Phẩm “Phát Đại Thệ Nguyện” mang tầm quan trọng như mạch nguồn của toàn bộ giáo lý, nơi Đức Phật A Di Đà tự mình khai thị. Trong kinh “Phật Thuyết Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác”, Đức Phật Thích Ca đã kiến tạo nên bức tranh Tây Phương Cực Lạc, hé lộ sức mạnh nguyện lực của Ngài và mối liên kết sâu sắc với chúng ta tại cõi Ta Bà. Giữa dòng chảy của thời mạt pháp, khi chỉ còn Kinh Vô Lượng Thọ là ngọn đèn soi đường thêm một thế kỷ, việc chiêm nghiệm những lời dạy quý báu này, đặc biệt là Phẩm 6, trở nên vô cùng thiết yếu cho hành trình tìm cầu giải thoát. Với những ai có ít thời gian, việc tiếp cận giáo pháp có thể trở nên thuận tiện hơn, như lời khuyên từ Chia sẻ Đạo Phật về cách bố trí thời gian tu tập hợp lý, dẫn lối đến sự giác ngộ và an lạc.
Phẩm “Phát Đại Thệ Nguyện” là trung tâm của toàn bộ kinh điển, đóng vai trò then chốt, được chính Đức Phật A Di Đà tuyên thuyết.
Trong bộ kinh “Phật Thuyết Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác”, Đức Phật Thích Ca đã mô tả chi tiết cảnh giới Tây Phương Cực Lạc, đồng thời giới thiệu về nguyện lực của Đức Phật A Di Đà và mối liên hệ mật thiết giữa chúng sanh cõi Ta Bà với Ngài.
Trong pháp hội Vô Lượng Thọ, Đức Phật Thích Ca cũng khẳng định rằng, đối với chúng sanh ở các thời kỳ xa Phật, ngoài pháp môn niệm Phật, không có pháp môn nào có hiệu năng cứu giúp chúng sanh thoát khỏi luân hồi sinh tử bằng pháp môn Tịnh Độ. Khi Phật pháp trên thế gian dần suy tàn, chỉ còn duy nhất kinh Vô Lượng Thọ tồn tại thêm 100 năm nữa trước khi mạt pháp kết thúc. Do đó, người tu hành nếu không đọc, không tin lời Phật dạy trong kinh Vô Lượng Thọ sẽ rất khó đạt được giác ngộ và giải thoát.
Theo kinh nghiệm tu tập, đối với những Phật tử có thời gian hạn hẹp, việc tụng trọn bộ Kinh Vô Lượng Thọ dài hơn 2 giờ có thể được chia nhỏ. Một phương pháp phổ biến là tụng Phẩm thứ 6 (Phát đại thệ nguyện) vào buổi sáng và từ phẩm thứ 32 đến phẩm thứ 37 vào buổi tối để đạt được sự viên mãn.
Dưới đây là hướng dẫn chi tiết về nghi thức công phu sáng tụng Kinh Vô Lượng Thọ phẩm thứ 6, cùng các phẩm liên quan, để quý Phật tử tham khảo.
Nghi thức tụng Kinh Vô Lượng Thọ từ phẩm thứ 32 đến phẩm thứ 37
Ảnh minh họa.
1. Nguyện Hương
Nguyện mây hương mầu này,
Khắp cùng mười phương cõi,
Cúng dường tất cả Phật,
Tôn pháp, các Bồ Tát,
Vô biên chúng Thanh Văn,
Và cả thảy Thánh Hiền.
Duyên khởi đài sáng chói,
Trùm đến vô biên cõi,
Khắp xông các chúng sanh,
Đều phát lòng bồ đề,
Hết một báo thân này,
Sanh về cõi Cực Lạc.
Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)
2. Tán thán Phật
Sắc thân Như Lai đẹp,
Trong đời không ai bằng,
Không sánh, chẳng nghĩ bàn,
Nên con nay đảnh lễ.
Sắc thân Phật vô tận,
Trí tuệ Phật cũng thế,
Tất cả pháp thường trú,
Cho nên con về nương.
Sức trí lớn, nguyện lớn,
Khắp độ chúng quần sanh,
Khiến bỏ thân nóng khổ,
Sanh nơi nước mát vui.
Con nay sạch ba nghiệp,
Quy y và lễ tán,
Nguyện cùng các chúng sanh,
Đồng sanh nước Cực Lạc.
3. Nhất Tâm Đảnh Lễ
Nam Mô Thường Tịch Quang Tịnh Độ A Di Đà Như Lai,
Pháp Thân Mầu Thanh Tịnh,
Khắp Pháp Giới Chư Phật.
(lạy 1 lạy)
Nam Mô Thật Báo Trang Nghiêm Độ A Di Đà Như Lai,
Thân Tướng Hải Vi Trần,
Khắp Pháp Giới Chư Phật.
(lạy 1 lạy)
Nam Mô Phương Tiện Thánh Cư Độ A Di Đà Như Lai,
Thân Trang Nghiêm Giải Thoát,
Khắp Pháp Giới Chư Phật.
(lạy 1 lạy)
Nam Mô Cõi An Lạc Phương Tây A Di Đà Như Lai,
Thân Căn Giới Đại Thừa,
Khắp Pháp Giới Chư Phật.
(lạy 1 lạy)
Nam Mô Cõi An Lạc Phương Tây A Di Đà Như Lai,
Thân Hóa Đến Mười Phương,
Khắp Pháp Giới Chư Phật.
(lạy 1 lạy)
Nam Mô Cõi An Lạc Phương Tây,
Giáo Hạnh Lý Ba Kinh,
Tột Nói Bày Y Chánh,
Khắp Pháp Giới Tôn Pháp.
(lạy 1 lạy)
Nam Mô Cõi An Lạc Phương Tây,
Quán Thế Âm Bồ Tát,
Thân Tử Kim Muôn Ức,
Khắp Pháp Giới Bồ Tát.
(lạy 1 lạy)
Nam Mô Cõi An Lạc Phương Tây,
Đại Thế Chí Bồ Tát,
Thân Trí Sáng Vô Biên,
Khắp Pháp Giới Bồ Tát.
(lạy 1 lạy)
Nam Mô Cõi An Lạc Phương Tây,
Thanh Tịnh Đại Hải Chúng,
Thân Hai Nghiêm Phước Trí,
Khắp Pháp Giới Thánh Chúng.
(lạy 1 lạy)
4. Tán Lư Hương
Lư hương vừa ngún chiên đàn,
Khói thơm ngào ngạt muôn ngàn cõi xa.
Lòng con kính ngưỡng thiết tha,
Ngưỡng mong chư Phật thương mà chứng minh.
Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).
5. Bài Văn Phát Nguyện
Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo (3 lần)
Lạy đấng tam giới tôn,
Quy mạng mười phương Phật.
Nay con phát nguyện lớn,
Trì tụng Kinh Vô Lượng Thọ.
Trên đền bốn ơn nặng,
Dưới cứu khổ ba đường.
Nếu có ai thấy nghe,
Đều phát Bồ đề tâm.
Khi mãn báo thân này,
Sanh qua cõi Cực Lạc.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. (3 lần)
6. Kệ Khai Kinh
Phật Pháp rộng sâu rất nhiệm màu,
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu.
Nay con nghe thấy chuyên trì tụng,
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm màu…
Nam Mô Đại Thừa Vô Lượng Thọ Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).
7. Tụng Nội Dung Kinh
Kinh Vô Lượng Thọ Phẩm Thứ 6 – Phát Đại Thệ Nguyện
Pháp Tạng bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Cúi xin đức Thế Tôn thương xót nghe cho:
Con nếu chứng được Vô thượng Bồ Đề, thành Đẳng chánh giác rồi, cõi nước của Phật ở có đầy đủ vô lượng công đức trang nghiêm không thể nghĩ bàn, không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh các loại. Nếu có chúng sanh trong ba đường ác cho đến từ địa ngục sanh về cõi con, thọ giáo pháp của con, tất thành A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, không đọa lại ba đường ác nữa. Được như vậy con mới làm Phật. Nếu không được như nguyện, thề không thành Vô thượng Chánh giác.
1. Nguyện trong nước không có ác đạo.
2. Nguyện không đọa ba đường ác.
Khi con thành Phật, các chúng sanh ở mười phương thế giới sanh về cõi con, thân tướng sắc vàng ròng, đủ ba mươi hai tướng tốt, đủ tướng đại trượng phu, đoan nghiêm chánh trực, tất cả đồng một dung nhan, nếu có tốt xấu, hình thể sai biệt, thề không thành Chánh giác.
3. Nguyện thân có sắc vàng ròng.
4. Nguyện có ba mươi hai tướng tốt.
5. Nguyện cho thân không sai biệt.
Khi con thành Phật, các chúng sanh sanh về cõi con, biết rõ vô lượng kiếp trước. Thấy rõ những việc thiện ác đã làm. Nghe rõ sự việc khắp mười phương cả ba đời khứ lai hiện tại. Nếu không được như nguyện, thề không thành Chánh giác.
6. Nguyện có túc mạng thông.
7. Nguyện có thiên nhãn thông.
8. Nguyện có thiên nhĩ thông.
Khi con thành Phật, nếu có chúng sanh sanh về cõi con đều được tha tâm trí thông, biết được tâm niệm của chúng sanh xa cách trăm ngàn vạn ức cõi Phật, nếu không như vậy thề không thành Chánh giác.
9. Nguyện có tha tâm thông.
Khi con thành Phật, nếu có chúng sanh sanh về cõi con, được thần thông tự tại Ba la mật đa. Trong khoảnh khắc nếu không đi khắp trăm ngàn vạn ức cõi Phật để cúng dường, thề không thành Chánh giác.
10. Nguyện được thần túc thông.
11. Nguyện giáp khắp cúng dường chư Phật.
Khi con thành Phật, nếu có chúng sanh sanh về cõi con, xa lìa tâm phân biệt, các căn tịch tịnh, nếu chẳng an trụ trong định tụ đến đại Niết bàn, thề không thành Chánh giác.
12. Nguyện quyết định thành bậc Chánh giác.
Khi con thành Phật, có quang minh vô lượng chiếu khắp mười phương chư Phật, gấp ngàn vạn ức lần ánh sáng của nhựt nguyệt. Nếu có chúng sanh nào thấy hay chạm được ánh sáng của con thì được an lạc, khởi từ tâm làm điều lành, sau sanh về nước con. Nếu không được như vậy, thề không thành Chánh giác.
13. Nguyện ánh sáng vô lượng.
14. Nguyện chạm Quang minh được an lạc.
Khi con thành Phật sống lâu vô lượng. Vô số Thanh văn và trời người trong nước cũng có thọ mạng vô lượng. Giả như chúng sanh ở ba ngàn thế giới thành bậc Duyên giác trải qua trăm ngàn kiếp để tính đếm, nếu biết được số lượng ấy, thề không thành Chánh giác.
15. Nguyện thọ mạng vô lượng.
16. Nguyện Thanh văn vô số.
Khi con thành Phật, vô số chư Phật trong vô lượng cõi ở mười phương thế giới, nếu không khen ngợi tên con, nói công đức quốc độ của con, thề không thành Chánh giác.
17. Nguyện được chư Phật xưng tán.
Khi con thành Phật, chúng sanh trong mười phương nghe danh hiệu con, hết lòng tin tưởng, nếu có điều lành nào, tâm tâm hồi hướng nguyện sanh về cõi nước con, cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh, thề không thành Chánh giác. Ngoại trừ những kẻ phạm tội ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp.
18. Nguyện mười niệm tất vãng sanh.
Khi con thành Phật, chúng sanh khắp mười phương nghe danh hiệu con, phát tâm Bồ đề, tu các công hạnh, hành sáu Ba la mật, kiên cố không lùi, lại đem các căn lành hồi hướng nguyện sanh về cõi nước con, một lòng nghĩ đến con ngày đêm không dứt, đến khi mạng chung, con cùng Thánh chúng Bồ Tát liền đến tiếp đón, khoảnh khắc sanh về cõi con được Bất thối chuyển. Nếu không được như nguyện, thề không thành Chánh giác.
19. Nguyện nghe danh phát tâm.
20. Nguyện lâm chung tiếp dẫn.
Khi con thành Phật, chúng sanh trong mười phương nghe danh hiệu con, nhớ nghĩ nước con, phát tâm Bồ đề kiên cố không thối lui, trồng các căn lành, hết lòng hồi hướng sanh về Cực Lạc, đều được toại ý; nếu có ác nghiệp đời trước, nghe danh hiệu con hết lòng sám hối, làm các điều lành, lại trì kinh giữ giới nguyện sanh về nước con, mạng chung không lạc vào ba đường ác, liền sanh về nước con. Nếu không được như vậy, thề không thành Chánh giác.
21. Nguyện sám hối được vãng sanh.
Khi con thành Phật, nước con không có phụ nữ. Nếu có nữ nhơn nào nghe danh hiệu con, thanh tịnh tin tưởng, phát tâm Bồ đề, chán ghét nữ thân, mạng chung liền hóa thân nam tử sanh về nước con. Các loại chúng sanh ở thế giới mười phương, sanh về nước con đều hóa sanh trong hoa sen thất bảo. Nếu không được như vậy, thề không thành Chánh giác.
22. Nguyện trong nước không có người nữ.
23. Nguyện nhàm chán thân nữ, chuyển thân nam.
24. Nguyện Liên hoa hóa sanh.
Khi con thành Phật, chúng sanh khắp mười phương nghe danh hiệu con vui mừng tin tưởng, lễ bái qui mạng, đem tâm thanh tịnh tu hạnh Bồ tát, chư Thiên và người đời hết lòng tôn kính. Nếu nghe danh hiệu con, sau khi mạng chung được sanh vào nhà tôn quý, các căn đầy đủ. Thường tu thù thắng phạm hạnh. Nếu không được như vậy, thề không thành Chánh giác.
25. Nguyện Thiên Nhân lễ kính.
26. Nguyện nghe danh hiệu được phước.
27. Nguyện tu thù thắng hạnh.
Khi con thành Phật, nước con không có tên ba đường ác. Chúng sanh sanh vào nước con đều nhất tâm trụ vào chánh định. Không còn nhiệt não, tâm được mát mẻ, hưởng thọ an lạc, như Tỳ kheo lậu tận. Nếu còn khởi tưởng niệm tham đắm thân sau, thề không thành Chánh giác.
28. Nguyện nước không có tên “Bất thiện”.
29. Nguyện trụ Chánh định tụ.
30. Nguyện vui như Tỳ kheo dứt sạch các lậu.
31. Nguyện không tham chấp thân.
Khi con thành Phật, chúng sanh sanh vào nước con, được vô lượng căn lành, thân thể vững chắc như kim cang bất hoại, thân mình đều có hào quang chiếu sáng. Thành tựu hết thảy trí huệ, biện tài không cùng tận. Rộng nói các pháp bí yếu, giảng kinh thuyết pháp, tiếng như chuông vang. Nếu không được như vậy, thề không thành Chánh giác.
32. Nguyện được Na la diên thân.
33. Nguyện Quang minh trí huệ biện tài.
34. Nguyện khéo nói pháp yếu.
Khi con thành Phật, chúng sanh sanh vào nước con quyết chắc đến bậc Nhất Sanh Bổ Xứ. Trừ khi phát nguyện rộng lớn trở lại độ sanh, giáo hóa hữu tình, khuyến phát tín tâm, tu hạnh Bồ tát, hành nguyện Phổ Hiền, tuy sanh vào thế giới khác hằng lìa ác thú, hoặc thích thuyết pháp, nghe pháp, hay hiện thần túc, tùy ý tu tập thảy đều viên mãn. Nếu không được như vậy, thề không thành Chánh giác.
35. Nguyện nhất sanh bổ xứ.
36. Nguyện giáo hóa tùy ý.
Khi con thành Phật, chúng sanh sanh vào nước con, nếu muốn ăn uống, y phục hay các đồ cần dùng tùy ý liền đến. Nếu khởi niệm cúng dường mười phương chư Phật, liền được mãn nguyện. Nếu không được như vậy, thề không thành Chánh giác.
37. Nguyện y thực tự đến.
38. Nguyện ứng niệm thọ cúng.
Khi con thành Phật, vạn vật trong cõi nước con đều trang nghiêm thanh tịnh sáng chói, hình sắc thù thắng vi diệu không thể tả xiết, dù có thiên nhãn cũng không thể diễn tả hết vẻ đẹp về hình sắc, hình tướng lộng lẫy và số lượng chúng sanh ở đó v.v… Nếu không được như vậy, thề không thành Chánh giác.
39. Nguyện trang nghiêm vô tận.
Khi con thành Phật, vô lượng cây cảnh trong cõi nước con cao trăm ngàn do tuần. Cây làm đạo tràng cao bốn trăm vạn dặm. Các bậc Bồ Tát trung phẩm cũng có thể biết rõ. Nếu muốn thấy các cõi thanh tịnh trang nghiêm của chư Phật, tuy ở nơi cây báu cũng được thấy rõ vạn tượng như xem trong gương. Nếu không được như vậy, thề không thành Chánh giác.
40. Nguyện có vô lượng cây sắc báu.
41. Nguyện cây hiện cõi Phật.
Khi con thành Phật, cõi nước rộng rãi nghiêm tịnh, sáng chói như gương, chiếu khắp vô lượng vô số bất khả tư nghì thế giới chư Phật khắp mười phương, chúng sanh thấy rồi sanh tâm hi hữu. Nếu không được như vậy, thề không thành Chánh giác.
42. Nguyện chiếu suốt mười phương.
Khi con thành Phật, cùng tột dưới đất, trên đến hư không, tất cả vạn vật cung điện, lầu các, ao nước, hoa cây v.v… trong nước đều do vô lượng bảo hương hiệp thành, hương thơm xông khắp mười phương thế giới, chúng sanh ngửi được đều tu Phật hạnh. Nếu không được như vậy, thề không thành Chánh giác.
43. Nguyện hương báu xông khắp.
Khi con thành Phật, các bậc Bồ Tát trong mười phương cõi Phật, nghe danh con rồi đều được thanh tịnh giải thoát, Phổ đẳng Tam muội, các môn Tổng trì vào Tam ma địa cho đến thành Phật. Tuy ở trong định thường cúng dường vô lượng vô biên chư Phật vẫn không mất định ý. Nếu không được như vậy, thề không thành Chánh giác.
44. Nguyện phổ đẳng tam muội
45. Nguyện trong định cúng Phật.
Khi con thành Phật, các bậc Bồ Tát ở thế giới khác nghe danh con rồi chứng Ly sanh pháp, được các môn Đà la ni. Thanh tịnh hoan hỷ, an trụ trong thể tướng bình đẳng, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ trí đức mà không chứng được ba nhẫn, nơi Phật pháp mà không chứng được bậc Bất thối chuyển, thề không thành Chánh giác”.
46. Nguyện được môn Tổng trì.
47. Nguyện nghe danh đặng pháp nhẫn.
48. Nguyện hiện chứng quả bất thối chuyển.
8. Bát Nhã Tâm Kinh
Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ ấm giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận, vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo, vô trí diệt vô đắc.
Dĩ vô sở đắc, cố Bồ đề tát đỏa, y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật y Bát nhã Ba la mật đa, cố đắc A nậu đa la Tam miệu tam Bồ đề.
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị Đại thần chú, thị Đại minh chú, thị Vô thượng chú, thị Vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha – đọc câu này 3 lần.
9. Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú
Nam-mô a di đa bà dạ,
đa tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha.
A di rị đô bà tỳ,
A di rị đa, tất đam bà tỳ,
A di rị đa, tì ca lan đế,
A di rị đa, tì ca lan đa,
Dà di nị, dà dà na,
Chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (3 lần).
10. Tán Phật A Di Đà
Phật A Di Đà thân kim sắc,
Tướng tốt quang minh tự trang nghiêm.
Năm Tu Di uyển chuyển bạch hào,
Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc.
Trong hào quang hóa vô số Phật,
Vô số Bồ Tát hiện ở trong.
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh,
Chín phẩm sen vàng lên giải thoát.
Quy mạng lễ A Di Đà Phật,
Ở phương Tây thế giới an lành.
Con nay xin phát nguyện vãng sanh.
Cúi xin Đức Từ Bi tiếp độ.
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật.
Nam mô A Di Đà Phật (108, 1080 hay nhiều hơn)
11. Phát Nguyện Đảnh Lễ Phật A Di Đà, Cầu Vãng Sanh Cực Lạc Quốc
Kính Lạy Phật Di-Đà,
Con Nay Xin Phát Nguyện,
Thường Xuyên Đảnh Lễ Ngài,
Cho Đến Lúc Lâm Chung,
Thân Thể Không Đau Bệnh.
(1 lạy)
Kính Lạy Phật Di-Đà,
Con Nay Xin Phát Nguyện,
Thường Xuyên Đảnh Lễ Ngài,
Cho Đến Lúc Lâm Chung,
Tâm Hồn Không Hôn Mê.
(1 lạy)
Kính Lạy Phật Di-Đà,
Con Nay Xin Phát Nguyện,
Thường Xuyên Đảnh Lễ Ngài,
Cho Đến Lúc Lâm Chung,
Không Tham Đắm Ngũ Dục.
(1 lạy)
Kính Lạy Phật Di-Đà,
Con Nay Xin Phát Nguyện,
Thường Xuyên Đảnh Lễ Ngài,
Cho Đến Lúc Lâm Chung,
Tâm Niệm Phật Di-Đà.
(1 lạy)
Kính Lạy Phật Di-Đà,
Con Nay Xin Phát Nguyện,
Thường Xuyên Đảnh Lễ Ngài,
Cho Đến Lúc Lâm Chung,
Xả Ly Ta Bà Khổ.
(1 lạy)
Kính Lạy Phật Di-Đà,
Con Nay Xin Phát Nguyện,
Thường Xuyên Đảnh Lễ Ngài,
Cho Đến Lúc Lâm Chung,
Hân Nguyện Về Tịnh Độ.
(1 lạy)
Kính Lạy Phật Di-Đà,
Con Nay Xin Phát Nguyện,
Thường Xuyên Đảnh Lễ Ngài,
Cho Đến Lúc Lâm Chung,
Con Thấy Kim Thân Phật.
(1 lạy)
Kính Lạy Phật Di-Đà,
Con Nay Xin Phát Nguyện,
Thường Xuyên Đảnh Lễ Ngài,
Cho Đến Lúc Lâm Chung,
Phật Phóng Quang Nhiếp Độ.
(1 lạy)
Kính Lạy Phật Di-Đà,
Con Nay Xin Phát Nguyện,
Thường Xuyên Đảnh Lễ Ngài,
Cho Đến Lúc Lâm Chung,
Liên Hoa Con Hóa Sanh.
(1 lạy)
Kính Lạy Phật Di-Đà,
Con Nay Xin Phát Nguyện,
Thường Xuyên Đảnh Lễ Ngài,
Khi Vãng Sanh Tịnh Độ,
Hoa Nở Tâm Khai Ngộ.
(1 lạy)
Kính Lạy Phật Di-Đà,
Con Nay Xin Phát Nguyện,
Thường Xuyên Đảnh Lễ Ngài,
Khi Vãng Sanh Tịnh Độ,
Chứng Ngộ Pháp Vô Sanh.
(1 lạy)
Kính Lạy Phật Di-Đà,
Con Nay Xin Phát Nguyện,
Thường Xuyên Đảnh Lễ Ngài,
Khi Vãng Sanh Tịnh Độ,
Chóng Viên Thành Toàn Giác.
(1 lạy)
Nam Mô Pháp Giới Tạng Thân A-Di-Đà Phật (3 lần)
12. Phát Nguyện Vãng Sanh Tây Phương
Đệ tử chúng con hiện là phàm phu trong vòng sinh tử, tội chướng sâu nặng luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu bản nguyện công đức của Phật A Di Đà một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh, nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ phóng quang nhiếp thọ.
