di sản vô cùng quý giá mà Tổ sư Minh Đăng Quang để lại cho Phật giáo, đồng thời cũng lý giải vì sao hệ phái Khất sĩ không ngừng phát triển cả trong và ngoài nước về số lượng Tăng, Ni, cơ sở tự viện, đặc biệt là đội ngũ Tăng, Ni trí thức có uy tín cao.

Khám phá: Bí ẩn Lục Đạo Luân Hồi: Khám phá 6 Cõi Vận Mệnh Đầy Kịch Tính của Linh Hồn

Hệ phái Khất sĩ đề cao Tứ y pháp:

(1) Người tu xuất gia chỉ ăn đồ khất thực, nhưng được phép ăn tại chùa trong ngày thuyết pháp.

(2) Người tu xuất gia phải tự may áo từ những mảnh vải bỏ, nhưng được phép nhận vải hoặc đồ cũ nếu có người cúng dường.

(3) Người tu xuất gia thường nghỉ dưới gốc cây, nhưng được phép ở trong lều hoặc am nhỏ bằng lá có một cửa nếu có người cúng dường.

(4) Người tu xuất gia chỉ dùng phân bò làm thuốc khi đau bệnh, nhưng được phép dùng thuốc, dầu, đường nếu có người cúng dường.

Cùng với việc đề cao giáo pháp và giới luật, Tổ sư Minh Đăng Quang chủ trương xây dựng hệ phái Khất sĩ mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, giảm thiểu ảnh hưởng từ văn hóa các quốc gia lân cận. Để thực hiện điều này, Tổ sư Minh Đăng Quang đã định hình một nếp sống văn hóa đặc thù cho hệ phái Khất sĩ, đó là sự giản dị và gần gũi, thể hiện qua kiến trúc tịnh xá bát giác, đơn giản hóa nghi lễ, đọc tụng kinh kệ bằng tiếng Việt, và bài trừ mê tín dị đoan.

Sự ra đời của Phật giáo Khất sĩ là một đóng góp quan trọng vào công cuộc chấn hưng Phật giáo tại Việt Nam. Việc dung hợp Phật giáo Bắc tông và Nam tông vào thời điểm đó là một xu hướng mới, nhưng rõ ràng là một lựa chọn đúng đắn, phù hợp với nhu cầu của xã hội. Với sự đơn giản và rõ ràng, Phật giáo Khất sĩ đã phát triển nhanh chóng trên nhiều phương diện. Phật giáo Khất sĩ có hình thức đơn giản nhưng nội dung chặt chẽ, giới luật trang nghiêm. Đây chính là di sản vô cùng quý giá mà Tổ sư Minh Đăng Quang để lại cho Phật giáo, đồng thời cũng lý giải vì sao hệ phái Khất sĩ không ngừng phát triển cả trong và ngoài nước về số lượng Tăng, Ni, cơ sở tự viện, đặc biệt là đội ngũ Tăng, Ni trí thức có uy tín cao về mọi mặt.

Chú thích:

[*] Nguyên Vụ trưởng Vụ Phật giáo (Ban Tôn giáo Chính phủ), Giảng viên cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

[1] Thích Giác Toàn (2015), “Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam: Ánh đạo vàng lan tỏa”, trong Nhiều tác giả, Phật giáo vùng Mê-kông: Ý thức môi trường và toàn cầu hóa, TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr.88.

[2] Hành Vân (2016), “Cần có một tiểu sử hoàn chỉnh về đức Tổ sư Minh Đăng Quang”, HT.TS. Thích Trí Quảng, HT.TS. Thích Giác Toàn, TS. Nguyễn Quốc Tuấn (chủ biên), Kỷ yếu hội thảo Hệ phái Khất sĩ: Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập, Hà Nội: Nxb. Hồng Đức, tr.97.

[3] Kinh Trường bộ, “Kinh Đại Bát-niết-bàn”, HT. Thích Minh Châu (dịch), https://suttacentral.net/dn16/vi/minh_chau?lang=en&reference=none&highlight=false, (truy cập ngày 13/10/2023).

[4] Tổng hợp Kỷ yếu Đại hội Phật giáo toàn quốc từ năm 1993-2022.

[5] Sđd.

[6] Theo tư liệu báo cáo hằng năm của TT. Giác Hoàng, Chánh Thư ký hệ phái Phật giáo Khất sĩ.

[7] NS. Tuệ Liên (2022), “Ni trưởng Huỳnh Liên – Công hạnh và đạo nghiệp với sự hình thành và phát triển Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam”, Hội thảo khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên: Những đóng góp cho Đạo pháp – Dân tộc và các giá trị kế thừa (Sách in phục vụ hội thảo, chưa xuất bản).

Xem thêm: Tổ Thương Na Hòa Tu: Dấu Ấn Thiền Ấn Độ Trước Kỷ Nguyên Đạt Ma

[8] Tổ sư Minh Đăng Quang (2016), Chơn lý, TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr.733.

[9] Sđd, tr.272.

Tài liệu tham khảo:

1. Kinh Trường bộ (2013), HT. Thích Minh Châu (dịch), https://suttacentral.net/dn16/vi/minh_chau?lang=en&reference=none&highlight=false (truy cập ngày 13/8/2023).

2. Tổ sư Minh Đăng Quang (2016), Chơn lý, TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Tổng hợp TP. HCM.

3. Thích Giác Toàn (2015), “Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam: Ánh đạo vàng lan tỏa”, trong Nhiều tác giả, Phật giáo vùng Mê-kông: Ý thức môi trường và toàn cầu hóa, TP HCM: Nxb. Đại học Quốc gia TP HCM.

4. Tỳ kheo Thích Đồng Bổn (chủ biên) (2016), Tiểu sử danh Tăng Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Tôn giáo.

5. Kỷ yếu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam qua các kỳ Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc, từ năm 1993-2022.

6. Ban Tôn giáo Chính phủ (2017), Niên giám chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo là đại biểu Quốc hội từ khóa I – khóa XIV, Hà Nội: Nxb. Tôn giáo.

7. NS. Tuệ Liên (2022), “Ni trưởng Huỳnh Liên – Công hạnh và đạo nghiệp với sự hình thành và phát triển Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam”, Hội thảo khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên: Những đóng góp cho Đạo pháp – Dân tộc và các giá trị kế thừa”.

Nguồn: Tạp chí Văn hoá Phật giáo

Hy vọng qua bài viết này, quý bạn đọc đã có cái nhìn sâu sắc hơn về Tổ sư Minh Đăng Quang và di sản vĩ đại mà Ngài để lại. Để tiếp tục hành trình tìm hiểu về các giá trị tinh thần, mời bạn khám phá thêm nhiều nội dung ý nghĩa trong chuyên mục Đạo Phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang