Tôn giả Thương Na Hòa Tu: Vị Tổ Thiền Tông Đời Thứ 3

anh hrwy thumb 1342 1
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Hành trình của Thiền tông, khởi nguồn từ Đức Phật Thích Ca, lan tỏa qua nhiều thế hệ Tổ sư, đã đặt nền móng vững chắc tại Trung Quốc dưới sự tiếp nối của Bồ Đề Đạt Ma. Ngay tại Ấn Độ, trước đó, đã xuất hiện những bậc thầy vĩ đại, trong đó có Tôn giả Thương Na Hòa Tu, một nhân vật huyền bí với sự kiện giáng trần đặc biệt, báo hiệu một tương lai tâm linh rạng rỡ, mời bạn khám phá thêm trên Chiasedaophat.

Khương Tăng Hội: Người Khai Sáng Thiền Tông Việt Nam

Hành trình truyền thừa Thiền tông bắt đầu từ Đức Phật Thích Ca, qua 28 vị Tổ sư Ấn Độ, đến Bồ Đề Đạt Ma – vị Tổ đầu tiên của Thiền Trung Quốc. Câu chuyện về các bậc thầy này là minh chứng cho sự phát triển và lan tỏa của giáo lý Thiền.

Tôn giả Thương Na Hòa Tu – Vị Tổ thứ ba của Thiền tông Ấn Độ

Tôn giả Thương Na Hòa Tu, thuộc dòng Tỳ Xá Đa, sinh ra tại nước Ma Đột La. Cha Ngài tên Lâm Thắng, mẹ là Kiều Xa Da. Truyền thuyết kể rằng, Ngài an trú trong thai mẹ suốt sáu năm trước khi chào đời. Sự kiện này trùng hợp với sự nở rộ của loài cỏ Thương Nặc Ca ở Ấn Độ, vốn được xem là điềm báo cho sự ra đời của một bậc thánh nhân. Chính vì vậy, cha mẹ Ngài đã đặt tên Ngài là Thương Na Hòa Tu.

Tôn giả Thương Na Hòa Tu, vị Tổ thứ ba của Thiền tông Ấn Độ

Theo sách Phật Tổ Thống Ký, Tôn giả Thương Na Hòa Tu từng là một trưởng giả tại thành Vương Xá. Trong một kiếp quá khứ, khi còn là một thương gia, Ngài đã gặp một vị Bích Chi Phật đang lâm bệnh nặng. Bằng lòng từ bi, Ngài đã tận tình kiếm thuốc thang chữa trị. Thấy y phục của vị Bích Chi Phật đã sờn rách, Ngài liền dâng cúng một chiếc áo mới. Vị Bích Chi Phật cảm động nói rằng: “Đó là áo Thương Na, mặc áo đó sẽ thành đạo, nay ta lại mặc áo đó để nhập Niết Bàn”. Nói rồi, vị Bích Chi Phật bay lên không trung, thực hiện mười tám phép biến hóa rồi an nhiên nhập Niết Bàn.

Vị thương gia vô cùng xót xa. Ngài đã dùng gỗ thơm để hỏa táng xá lợi và xây tháp cúng dường. Trong khoảnh khắc đó, Ngài phát nguyện rằng: “Nguyện đời sau, con sẽ có công đức, oai nghi và y phục giống hệt như vậy”. Nhờ nguyện lực này, trong suốt năm trăm kiếp luân hồi, Ngài luôn mang trên mình một chiếc áo đặc biệt. Đến kiếp cuối cùng, chiếc áo ấy lại từ trong thai mẹ Ngài mà ra đời. Khi Ngài lớn lên, chiếc áo cũng lớn theo. Khi xuất gia, đó là y phục của người tu hành, và khi thọ đại giới, nó biến thành chiếc áo “chín mảnh” hay còn gọi là cửu điều y. Đó chính là nguồn gốc của danh xưng Thương Na Hòa Tu.

Khi viên tịch, Tôn giả Thương Na Hòa Tu đã để lại chiếc áo cà sa này, dặn dò đệ tử rằng chỉ khi Phật pháp suy tàn thì chiếc áo mới hoại diệt. Ngày nay, chiếc áo ấy không còn nữa. Tương truyền, Ngài là đệ tử của Tôn giả A Nan Đà, đã chứng quả A La Hán. Ngài được các bậc tăng sĩ thuộc cả hai bộ phái Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ kính trọng tôn xưng là Đại sư Phật giáo sơ kỳ. Khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc thời nhà Hán, Ngài được tôn là vị Tổ thứ tư của Phật giáo Trung Quốc và là vị Tổ thứ ba của dòng Thiền tông Ấn Độ.