Đệ tử chúng con, chưa biết Phật thân tướng tốt quang minh, vẻ đẹp trang nghiêm nguyện Phật thị hiện cho con được thấy. Lại thấy tướng màu Quan Âm, Thế Chí các chúng Bồ Tát và thế giới kia thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh xin đều thấy rõ.
Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
Phật A Di Đà đến rước từ xa,
Quan Âm cam lồ rưới nơi đầu,
Thế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong một sát na lìa ngũ trược,
Khoảng tay co duỗi tới liên trì,
Khi hoa sen nở thấy Từ Tôn,
Nghe tiếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong liền ngộ Vô Sanh nhẫn,
Không rời an dưỡng lại Ta bà,
Khéo đem phương tiện lợi quần sanh,
Hãy lấy trần lao làm Phật sự.
Con nguyện như thế Phật chứng tri,
Kết cuộc về sau được thành tựu…
13. Hồi Hướng
Lạy Phật công đức thù thắng hạnh,
Vô biên thắng phước giai hồi hướng.
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh,
Tốc vãng vô lượng quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não,
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu.
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ,
Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.
Nguyện sinh Tây Phương Tịnh độ trung,
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu.
Hoa khai kiến Phật ngộ Vô sanh,
Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhất thiết,
Ngã đẳng dữ chúng sinh,
Giai cộng thành Phật đạo.
14. Phục Nguyện
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật Liên Tòa Chứng Minh.
Phục Nguyện, thượng chúc Phật nhật tăng huy pháp luân thường chuyển, phong điều vũ thuận, quốc thái dân an, thế giới hòa bình chúng sanh an lạc.
Đệ tử chúng con nguyện đem công đức này hồi hướng trang nghiêm Tây Phương Phật tịnh độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường, xin hồi hướng oan gia trái chủ trong nhiều đời nhiều kiếp, cũng như hiện tại, hữu hình và vô hình, nếu có ai thấy nghe đều phát tâm Bồ Đề, hết một báo thân này, sanh qua cõi Cực Lạc.
Đệ tử chúng con nguyện cầu Đức Phật A Di Đà chấn tích quang lâm phóng ngọc hào quang gia hộ đệ tử chúng con biết trước giờ lâm chung, thân không tật bệnh, tâm không hôn mê, nhất tâm niệm Phật, Phật và thánh chúng tay cầm đài vàng tiếp dẫn chúng con vãng sanh về Tây phương Cực Lạc.
Đệ tử chúng con nguyện Đức Quan Thế Âm Bồ Tát Thị Từ chấn tích quang lâm phóng ngọc hào quang hộ đệ tử chúng con cùng tất cả chúng sanh thân tâm thường an lạc, tật bệnh tiêu trừ căn lành tăng trưởng, phước huệ trang nghiêm, xuân đa các khánh, hạ bảo bình an, thu tống tam tai đông nghinh bách phúc, một hậu đắc Di Đà thọ ký.
Đệ tử chúng con nguyện Đức Phật A Di Đà thùy từ phóng ngọc hào quang, tiếp dẫn chư hương linh cửu huyền thất tổ thập nhị loại cô hồn ngạ quỷ hà sa, hữu vị vô danh, hữu danh vô vị nam nữ thương vong lai đáo Phật tiền văn kinh thính pháp tốc xả mê đồ siêu sanh tịnh độ. Phổ nguyện âm siêu dương thới pháp giới chúng sanh, tình dữ vô tình, đồng sanh Cực Lạc, đồng kiến Di Đà, đồng ngộ Vô Sanh. Đồng thành Phật Đạo. A DI ĐÀ PHẬT.
15. Tam Tự Quy Y
Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. (1 lạy)
Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ Kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lạy)
Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lạy)
Trích trong Kinh Vô Lượng Thọ – Bản Hán dịch: Ngài Hải Lục Cư – Việt dịch: HT Thích Đức Niệm – Cư sĩ Minh Chánh.
Hy vọng nghi thức tụng Kinh Vô Lượng Thọ Phẩm 6 này giúp quý Phật tử thực hành pháp môn Tịnh Độ một cách tinh tấn. Để hiểu sâu hơn về ý nghĩa và lợi ích của kinh điển, kính mời quý vị khám phá thêm tại chuyên mục Đạo phật.