Khám phá: Trứng gà công nghiệp: Người ăn chay có "ăn" được?

Hành trình truyền thừa Thiền tông qua các Tổ sư

Theo truyền thuyết, 28 vị Tổ sư Ấn Độ kế thừa nhau sau Phật Thích Ca để truyền bá Thiền tông và Bồ Đề Đạt Ma, vị Tổ thứ 28 được xem là Tổ thứ nhất của Thiền Trung Quốc sau nối tiếp truyền cho 5 người.

Bồ Đề Đạt Ma và Giá trị Vượt Thời Gian của Thiền Tông

Ban đầu, Tôn giả xuất gia tu theo đạo tiên tại núi Tuyết. Nhờ tu tập pháp tiên, Ngài đạt được thần thông. Sau đó, Ngài gặp Tổ A Nan Đà và quay về chánh pháp. Thấy Ngài đã thấu suốt diệu tâm, Tổ A Nan Đà đã truyền pháp cho Ngài.

Tổ A Nan Đà dặn dò: “Xưa Đức Như Lai đem đại pháp nhãn trao cho Ngài Ca Diếp, Ngài Ca Diếp trao lại cho ta. Nay ta sắp nhập Niết Bàn, trao lại cho ngươi. Ngươi phải gìn giữ cẩn thận, không để dứt đoạn”. Sau khi đắc pháp nơi Tổ A Nan Đà, Ngài đến khu rừng Ưu Lưu Trà, xây dựng tịnh xá và hoằng hóa Phật pháp, khiến giáo lý ngày càng hưng thịnh.

Trong thời gian hoằng hóa, Ngài đến khu rừng Ưu Lưu Trà thuộc nước Ma Đột La, nơi có hai con rồng lửa chiếm cứ, gây khó khăn cho việc xây dựng chùa chiền và hoằng pháp. Tôn giả đã hàng phục được chúng, cho chúng quy y Phật pháp. Tại đây, Ngài đã dựng lên một ngôi tịnh xá. Sau khi chứng ngộ quả pháp, Ngài đi giáo hóa chúng sanh và gặp Ưu Ba Cúc Đa, nhận Ngài làm thị giả và cho xuống tóc xuất gia.

Một lần, Ngài hỏi Ưu Ba Cúc Đa về tuổi tác và tâm tính. Ưu Ba Cúc Đa đáp: “Thân con 17 tuổi nhưng tính tình không như 17 đâu”. Lời đối đáp này hàm chứa ý nghĩa sâu sắc về sự tương quan giữa hiện tượng và bản chất, một khía cạnh triết học quan trọng trong Phật giáo.

Sau khi dặn dò Ưu Ba Cúc Đa không được sao nhãng việc đạo pháp, Ngài lui về núi ẩn tu, nhưng vẫn thường xuyên theo dõi và nhắc nhở qua thiền định. Khi các tăng chúng chứng quả A La Hán, Tôn giả Thương Na Hòa Tu thực hiện 18 phép biến hóa rồi tự thiêu trong lửa Tam Muội, xá lợi của Ngài được nhập tháp.

Tìm hiểu thêm: Phật Địa Tạng: Trí Tuệ Vô Lượng, Lực Thiêng Cầu Siêu

Tôn giả Thương Na Hòa Tu và con đường giác ngộ Thiền tông

Tổ thứ ba là Tôn giả Thương Na Hòa Tu, Ngài dòng Tỳ Xá Đa nước Ma Đột La, cha tên Lâm Thắng, mẹ là Kiều Xa Da. Ảnh minh họa.

Hành Trình Giác Ngộ Bí Mật Thiền Tông

Do tu theo đạo tiên từ trước, Ngài sở hữu thần thông. Khi gặp Tổ A Nan Đà, Ngài được hỏi: “Ông tu có thần thông để làm gì?”. Ngài kiêu hãnh đáp: “Tôi tu có thần thông để thiên hạ kính nể”. Tổ A Nan Đà tiếp tục hỏi: “Thiên hạ kính nể để được cái gì?”. Nghe câu hỏi thứ hai, Ngài nhận ra sự chấp trước vào danh vọng, bèn hạ giọng thưa:

“Vậy Ngài tu theo đạo Phật để được cái gì?”

Tổ A Nan Đà đáp: “Ta tu theo đạo Phật không được cái gì cả, mà chỉ để trở về quê hương chân thật của mình thôi.”

Nghe Tổ nói không được gì, Ngài xin Tổ giải thích rõ chỗ được và không được để Ngài tường tỏ.

Tổ A Nan Đà nói bài kệ:

Xem thêm: Nhân Quả: Bí Mật Định Hình Cuộc Đời Bạn Qua Từng Hành Động

“Nơi thế gian vật lý này
Tu hành mà được điều này, điều kia;
Tu theo vật lý phân chia
Chiều Dương vui sướng, chiều Âm lại về.
Thần thông thuộc về chiều Âm
Ông tu mà được, thần thông của mình;
Chính là còn luân chuyển tử sanh
Luân hồi sinh tử, đua tranh làm chi?
Tâm mình thanh tịnh, hằng tri
Luân hồi sinh tử, đâu làm gì được mình;
Thiền Thanh Phật dạy rất linh
Không cần khổ sở, ta về quê nhà.
Quê xưa chỉ một đường về
Niết Bàn thanh tịnh, không hề dụng công;
Thiền tông phổ khắp núi sông
Nhiều người giác ngộ, thong dong nhẹ nhàng.
Thiền tông Phật dạy không ham
Ai mà nhận được, những điều Thiền tông;
Vị đó là người có công
Dẫn mạch nguồn thiền, của Phật Thích Ca.
Nếu ông đã nhận ra
Niết Bàn thanh tịnh, Thích Ca lưu truyền;
Tức ông là người đủ duyên
Sẽ được truyền thiền, làm Tổ tiếp theo.”

Ý nghĩa của Thiền tông trong đời sống tâm linh

Theo lời ghi trong Huyền Ký của Như Lai, khi Như Lai diệt độ 100 năm, ở vùng này có người tên là Thương Na Hòa Tu nối tiếp ta làm Tổ sư Thiền tông đời thứ 3. Ảnh minh họa.

Sau khi nghe bài kệ của Tổ A Nan Đà, Ngài liền giác ngộ yếu chỉ Thiền tông và trình bày bài kệ của mình:

“Cực khổ dụng công thiền
Để tìm điều linh thiêng;
Linh thiêng là hư ảo
Hư ảo là luân hồi.
Luân hồi là đường khổ
Đường khổ mãi trầm luân;
Thầy dạy con chỉ “Dừng”
Lìa ngay đường đau khổ.
Tự nhiên hết trầm luân
Vừa nghe qua con mừng;
Mừng vì biết đường khổ
Xin lạy thầy cám ơn.
Không biết chi đáp đền
Kính xin Thầy chấp nhận;
Đệ tử nghe theo Thầy
Nối tiếp pháp Thiền tông.
Phổ đi khắp núi sông
Của Thích Ca đã dạy;
Hiện tại cám ơn Thầy
Ngày xưa Đức Phật dạy.
Xin lạy về núi Linh Sơn
Kính nguyện ơn trên Phật;
Con xin chuyển pháp Ngài
Thường còn nơi thế gian.
Muôn người được bình an
Và biết đường giải thoát;
Kính xin thầy chứng lòng.”

– Na Hòa Tu kính lạy.

Nghe xong, Tổ A Nan Đà biết Thương Na Hòa Tu đã thấu suốt bí mật Thiền tông và dạy rằng: “Dù thời gian ông tiếp xúc với ta rất ngắn, nhưng ông đã giác ngộ yếu chỉ Thiền tông và đạt được bí mật Thiền tông. Theo nguyên tắc, ta sẽ truyền Thiền tông cho ông làm Tổ sư đời thứ 3.”

Tuy nhiên, theo lời ghi trong Huyền Ký của Như Lai, vào 100 năm sau khi Như Lai diệt độ, tại vùng này sẽ có người tên là Thương Na Hòa Tu kế thừa làm Tổ sư Thiền tông đời thứ 3. Do đó, Ngài phải đợi thêm 20 năm nữa. Đúng 20 năm sau, vào ngày kỷ niệm 100 năm Đức Như Lai diệt độ, Tổ A Nan Đà đã cử hành lễ truyền Bí mật Thiền tông cho ông Thương Na Hòa Tu dưới gốc cây cổ thụ. Buổi lễ tuy đơn sơ nhưng trang nghiêm và đúng theo lời dạy của Đức Phật.

Để hiểu sâu hơn về hành trình lan tỏa và những câu chuyện ý nghĩa của giáo lý Thiền tông, mời quý vị độc giả khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang